"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị - Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Hiến pháp Việt Nam và những điều nên biết



Trước năm 1945, Việt Nam không có hiến pháp. Từ sau khi thành lập nhà nước cộng hòa đầu tiên, lịch sử Việt Nam ghi nhận 5 bản Hiến pháp đã được ra đời, trong các năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi vào năm 2001), 2013 (được sửa đổi vào năm 2013).




Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2014, và có 11 chương, 120 điều


Sau đây là những điểm quan trọng cần biết tại các chương của Hiến pháp Việt Nam





Chương 2 Hiến pháp có ghi lại những quyền được coi là quyền con người và quyền công dân tại Việt Nam. Trong đó, các quyền sau là những quyền nổi bật nhất:

  • quyền sống
  • quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đời sống riêng tư, chỗ ở
  • quyền tự do đi lại 
  • quyền tự do tín ngưỡng
  • quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình
  • quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm
....








Chương 8 nói Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân




Nguồn: ezlawblog

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Nguyễn Hưng Quốc: Xã hội dân sự và dân chủ

Hầu như mọi người đều đồng ý: dân chủ là một thể chế tốt nhất trong lịch sử, ít nhất cho đến lúc này. Tốt về phương diện đạo đức: Nó tôn trọng những giá trị căn bản và phổ quát của nhân loại, trong đó, quan trọng nhất là sự tự do, bình đẳng và nhân quyền. Tốt về phương diện kinh tế: Dân chủ phát huy sáng kiến và năng lực của mọi người vốn là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển và ổn định. Và tốt về phương diện chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại: được xây dựng trên nền tảng pháp quyền vững chắc, các quốc gia dân chủ vừa tránh được các cuộc bạo loạn trong nội bộ vừa tránh được các xung đột vũ trang giữa họ với nhau.

Ngay cả những nhà độc tài hiện nay dường như cũng không phản đối những điều vừa kể. Họ cũng nói đến dân chủ, cũng tự cho chế độ họ là dân chủ, dù là một kiểu dân chủ… khác. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, trước đây, họ vừa tuyên dương dân chủ vừa chủ trương chuyên chính vô sản; sau, tất cả đều đồng loạt từ bỏ khái niệm “chuyên chính” và chỉ nói đến dân chủ, dù là dân chủ…xã hội chủ nghĩa.

Ai cũng đồng ý với nhau như vậy. Tuy nhiên lại có một nghịch lý: trên thế giới, quá trình dân chủ hóa lại rất chậm chạp và đầy khúc khuỷu.

Năm 1991, trong cuốn The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century, Samuel P. Hungtington chia làn sóng dân chủ thành ba đợt: Đợt thứ nhất, mở đầu bằng cuộc cách mạng ở Mỹ vào năm 1776 và sau đó, cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, dẫn đến việc hình thành của gần 30 nền dân chủ. Đợt thứ hai diễn ra ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai: Ở đỉnh cao của nó, đầu thập niên 1960, có cả thảy 36 quốc gia được xem là dân chủ. Đợt thứ ba bắt đầu từ năm 1974, thoạt đầu, ở Bồ Đào Nha, sau, lan ra nhiều quốc gia khác vùng châu Mỹ La Tinh, sau nữa, châu Á (Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan), và cuối cùng, vào cuối thập niên 1980, các nước Đông Âu với sự sụp đổ toàn diện của chủ nghĩa Cộng sản. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nói đến đợt dân chủ hóa lần thứ tư bắt đầu với các cuộc cách mạng ở Trung Đông, lật đổ các chính quyền độc tài ở Tunisia, Ai Cập, Yemen, Libya, v.v..

Điều cần chú ý là: bên cạnh các đợt dân chủ hóa ấy, người ta còn ghi nhận những đợt thoái trào của dân chủ. Đầu thế kỷ 20, có lúc trên thế giới có đến 29 quốc gia được xem là dân chủ, thế nhưng, từ đầu thập niên 1920 đến đầu thập niên 1940, với sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, số lượng các nước dân chủ bị tuột xuống nhanh chóng, có lúc, chỉ còn khoảng 12. Trong đợt dân chủ hóa lần thứ hai cũng vậy. Ở cao điểm của nó, có 36 nước dân chủ; lúc thoái trào, từ đầu thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, chỉ còn 30. Rồi đợt thứ ba cũng có thoái trào: Ngay chính Nga, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản, dưới thời Vladimir Putin, lại trở thành độc tài. Và ở làn sóng dân chủ thứ tư, tuy chưa hẳn đã chấm dứt, sự thoái trào đã thấy rõ trong tình trạng bất ổn định ở Ai Cập và Libya.

Những làn sóng dân chủ làm giới quan sát vui mừng và phấn khởi bao nhiêu, những cuộc thoái trào càng làm cho họ hoang mang và lo lắng bấy nhiêu. Người ta thấy rõ: Con đường đến với dân chủ là một con đường hết sức gập ghềnh và đầy bất trắc. Chính vì thế, một câu hỏi được nhiều người đặt ra là: Làm thế nào để xây dựng dân chủ?

Nói đến việc xây dựng một chế độ dân chủ nói chung hay ở Việt Nam nói riêng, người ta hay nghĩ ngay đến một khía cạnh: bộ máy chính quyền; và một điều kiện: những người lãnh đạo trong bộ máy ấy phải được dân bầu một cách tự do và minh bạch.

Tuy nhiên thiết chế và bầu cử chỉ là hai khía cạnh của dân chủ, thậm chí, chỉ là hai khía cạnh ở mặt nổi. Tự bản thân chúng, cả hai khía cạnh ấy đều không bảo đảm được dân chủ. Thiết chế chỉ là phương tiện, với nó, người ta có thể nhắm đến những mục đích khác nhau, có những cách hành xử khác nhau, có khi hoàn toàn đi ngược lại dân chủ, hơn nữa, chà đạp lên dân chủ. Bầu cử cũng vậy. Không hiếm chính phủ được ra đời như kết quả của một cuộc bầu cử tự do, cuối cùng, kết thúc như một chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. Hitler là một ví dụ. Ở Việt Nam, chính phủ đầu tiên của ông Hồ Chí Minh năm 1946 cũng là kết quả của một cuộc bầu cử.

Thiết chế và bầu cử chỉ có thể song hành với dân chủ với điều kiện đầu tiên là chúng phải được xây dựng trên nền tảng, và được vận hành trên nguyên tắc, của một nền pháp quyền (rule of law) vững chắc. Pháp quyền đặt ra những giới hạn để bảo đảm thiết chế không bị lợi dụng và bầu cử không bị biến dạng, để người cầm quyền bị kiểm soát và do đó, biết tự kiềm chế, và để những người bị trị tiếp tục tin tưởng vào hệ thống, từ đó, tin tưởng lẫn nhau.

Nói như vậy cũng là nói, pháp quyền, thật ra, tự nó chưa đủ bảo đảm cho dân chủ. Pháp quyền chỉ là nguyên tắc và cái gọi là “pháp” (law) trong pháp quyền cũng chỉ là một văn kiện và chữ nghĩa, những thứ có thể được diễn dịch và ứng dụng theo nhiều cách khác nhau. Tuỳ nơi. Tuỳ người. Bởi vậy, cũng có thể nói, yếu tố quyết định trong việc xây dựng dân chủ chính là con người.

Nhưng không phải người nào cũng muốn và cũng có khả năng xây dựng dân chủ. Rõ ràng là có rất nhiều người không hề muốn có dân chủ: những nhà độc tài và những người ăn theo các nhà độc tài. Độc tài thì chỉ có một người hoặc một nhóm người, nhưng đám ăn theo độc tài thì có thể rất đông: Đó có thể là một giai cấp (ví dụ giai cấp quý tộc ngày xưa) hay một đảng (ví dụ đảng Nazi, phát xít hay Cộng sản). Những người không có khả năng xây dựng dân chủ thì lại càng nhiều: Đó là những kẻ có căn tính nô lệ hoặc vô cảm, hoàn toàn hờ hững với mọi chuyện, kể cả thân phận cũng như cuộc sống của mình và của cả cộng đồng.

Trong cuốn The Rise of Global Civil Society: Building Communities and Nations from the Bottom Up (Encounter Books, 2008), Don Eberly lặp đi lặp lại một câu nói mà tôi rất tâm đắc: “Dân chủ được làm cho những người dân chủ” (Democracy is made for democrats). Trong hai chục năm vừa qua, Mỹ đã bỏ công, bỏ tiền và bỏ cả xương máu với ý định mang dân chủ đến tặng cho Afghanistan và Iraq, nhưng ở cả hai nơi, sau các cuộc bầu cử khá tự do, dân chủ vẫn không, hoặc ít nhất, chưa bén rễ được.  Tại sao? Tại ở những nơi đó vẫn chưa có những người có văn hoá dân chủ.

Văn hoá dân chủ là văn hoá của các công dân (civic culture), của những người sống và hành xử như những công dân. Một cá nhân có thể là một cái gì độc lập, nhưng một công dân, tự bản chất, bao giờ cũng là một thành viên của một cộng đồng, chủ yếu là của một đất nước. Trong ý niệm công dân, do đó, đã có sẵn hai ý niệm khác: sự liên đới và trách nhiệm. Biểu hiện của hai ý niệm ấy là sự quan tâm đối với cái chung và hơn nữa, sự tham gia vào những vấn đề chung.

Xin lưu ý: công dân là một hiện tượng lịch sử khá mới. Xưa, chỉ có thần dân. Khái niệm công dân chỉ ra đời từ thời hiện đại. Có điều, trong thời hiện đại, không phải ở đâu người ta cũng tìm cách nuôi dưỡng hoặc phát triển những phẩm chất vốn gắn liền với ý niệm công dân. Chủ nghĩa thực dân bao giờ cũng tìm cách chia rẽ dân chúng các nước thuộc địa để họ không còn nghĩ đến cái chung; hoặc nếu nghĩ, chỉ thấy những cái chung ấy đều là những thứ đáng bị chối bỏ: chúng là di sản của tình trạng mọi rợ hoặc bán khai. Các chế độ độc tài theo thần quyền cũng phủ nhận tư cách công dân, và thay vào đó, họ chỉ vun bồi một nền văn hoá sùng kính và tuân phục, ở đó, chỉ có, trên cao, các sứ giả và dưới thấp là các tín đồ. Dưới các chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa cũng vậy, một mặt, với nguyên tắc “dân chủ tập trung”, người ta thâu tóm hết quyền hành vào tay một số người và đẩy tất cả những người còn lại vào thế ngoại cuộc; mặt khác, với chủ trương thần thánh hoá lãnh tụ, người ta biến cái “dân chủ tập trung” ấy thành một thứ siêu quyền lực, khống chế toàn bộ guồng máy lãnh đạo, và mọi công dân biến thành “thần dân” chỉ biết cúi đầu vâng dạ như xưa.

Trong văn hoá dân chủ, ngược lại, công dân luôn luôn cảm thấy mình là một thành viên của cả cộng đồng, mình chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng, và mình có quyền để thực hiện những điều được chia sẻ ấy. Ý thức dân chủ, trước hết, là ý thức về quyền; nhưng một ý thức về quyền đúng đắn và thực sự dân chủ bao giờ cũng gồm hai mặt: quyền của mình và quyền của người khác. Đối diện với hai loại quyền ấy, người ta vừa biết tranh đấu lại vừa biết đối thoại, thương thảo, nhân nhượng và thoả hiệp.

Một kiểu văn hoá dân chủ như thế không phải tự nhiên mà có.  Hai bài học lớn nhất Mỹ rút ra được sau khi lật đổ chính quyền Sadam Hussein ở Iraq là: Một, trong công cuộc xây dựng dân chủ cho một nước, việc thay đổi guồng máy cai trị chỉ là phần nhỏ; và hai, người ta không thể đem dân chủ từ nước này sang “trồng” vào một nước khác: Dân chủ chỉ có thể nảy nở từ bên trong.

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ luôn luôn có tham vọng gieo rắc dân chủ khắp nơi trên thế giới vì họ tin đó là lý tưởng lớn và chính đáng nhất, hơn nữa, đó cũng là phương cách tốt nhất để bảo vệ hoà bình trên thế giới. Tuy nhiên, Mỹ chỉ thành công được ở hai nơi: Nhật và Đức. Ở những nơi khác, họ đều thất bại. Vì không hợp… thổ nhưỡng.

Cái gọi là “thổ nhưỡng” ấy chính là văn hoá. Để xây dựng dân chủ, như vậy, trước hết, là xây dựng văn hoá dân chủ.

Văn hoá dân chủ được xây dựng bằng cách nào? Một trong những cách chính được ghi nhận trong suốt mấy chục năm nay là: xây dựng xã hội dân sự (civil society).

Nhận định về cuộc Cách mạng Hoa hồng tại Georgia, Tổng thống Mikheil Saakashvili cho đó là đóng góp của xã hội dân sự tại nước ông. Sự thành công của Nam Phi trong việc chuyển tiếp từ chế độ phân biệt chủng tộc sang một chế độ dân chủ cũng được xem là một thành tích của xã hội dân sự. Fareed Zakaria đề nghị chính phủ Mỹ, khi hoạch định chính sách ngoại giao, nên xem việc thay đổi chính phủ như là phó sản (byproduct) của xã hội dân sự. Liên Hiệp Quốc xem xã hội dân sự đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng dân chủ.

Dĩ nhiên, tự nó, xã hội dân sự, dù phổ biến và mạnh mẽ đến mấy, cũng không thể làm lật đổ được một chế độ độc tài. Nhưng không có xã hội dân sự, không có một nền dân chủ nào có thể được xây dựng và vững mạnh cả.

Nguyễn Hưng Quốc
Nguồn: VOA

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Sùng bái - mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ

Trong thời Cổ Đại, chế độ nô lệ được thiết lập bằng bạo lực. Kẻ mạnh tạo ra quanh mình một nhóm những kẻ trung thành với nó, dùng bạo lực bắt những thành viên khác trong quần thể phải làm nô lệ cho chúng. Kẻ nào chống lại sẽ phải chết.

Từ thời Trung Đại đến nay, trên danh nghĩa không còn chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, ở nơi này nơi khác, bằng cách này hay cách khác, các nhà nước phong kiến và nửa phong kiến thực chất vẫn tạo ra trong lòng nó những kiểu chế độ nô lệ “không toàn phần”. Đặc biệt, về tư tưởng, đại đa số quần chúng thực chất vẫn phải sống trong chế độ nô lệ. Lợi dụng sự dốt nát của quần chúng – do chưa có điều kiện học tập, nghiên cứu và cũng do chính sách ngu dân – giới cầm quyền nhồi sọ con người đến mức họ có thể coi những điều vô lý và ngu xuẩn nhất như chân lý tuyệt đối. Trong số những “chân lý” khốn nạn đó có những tín điều như: vua là con trời (hay lãnh tụ là thánh) và mọi thứ ta được hưởng đều là của vua ban (hay lãnh tụ đem đến cho).

Sở dĩ kiểu nô dịch như vậy tồn tại được hàng ngàn năm là vì bên cạnh sự áp đặt ách cai trị và tư tưởng, nó còn được duy trì bởi chính tâm lý quần chúng, một thứ tâm lý của kẻ thiếu bản lĩnh và thiếu ý thức về giá trị cá nhân: tâm lý thích dựa bóng thần tượng, và do đó rất thích (cùng nhau) xây dựng thần tượng.

Vì sao con người thích thần tượng?
 

Có vài lý do để người ta thích thần tượng. Thứ nhất, do cảm thấy thần tượng là người che chở và đem lại quyền lợi cho mình. Điều này có khi đúng, có khi là ảo tưởng. Lãnh tụ của một cuộc khởi nghĩa chống lại một chế độ hà khắc và thối nát là nhân vật chủ chốt tạo ra sự thay đổi (ít ra ban đầu là theo chiều hướng tốt lên) cho cuộc sống của hàng vạn, hàng triệu người. Người đứng đầu một quốc gia, trước sự xâm lăng của một thế lực ngoại bang độc ác, nếu có bản lĩnh, có thể là ngọn cờ để tập hợp mọi lực lượng chống xâm lăng. Một nhà cải cách thông minh có thể định hướng cho xã hội phát triển nhanh… (Tuy nhiên, đừng bao giờ quên rằng đó mới là sự định hướng; kết quả của sự thay đổi chỉ có thể đạt được bằng mồ hôi xương máu của hàng triệu người!) Nhưng trong rất nhiều trường hợp, đông đảo quần chúng ngộ nhận kẻ bóc lột mình là ân nhân. Thứ hai, người ta bám vào những lời giáo huấn của thần tượng như những chân lý để khỏi phải động não (mặc dù chẳng mấy khi làm theo). Và thứ ba, khi có thần tượng, người ta cảm thấy chính mình dường như cao giá hơn.

Với sự châm biếm nhẹ nhàng, câu ca dao cổ nói:

“Một ngày tựa mạn thuyền rồng
Còn hơn mãn kiếp nằm trong thuyền chài.”


Thuyền rồng là quyền lực, cũng là sự sang trọng. Người “ở trong thuyền rồng” là thần tượng. Càng gần người đó, người ta càng cảm thấy mình danh giá, có quyền ngẩng cao đầu trước những kẻ đứng xa thuyền rồng hơn.

Hơn thế, chưa cần chạm được vào thần tượng hay được thần tượng vấn an, chỉ cần được nói về thần tượng thôi, người ta cũng cảm thấy rưng rưng xúc động vì hạnh phúc rồi. Đó, chi tiết này trong cuộc sống của thần tượng của tôi, liệu đã mấy ai biết. Thế mà tôi biết đấy nhé. Và tôi hiểu được giá trị của chi tiết đó. Tôi biết nói về nó. Tôi có thể làm cho mọi người hiểu thêm được vĩ nhân của chúng ta (và so với người chung quanh thì tôi được quyền “sở hữu” vĩ nhân nhiều hơn chút ít). Hiểu biết về vĩ nhân cũng là một kiểu tri thức, và ở chỗ này, tôi hơn các anh đấy nhé!

Thần tượng được xây dựng như thế nào?

Khi xảy ra một sự kiện gắn với tên tuổi một người nổi tiếng, ví dụ kỷ niệm một trận chiến mà người đó là chỉ huy bên thắng cuộc, người ta, đặc biệt là giới truyền thông, bắt đầu thi nhau nói thật nhiều, bằng những cách mà người ta cố gắng làm cho hay hơn, độc đáo hơn của những kẻ nói khác, về người nổi tiếng đó. Chỉ cần một ngày mà toàn bộ giới truyền thông đều thi nhau ca ngợi thần tượng, cuối ngày hôm đó cảm nhận của người nghe/xem về sự vĩ đại của thần tượng sẽ rõ nét hơn hẳn ngày hôm trước.

Cứ thế, nếu năm nào người ta cũng nói về người đó hàng tháng ròng trên phương tiện truyền thông, và kháo nhau tại gia đình, trên bàn nhậu ở quán xá, một đồn thổi thành mười, mười đồn thổi thành trăm, tiếng tăm của nhân vật đó tăng theo cấp số nhân… , thì sau ba-bốn mươi năm, người ta có thể biến một chính khách ban đầu có ít nhiều nổi trội thành một vĩ nhân hạng một của nhân loại. Người này thấy người khác ca ngợi mà mình chưa góp lời được thì cũng cố ca ngợi vài câu, nếu biết được một vài chi tiết cụ thể về con người đó thì càng hãnh diện. Ít có người nào tuy biết chút ít nhưng vì thấy mọi người ca ngợi quá nhiều rồi nên thấy mình nói thêm cũng thừa và nhiêu khê.

Đặc biệt, khi có một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài ca ngợi thì tốc độ vĩ nhân hóa đối với nhân vật đó có thể vượt lên trên mọi sự tưởng tượng.

“Mày nói thế nào ấy chứ… Cụ được bao nhiêu người ở các nước văn minh ca ngợi cơ mà. Chính khách A ở nước X nói thế này. Phóng viên B ở nước Y nói thế kia…”

Một yếu tố rất thuận lợi cho việc thần tượng hóa một nhân vật chính là tâm lý thích thần tượng của người đời, thậm chí đơn giản là tâm lý ngưỡng mộ kẻ có quyền thế, đặc biệt khi người ta chưa va chạm với kẻ cường quyền. Bạn được một người lạ ôm chầm lấy trong lần gặp mặt đầu tiên, bạn sẽ thấy bình thường. Nhưng nếu người ôm bạn là một yếu nhân của một quốc gia, thì dù người đó không có gì thật sự kiệt xuất, bạn cũng sẽ thấy xúc động và nhớ mãi cái ôm đó. Sự việc như vậy có thể định hướng nhận thức về cường quyền của bạn cho toàn bộ cuộc đời. Cho nên, về mặt nhận thức, thật may mắn cho những ai thời trẻ không một lần được một vị lãnh tụ nào ôm vai bá cổ. Tôi đã chứng kiến một số nhà khoa học tài ba hết lời ca ngợi một vài hành vi rất bình thường của một chính khách có hạng, coi đó như những quyết sách cực kỳ thông minh, thể hiện một trí tuệ siêu đẳng.

Với tâm lý của đa số quần chúng như thế, việc xây dựng thần tượng càng dễ dàng, nếu giới cầm quyền thi hành một chính sách nhằm thần thánh hóa lãnh tụ. Hãy nhớ: một dân tộc văn minh bậc nhất như dân tộc Đức cũng đã từng phát cuồng phát dại vì Adolf Hitler. Nếu giả dụ tài năng của y cũng chỉ như y sẵn có, nhưng y bớt ngông cuồng chút ít, đừng tấn công Liên Xô, dừng tàn sát dân Do Thái, và thỉnh thoảng y ôm chầm lấy một vài phóng viên hay chính khách nước ngoài, thì y sẽ được xem là một trong những lãnh tụ vĩ đại của nhân loại. Bạn có thể nói: thì chính vì y không có được cái đó nên y mới không vĩ đại như một vài lãnh tụ của các dân tộc khác? Đúng vậy, nhưng đòi hỏi đó cũng có gì cao siêu lắm đâu, và làm được điều đó đâu cần phải là một thiên tài?

Và hãy nhớ lại: hàng triệu người Bắc Hàn đã và đang tin rằng cha con ông cháu họ Kim là những lãnh tụ vĩ đại. Hãy nhớ: “Gangnam Style” đang làm hàng trăm triệu người phát rồ. Và nếu có “chiến lược” quảng cáo hợp lý, khiêm tốn hơn chút ít, đồng thời đừng dùng một người “tâng” thô thiển như vị giáo sư nọ, thì Huyền Chíp cũng đã có thể trở thành thần tượng của hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam…

Tâm lý đám đông có thể làm nên những điều ghê gớm. Đặc biệt, khi nó được một tầng lớp có thế lực khéo léo lợi dụng thì nó có thể tạo ra những biến chuyển long trời lở đất. Đám người sùng bái một thần tượng có thể nghiền nát bất cứ nhóm người nào dám nói những điều không hay về thần tượng của họ.

Sùng bái – mảnh đất tốt cho chế độ nô lệ

Một khi người ta tôn thờ một thần tượng, hầu hết là suốt đời người ta sẽ trung thành với thần tượng đó, và không bao giờ đặt ra câu hỏi: Liệu ở góc độ này hay góc độ kia, vị thần tượng của mình có đúng hay không. Dưới chế độ phong kiến, chỉ cần hé răng hỏi liệu vua có sai không đã bị xử trảm rồi. Ở các nước cựu cộng sản, tình trạng cũng không khá hơn là mấy. Tại Liên Xô, ngay cả khi Stalin đã chết thì Khruschëv và một vài ủy viên bộ chính trị khác phải vất vả lắm mới tiến hành được khá thành công cuộc chiến chống lại được tệ sùng bái cá nhân Stalin, và nhiều lúc ông ta đã ở trong tình trạng nguy hiểm cả đến tính mạng. Ở hầu hết các quốc gia độc tài hay độc đảng khác, việc huyền thoại hóa lãnh tụ cũng là cản trở đáng sợ, làm cho tiến trình dân chủ hóa phải chịu biết bao hy sinh mất mát đau đớn. Nhà cầm quyền nắm được cái “thóp” đó, nên họ thường xuyên tiến hành và “mồi” cho quần chúng tham gia xây dựng và “bồi đắp” cho thần tượng. 

Việc trung thành với thần tượng gần như đồng nghĩa với việc trung thành với chế độ mà thần tượng đó đã tham gia dựng nên. Vì vậy, những ai có ý thức vươn tới tự do, hãy đừng mắc mưu những kẻ muốn xây dựng thần tượng để duy trì chế độ.

Một người có công với dân tộc hay nhân loại cần phải được ghi nhận và tôn vinh. Nhưng chỉ nên làm việc đó ở mức độ vừa phải và xứng đáng. Việc ngày nào cũng ra rả ca ngợi, thường xuyên tổ chức hội thảo, tưởng niệm,… cuối cùng chỉ góp phần làm cho xã hội đi thụt lùi, kéo dài sự nô dịch.

Đức Phật Gautama (Thích Ca Mâu Ni) – người mà ngày càng được nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà bác học thừa nhận là có tư tưởng cao siêu nhất và cũng đúng đắn nhất – đã từng dạy: “Con người phải là chỗ dựa của chính mình. Chớ tìm nơi trú ẩn ở chỗ khác.”

Nguyễn Trần Sâm

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Những suy nghĩ vụn vặt về đồng tiền & quốc gia

Đã từ khá lâu rồi tôi không còn nhận lương bằng tiền mặt. Hàng tháng, công ty đều đặn chuyển vào tài khoản cá nhân của tôi số tiền lương theo đúng như hợp đồng lao động đã ký kết sau khi trừ các khoản thuế theo quy định. Nếu ở Mỹ, tôi được xem như một công dân tốt vì hàng tháng đều đặn đóng góp một khoản đáng kể vào ngân sách quốc gia. Số tiền ấy, ý tôi muốn nói đến số tiền thuế thu nhập cá nhân hàng tháng, được dành để làm gì ? Về nguyên tắc, người đóng thuế ở Mỹ có quyền được biết số tiền ấy được chi dùng như thế nào, các khoản chi ra sao, để trả lương cho các viên chức chính phủ, chi phúc lợi xã hội, chi cho quốc phòng…có trăm thứ phải liệt kê đường hoàng. Quốc hội, đại diện cho những người đóng thuế, xem xét thông qua các khoản chi này: ngân sách hàng năm. Quốc hội thông qua, nhân viên chính phủ được trả lương. Quốc hội không thông qua, chính phủ ngừng hoạt động. Ngày hôm qua, chính phủ Mỹ ngừng hoạt động một phần. Lý do rất đơn giản: người đóng thuế không hài lòng với các khoản chi vô tội vạ, vung tay quá trán, không đúng mục đích…Nôm na cái chuyện xảy ra ở bên Mỹ nó như vậy. Việt Nam, lẽ tất nhiên, đừng mơ nhé. Đóng thuế thì cứ việc đóng thuế, chi bao nhiêu tiền vốn việc của nhà quan, không mượn người đóng thuế phải suy nghĩ.

Người nước ngoài đến Việt Nam thường kinh ngạc về nhiều thứ. Điều thứ nhất, ngay khi ra khỏi sân bay: giao thông hỗn loạn chẳng theo một trật tự nào cả. Nhiều người nước ngoài nói: “Viet Nam, country of motorbikes”. Điều tiếp theo, đồng tiền Việt Nam cũng gây cho họ ngạc nhiên không kém: nhiều loại tiền giấy khác nhau và rất nhiều số không (số 0). Họ nói: “Viet Nam, country of zeros”. Đồng Việt Nam của mình, để xem nào, chính thức thì có tờ 200 đồng, tờ 500 đồng, tờ 1000 đồng, tờ 2000 đồng, tờ 5000 đồng, tờ 10000 đồng, tờ 20000 đồng, tờ 50000 đồng, tờ 100000 đồng, tờ 200000 đồng và tờ 500000 đồng. Những người có hơi khỏe có thể đếm hết những tờ tiền của chúng ta. Thỉnh thoảng tôi gặp vài người nước ngoài, khi có việc phải thanh toán tiền cà phê hay cho một bữa ăn chẳng hạn, họ lúng ta lúng tung đếm những số không (số 0). Vài người có tính hiếu kỳ, tìm đổi tờ 500000 đồng mang về nước. Hỏi để làm gì ? Họ trả lời: “để tao làm vật chứng khi về nước, không thôi người ta bảo tao xạo”. Ừ.,trên qủa đất này chỉ có vài nước tin được chuyện này mà không cần vật chứng. Toàn những nước có chỉ số hạnh phúc hàng đầu thế giới cả. Hóa ra chuyện chỉ số hạnh phúc mà có dạo dân tình xôn xao lại liên quan đến mệnh giá đồng tiền. Mệnh giá càng cao, chỉ số hạnh phúc càng ngất ngưỡng. 

Dạ vâng.,em đây đã hiểu.

Quay trở lại chuyện đồng tiền (bank notes). Tất cả những tờ tiền giấy Việt Nam Đồng (tiền xèng hình như không còn lưu hành) đều in hình ông Cụ. Khuôn mặt Cụ hiền từ, mắt sáng, râu dài. Hình như Cụ nhìn mọi người và cười mỉm. Cười vì lý do gì, tôi đây không nghĩ đến việc đó. Lúc trước, ý tôi muốn nói hồi chưa sử dụng giấy polyme, đồng tiền của mình chất lượng không được tốt, thường nhăn nheo dúm dó. Bây giờ chất lượng có khá hơn nhưng so với những tờ tiền của các nước khác thì không so sánh được. Về chất lượng giấy, hoa văn, hình ảnh trên tờ tiền, tôi thích tờ tiền Mỹ hơn các tờ tiền nước khác. Tôi cũng thích cả cái câu được in trên đồng đô la Mỹ: “In God, we trust”. Dân tộc nào còn tin ở Thượng Đế thì Thượng Đế hẳn nhiên phù hộ cho họ. Tất nhiên, nếu ta còn tin vào Thượng Đế và Thượng Đế phải còn sống thì mới phù hộ được. Tôi không thích tờ đô Mỹ ở một điểm: hình mấy ông tổng thống Mỹ được in ở trên đó. Nước Mỹ có nhiều chuyện hay hơn nhiều chứ không chỉ mấy ông tổng thống. Nếu tôi ở vị trí giám đốc cục dự trữ liên bang, tôi cho in hình John D. Rockerfeller, hình Henry Ford, hình Thomas Edison hoặc Bill Gates, Steve Jobs, hoặc Mac Zuckerberg cho nó thời thượng. Như thế, hình ảnh nước Mỹ sẽ được nâng lên một tầm cao mới, đại diện cho nhiều giá trị Mỹ hơn. Tất nhiên, bạn có thể đề nghị in logo của Coca Cola, Nike, Microsoft hoặc Disneyland chẳng hạn.

Chẳng có gì điên rồ ở nước Mỹ.

Tôi thích nước Nhật. Không.,phải nói tôi mê nước Nhật và văn hóa của người Nhật Bản thì đúng hơn. Nước Nhật có hoa anh đào này, nước Nhật có lá phong đỏ này, nước Nhật có sushi này…nước Nhật có rất nhiều thứ làm người ta phải nhớ đến. Nhiều bạn trẻ Việt Nam chúng ta rất thích đọc các tác phẩm văn học Nhật Bản. Nổi tiếng và nóng hổi nhất bây giờ phải kể đến Haruki Murakami. Nhưng nền văn học lừng danh của Nhật Bản không chỉ có chừng đó cái tên. Những tên tuỗi lẫy lừng thế giới hiện đại phải kể đến có Natsume Soseki, Yasunari Kawabata, Dazai Osamu…Lùi về quá khứ, Nhật Bản tự hào với những nữ sĩ Ono no Komachi, Murasaki Shikibu, Higuchi Ichiyo. Ai đã từng đọc qua những gì họ viết đều không thể không mê đắm. Nước Nhật được tôn trọng không chỉ vì họ có một nền kinh tế hùng mạnh mà còn bởi họ có một nền văn hóa thật sự tinh hoa được gầy dựng bởi những tên tuổi thuộc tầm trên của nhân loại. Để tưởng nhớ đến họ, nước Nhật đã cho in hình của 04 nhà văn học lên đồng Yên của mình: nhà văn Natsume Soseki và 03 nữ sĩ lừng danh Ono no Komachi, Murasaki Shikibu, Higuchi Ichiyo. Một người khác, sư biểu của nước Nhật hiện đại, Voltaire của nước Nhật hiện đại- Yukichi Fukuzawa được ghi nhớ trên tờ 10000 Yen. Người Nhật rất mực tôn trọng Nhật Hoàng. Nhưng Nhật Hoàng vẫn không có chỗ nơi đồng tiền quốc gia. Viễn vông. Nếu có thể, tôi muốn tưởng nhớ các nữ sĩ của chúng ta Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm theo cùng một cách như vậy. Nếu phải in nhiều loại mệnh giá, tôi sẽ thêm các nhà văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Nếu còn chỗ thì trong danh sách chờ sẽ thêm các nhà quân sự như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo chẳng hạn.

Buồn. Tôi không thể.

Việt Nam, nếu xét về mặt lãnh thổ địa lý và theo sách vở, kéo dài từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau. Nghe đồn, phía Bắc đã không còn được như sách vở đã nêu, phía Nam thì chúng ta đã chính thức hoàn tất cắm mốc biên giới với Campuchia; phía Đông mặt biển thì đang tranh chấp căng thẳng mà e rằng phần nhiều ta thua; phía Tây thì hồi đó giờ không thay đổi. Nhưng biên giới của một quốc gia liệu chỉ chừng đó? Nghĩ về nước Mỹ. Có người hỏi một người Mỹ: “nước Mỹ rộng bao nhiêu?”. Người Mỹ trả lời: “biên giới nước Mỹ kéo dài đến nơi nào người ta sử dụng đồng đô la Mỹ”. Hiện thực. Đồng Việt Nam chỉ có giá trị trong lãnh thổ Việt Nam. Mang ra nước ngoài, nó không có giá trị chuyển đổi. Về mặt này, chúng ta thua cả nước Lào nhỏ bé. Và tất nhiên, thua xa đồng Bath Thái, đồng ringgit Mã Lai, đồng đô la Singapore. Tôi thường được cử đi công tác nước ngoài và đã từng đi khá nhiều nước. Tôi chưa thấy nước nào chấp nhận sử dụng tiền đồng Việt Nam.

Thường nghe nói, nước ta có 4000 (bốn ngàn) năm văn hiến. Trên đồng tiền Việt Nam tôi không thấy hình ảnh nhà văn học, nhà văn hóa, nhà chính trị, nhà quân sự nào ngoài ông Cụ cả. Tôi thích đồng tiền của chúng ta theo một kiểu khác hơn cái kiểu hiện nay. Bỏ qua chuyện thần thánh hóa lịch sử hay lịch sử hóa thần thánh, tôi nghi ngờ 4000 năm ấy.

Chúng ta chỉ có văn hiến từ thời ông Cụ chăng?

Hỏi mà không trả lời.

Sài Gòn 03/10/2013
Đặng Ngữ

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Trí thức nửa mùa

Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa.

Theo tôi tầng lớp trí thức nửa mùa được hình thành từ một kiểu người đặc biệt và tương đối phổ biến. Trước hết đấy là người có học, có văn hóa, lại thường giữ chức vụ chứng tỏ những phẩm chất đó của anh ta. Nhưng nếu tiếp xúc lâu ta sẽ thấy: trình độ học vấn, kiến thức của anh ta không nhiều, nhu cầu văn hóa cũng thiếu hụt. Thực chất, dù có mang một vẻ hào nhoáng trí thức bên ngoài thì đấy cũng chỉ là một “kẻ thất phu” mà thôi.

Vâng, như một người trí thức, dĩ nhiên là anh ta quan tâm đến công việc xã hội. Tầm hiểu biết của anh ta dường như cũng vượt ra khỏi các nhu cầu và tính toán cá nhân nữa. Thế gọi là tầm hiểu biết. Thế gọi là có quan điểm về những chuyện đang xảy ra xung quanh! Thường là chỉ ở mức tán nhảm của mấy gã chợ trời mà thôi. Không cao hơn cũng không sâu hơn một tí nào.Một đặc điểm nữa - cũng là đặc điểm phân biệt anh ta với người trí thức chân chính- hoàn toàn không biết tư duy độc lập về các đề tài xã hội. Không, tư tưởng thì có thể có trong đầu, nhiều nữa là đằng khác, nhưng tất cả đều không phải của mình, tất cả đều là học mót được. Thái độ thuần phục giữ vai trò chủ đạo trong giới trí thức nửa mùa, đấy là quan điểm thịnh hành chung cho cả giai tầng này. Họ theo nó một cách tự tin vì những người này không thể tự nghĩ ra được quan điểm nào khác để thay thế cho nó. Tạo ra thái độ thuần phục là một việc đơn giản. Giới trí thức nửa mùa có đặc điểm là bao giờ cũng phải có thần tượng, những người có uy tín, những nhân vật để mà tôn sùng. Trong nước Nga xã hội chủ nghĩa thời gian qua, khi mà giới trí thức nửa mùa hình thành và phát triển, thì thần tượng của họ thường là những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và văn học- những người tích cực về mặt xã hội, có tinh thần phê phán- tranh luận về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa lĩnh hội quan điểm về hiện thực xung quanh từ những người như thế.

Một đặc điểm nữa của giới trí thức nửa mùa: thái độ hung hăng khi bàn về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa cho rằng mình là giai tầng đứng trên “quần chúng” và nói chung là đứng trên tất cả mọi thứ khác nữa. Giai tầng này có thói kiêu ngạo tập thể đặc thù và rất mạnh. Từ lâu họ đã tin tưởng rằng chỉ cần giao cho họ- giao cho những người đại diện của họ- quyền lực là mọi tai họa của đất nước sẽ được giải quyết ngay lập tức. Chứ còn gì nữa: họ chẳng phải là người truyền bá kiến thức đấy ư? Chẳng phải là những người có học nhất và thông minh nhất đang đứng trong đội ngũ của họ đấy ư?

Xin ghi nhận một tính chất nữa của giới trí thức nửa mùa: không chịu “tu thân’, đấy là nói theo cách ngày xưa. Không chịu đọc bất cứ một cái gì nghiêm túc, không chịu suy nghĩ một cách rốt ráo về bất cứ đề tài nào. Thường thì công việc tư duy độc lập được thay thế bằng việc nghe lỏm ý kiến và đánh giá của các nhân vật có uy tín và tuân theo một cách vô điều kiện. Có lẽ, ít nhất là một phần, sự lười biếng và thụ động về trí tuệ như thế là do giới trí thức nửa mùa thực sự tin rằng mình đã là trung tâm của kiến thức rồi. Nếu không cần cố gắng mà vẫn là trung tâm thì cố gắng để làm gì?

Cuối cùng, trí thức nửa mùa còn có đặc điểm nữa là tự ái về chính trị, một đặc điểm đương nhiên một khi người ta đã đánh giá mình cao đến như thế. Hóa ra là thế này: chúng tôi biết hết, chúng tôi có thể làm được tất- thế mà chúng tôi bị gạt ra khỏi quyền lực, ở đó chỉ toàn các “quan chức”, “toàn bọn quan liêu ngu dốt”, “tư duy hạn chế”. Đánh giá thấp về người khác và đánh giá quá cao về chính mình đã tạo ra thái độ tự ái về chính trị như một tâm trạng bền vững “nội tại” của giai tầng này. Đau đớn và phẫn nộ là thái độ thường trực của giai tầng đó.

Như vậy là trí thức nửa mùa chỉ là một kẻ giả danh trí thức. Hắn dùng bằng cấp, chức vụ và phô trương thái độ quan tâm đối với các vấn đề xã hội để đóng giả. Hắn đóng giả cả cách giải trí, cả thói đam mê mang tính phô trương về tất cả những gì gọi là “văn hóa” nữa. Đây hóa ra là chỗ dễ phân biệt trí thức nửa mùa nhất.

Thí dụ như trí thức nửa mùa lũ lượt đi nghe hòa nhạc trong nhạc viện. Đương nhiên là họ đặc biệt thèm khát được có mặt tại những buổi biểu diễn được mọi người chờ đợi- hiện diện tại những buổi biểu diễn của những diễn viên ngoại quốc hay nhạc sĩ tài danh. Nhưng sẽ thật thú vị nếu quan sát thái độ của đám trí thức nửa mùa này suốt buổi hòa nhạc đó. Họ cảm thấy cực kỳ chán nản! Đâu đâu cũng chỉ thấy những bộ mặt vô cảm, những ánh mắt đảo khắp khán phòng. Nhưng sau khi kết thúc thì đám đó lại nhiệt liệt vỗ tay, tỏ vẻ ngưỡng mộ, tôn kính diễn viên (nhạc sĩ). Có thể thấy bức tranh tương tự như thế trong một buổi triển lãm nghệ thuật có uy tín nào đó. Xếp hàng thì chen nhau, trong phòng thì uể oải, còn khi kết thúc thì lại tỏ ra ngưỡng mộ.

Xin đưa ra một phác thảo nữa- về khát vọng (giả tạo) của giới trí thức nửa mùa trong việc tìm hiểu hiện tình, nhu cầu và đặc điểm của đất nước. Nói rằng đấy là việc quan trọng thì trí thức nửa mùa lúc nào cũng sẵn sàng. Nhưng làm việc một cách nghiêm túc thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Thí dụ: cuối những năm 1980 có quyết định in toàn bộ tác phẩm của V. Kliuchevski (1) và S.Solovjov (2), hai nhà sử học lớn nhất của nước Nga trước cách mạng. Lạy Chúa tôi, tầng lớp trí thức nửa mùa đã bị kích động đến mức nào! Họ đã tỏ ra hân hoan, tuy có hơi sớm, đối với các tác giả, đặc biệt là đối với Kliuchevski, đến mức nào. Vì họ đã nghe nói ở đâu đó: đây là một nhà tư tưởng đặc biệt, một người hiểu rõ quá khứ của nước Nga. Thế là giới trí thức nửa mùa tìm mọi cách đăng ký mua. Mua bán trao tay, còn bọn đầu cơ thì hét giá đến 300 thậm chí 400 rub, một khoản tiền lớn thời đó. Mua được- rồi sao? Trong hàng chục người đã đăng ký (tất cả đều là những trí thức cả về học vấn lẫn địa vị, một số còn là những nhà hoạt động văn hóa nữa) tôi chưa thấy một người nào đọc! chưa một người nào! Mua về, đặt lên chỗ dễ thấy nhất- cho mọi người nhìn- thế là hết. Họ hết sức tự hào vì đã mua được những trước tác vĩ đại như thế. Lịch sử thì họ đã và vẫn đọc, nhưng không phải là thứ “nặng” như thế, chỉ là những cuốn sách phổ thông mà thôi.

Độc giả có thể thắc mắc: đấy có phải là một giai tầng không? Có phải là một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội không? Có thể đấy chỉ đơn giản là những người có học vấn trung bình mà ở đâu, đất nước nào, xã hội nào chả có? Đúng thế, ở đâu cũng có. Nhưng ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XX họ đã tạo thành một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội. Họ không còn là những cá nhân trôi nổi trong xã hội nữa. Tại sao?

Thứ nhất, họ đông đảo đến mức kinh ngạc. Lý do, theo tôi, là sự vội vã trong việc đào tạo hàng loạt, cụ thể là việc phát triển một cách ồ ạt, mang tính bề nổi các trường đại học- chuyên tu, tại chức… mà ngay chính quy hóa ra cũng “chưa đủ tầm”. Rất nhiều người có bằng đại học, mà cùng với bằng cấp là quyền lực tự coi là trí thức. Nhưng trên thực tế đấy chỉ là “nửa vời”. Thứ hai, điều này cũng không kém phần quan trọng, như đã nói bên trên, giai tầng này có thói kiêu ngạo chính trị: “Nếu có quyền chúng tôi có thể làm được hết”. Nguyên nhân của thái độ như thế không phải là điều bí mật. Một mặt, đấy là thái độ bất bình với môi trường sống đang ngày càng gia tăng trong toàn xã hội. Mặt khác, đấy là nhận thức cho rằng mình (do đông người và những quan niệm hời hợt) là một lực lượng mà “không có việc gì là khó” cả. Chỉ có những kẻ có suy nghĩ hời hợt mới có thái độ tự tin như thế vì họ quan niệm tất cả mọi thứ trên đời đều đơn giản… Do đó mà trong khoảng giao thời những năm 1980-1990 trong tâm trạng xã hội, bên cạnh tâm lý bất mãn chung đối với cuộc sống lại xuất hiện một xu hướng tự tin rất mạnh mẽ rằng dường như mọi việc đều cực kỳ đơn giản, có thể hoàn chỉnh và sửa chữa một cách dễ dàng. Niềm tin này chính dấu hiệu để phân biệt trí hức nửa mùa và cũng là ngọn cờ chiến đấu của họ.

Giới trí thức chân chính - những người lao động trí óc nghiêm túc, có nhiều kiến thức và có thói quen suy nghĩ độc lập - hoàn toàn xa lạ với thái độ ngang tàng như thế đối với các vấn đề phức tạp và quan trọng. Nhận thức được rằng mọi việc đều phức tạp và thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng là việc khó khăn, giới trí thức cảm thấy lo lắng và lúng túng. Nhưng trí thức nửa mùa thì, xin nhắc lại, lao vào chiến đấu.

Giai đoạn “cải tổ” ban đầu đã trở thành chất xúc tác cho các hoạt động chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa. Đất nước đang cần những thay đổi to lớn và nhanh chóng, đặc biệt là về kinh tế. M. Gorbachev, sau khi nhận thức được rằng những biện pháp thận trọng ban đầu sẽ không đem lại hiệu quả, buộc phải hướng về giới trí thức nửa mùa, phải dùng những kẻ đang khát khao những thay đổi như thế, mà cụ thể là những người làm việc trong lĩnh vực khoa học kinh tế và khoa học xã hội. Nhưng Gorbachev đã nhanh chóng bị rát mặt vì những lời cố vấn của họ. Là một người nhanh trí, ông lập tức nhận ra rằng những lời gợi ý và khuyến nghị của họ thường chỉ có tính cách nghiệp dư và chẳng mang lại kết quả gì, đằng sau cái vẻ khoa học và hiểu biết mang tính trang trí của các cố vấn thì tất cả những khuyến nghị đó chẳng có giá trị gì hết.

Nhân chuyện này tôi muốn quay lại với định nghĩa về giới trí thức. Người ta nói nhiều đến định nghĩa này đúng vào lúc giới trí thức nửa mùa bắt đầu ngoi lên. Giới trí thức nửa mùa đã đưa cuộc thảo luận đến kết luận rằng trí thức là người thiết tha với quyền lợi xã hội, chứ không phải quyền lợi cá nhân hạn hẹp, và tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội. Cách nhấn giọng như thế là có thể hiểu được. Nó ngầm kêu gọi ủng hộ giới trí thức nửa mùa vùng lên chống lại hệ thống, tiến hành đập tan hệ thống. Nhưng xin suy nghĩ thêm về định nghĩa này. “Thiết tha với quyền lợi xã hội” có phải là người trí thức không? Thế thì Hitler cũng được coi là người trí thức: hắn chả “thiết tha” đấy ư! Không, “thiết tha” không thể là tiêu chí được, tiêu chí phải là phẩm chất của cách tiếp cận với các vấn đề xã hội. Kiểu người, phương pháp tư duy, tính nghiêm túc, chiều sâu, trách nhiệm trước các hành động (nó còn là tính đạo đức nữa), kiến thức rộng do lao động miệt mài mà có. Và có thể không phải là vô tình mà người trí thức, tầng lớp trí thức lúc đó đã không được giải thích theo cách đó. Tác giả hoàn toàn không nhớ một trường hợp nào như thế. Nếu có thì giới trí thức nửa mùa đã lập tức bị đẩy ra khỏi tầng lớp trí thức, một giai tầng có uy tín của xã hội, ngay từ lúc đó.

Trí thức nửa mùa mang danh trí thức là một hiện tượng cực kỳ nguy hiểm, chứa đầy tai ương. Khi họ làm những công việc bình thường thì tai họa không phải là lớn (mặc dù dĩ nhiên là vẫn có: kém hiểu biết bao giờ cũng kéo theo hậu quả tiêu cực). Nhưng khi trí thức nửa mùa bắt tay vào làm việc lớn (đúng hơn là kiên quyết giành lấy vì thái độ tự tin của mình) thì tai họa là không thể tránh khỏi.

Mười năm vừa qua đã làm giới trí thức nửa mùa rúng động một cách mãnh liệt nhất, nó đã yếu đi nhiều, đa phần đã “tan đàn xẻ nghé”, chuyển sang những mối bận tâm khác và sử dụng những khả năng khác. Nhưng không được đánh giá thấp “khả năng quay về” đỉnh cao quyền lực chính trị của giới trí thức nửa mùa. Dù chỉ là vì một nhóm, sau khi đã leo lên hồi cuối những năm 1980- đầu những năm 1990 đang tìm mọi cách bám trụ, đã trở thành xu hướng hữu và cực hữu. Dĩ nhiên là trí thức nửa mùa đang và sẽ còn cố gắng thôi miên xã hội rằng họ biết cách giải quyết tất cả mọi vấn đề. Họ đang nói và còn tiếp tục nói một cách tự tin và xấc xược (hơn nữa, xin nhắc lại, chính họ-đúng hơn là nhiều người trong số họ - tin vào khả năng và sự đúng đắn của mình). Chỉ cần một phần dân chúng tin họ thì đấy sẽ là bi kịch không thể nào sửa chữa được.

Thật đáng tiếc là trong sự nghiệp cải cách, giới trí thức chân chính của chúng ta đã gần như bị giới trí thức nửa mùa say máu đỏ đen và xấc láo đẩy ra ngoài. Rất muốn tin rằng giới trí thức chân chính một lần nữa sẽ quay trở về với vai trò lịch sử của mình.

Oleshuk Iu.F (phó tiến sĩ sử học, cộng tác viên cao cấp Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Liên bang Nga.)
__________________________________________
* Bài đăng trên tờ Tư tưởng tự do thế kỷ XXI. Trích bản dịch của Phạm Nguyên Trường. Đọc đầy đủ xin xem cuốn "Về trí thức Nga", NXB Tri Thức 2009

(1) Kliuchevski V.O. (1841-1911) nhà sử học nổi tiếng người Nga.
(2) Solovjov S.M (1820-1879), nhà sử học người Nga, Hiệu trưởng trường ĐH Tổng hợp Moskva từ năm 1871 đến năm 1877

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Phân chia quyền lực: Phân quyền chiều dọc & chính quyền liên bang

PHẦN 2: Phân chia quyền lực theo chiều dọc

Để hiểu về vấn đề này, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu qua các mô hình nhà nước sau [2]

Chính quyền tập trung (Unitary Government): Là mô hình mà toàn bộ quyền lực được được nắm giữ bởi một chính quyền trung tâm cao nhất. Chính quyền trung tâm này lập ra các cơ quan nhỏ hơn ở từng vùng, từng cấp để dễ quản lý. Đất nước sẽ có một bộ Hiến Pháp thống nhất. Thể chế này thường thiên vị một thành phố trung tâm và bỏ qua quyền lợi của các vùng hẻo lánh, nên chỉ hữu dụng đối với những quốc gia nhỏ. Tuy nhiên, hầu hết các chính quyền trên thế giới đều theo dạng này. Nước Anh là một ví dụ điển hình.

Chính quyền liên bang (Federal Government): Là mô hình mà quyền lực được chia ra giữa chính phủ nhà nước và chính phủ từng vùng (bang). Cách phân chia quyền lực có khác biệt theo từng nước, nhưng nhìn chung, chính phủ nhà nước chịu trách nhiệm về những vấn đề lớn như quốc phòng, di trú, xuất nhập khẩu, hộ chiếu, tiền tệ... và chính phủ từng vùng sẽ lo những vấn đề còn lại như giáo dục, y tế, giao thông, cảnh sát, dịch vụ công cộng... [3] Chính phủ từng vùng sẽ có những quyền riêng mà chính phủ nhà nuớc không được phép can thiệp. Mỗi vùng sẽ có một Hiến pháp riêng (không được vi phạm Hiến pháp chung của cả nước), cũng như là có một hệ thống tam quyền phân lập riêng. Úc, Malaysia, Mỹ... là những nước theo thể chế này.

Vậy chính quyền liên bang, với mức tản quyền chiều dọc cao hơn, có những ưu điểm gì so với chính quyền tập trung? [4]

Đầu tiên và quan trọng nhất, chính quyền liên bang ngăn ngừa sự độc tài. Lord Acton, một chính trị gia nổi tiếng người Anh, cho rằng con người vốn dĩ không hoàn hảo. Do đó, không một ai đáng tin để được trao quá nhiều quyền lực. Mô hình thứ hai, quyền lực được tản đều về từng bang, từng địa phương, thành phố và được nắm giữ bởi nhiều cơ quan, cá nhân khác nhau, do đó sẽ khó có thể hình thành một tầng lớp cao cấp, nắm giữ nhiều quyền lực như trong mô hình chính quyền tập trung. Phân quyền chiều dọc cũng hỗ trợ rất tốt cho việc phân quyền chiều ngang, giúp cho việc kiểm soát và cân bằng (check and balance) quyền lực giữa các nhánh trở nên hiệu quả hơn

Thứ hai, mô hình liên bang giúp tiếng nói của người dân có trọng lượng hơn trong những cuộc bỏ phiếu về một đạo luật hay chính sách. Nói cách khác là dân chủ hơn so với mô hình tập trung. Phiếu bầu của một người trong một vùng nhỏ sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong một đất nước. 1 trên 100 sẽ mang tính quyết định cao hơn so với 1 trên 10000.

Thứ ba, nhà nước liên bang cung cấp cho người dân thêm một quyền rất quan trọng: quyền lựa chọn chính quyền. Khi nhắc đến dân chủ, người ta thường chỉ nghĩ đến quyền được bỏ phiếu và quyền tự do ngôn luận mà quên mất quyền thứ ba này. Công dân của một nước tập trung, nếu không hài lòng với chính quyền hiện tại cũng có thể chuyển tới một nước khác, tuy nhiên việc này có thể gặp khó khăn nếu những nước đích đến có chính sách di trú ngặt nghèo. Ngược lại, trong nhà nước liên bang, người dân có thể so sánh và di trú dễ dàng giữa các bang. Quá trình so sánh, lựa chọn và di trú từng diễn ra mạnh mẽ ở Úc, đặc biệt vào những năm từ 1980 tới 1990. Trong những năm này, một lượng lớn người dân chuyển từ bang Nam Úc với chính sách ngặt nghèo sang một bang Queensland thông thoáng, mở cửa hơn.

Thứ tư, nhà nước liên bang có chính sách linh hoạt hơn nhà nước tập trung, đáp ứng được quyền lợi của nhiều người dân hơn, đặc biệt đối với những nước rộng lớn, đông dân và đa dạng về tôn giáo, chủng tộc, kinh tế... Lấy một ví dụ dễ hiểu, có 2 vùng bỏ phiếu về việc cấm thuốc lá nơi công cộng. Vùng A có 90 người đồng ý, 10 người phản đối, vùng B có 20 người đồng ý, 80 người phản đối. Như vậy, nếu lệnh cấm được ban bố trên toàn nước, sẽ có 110 người thoả mãn và 90 người bất mãn. Nếu lệnh cấm chỉ được ban hành ở vùng A và không được ban hành ở vùng B, sẽ có 170 người thoả mãn và 30 người bất mãn. Tỷ lệ thoả mãn này còn có thể cao hơn nữa nếu những người hút thuốc ở vùng A chuyển san vùng B sống và ngược lại, người ghét thuốc lá chuyển từ vùng B sang vùng A sống.

Vì vậy, trong nhà nước liên bang, các chính sách sẽ trở nên hài hoà hơn và thoả mãn được nguyện vọng của người dân nhiều hơn, nên không những không gây chia rẽ đất nước mà còn tạo ra được sự thống nhất trong đa dạng (Unity in diversity), đáp ứng được nhu cầu đặc biệt của từng vùng. Vô hình chung tạo nên sự ổn định cho đất nước, tránh được những bất công vùng miền.

Lợi ích thứ năm là việc người dân dễ dàng kiểm soát nhà nước hơn. Lord Bryce, một chính khách nổi tiếng nước Anh cho rằng sự phát triển của Mỹ như ngày nay có phần đóng góp to lớn của việc kiểm soát từng bang từ phía người dân. Trong một bang nhỏ, từng động thái của chính phủ sẽ được người dân theo dõi sát sao hơn, do đó sẽ làm việc hiệu quả hơn.

Từng có những ý kiến cho rằng nước Úc nên chuyển từ thể chế liên bang sang mô hình tập trung. Giáo sư Cheryl Saunders từ đại học Melbourne cho rằng, không thể chấp nhận việc toàn bộ nước Úc được điều hành từ Canberra. Đối với những nơi gần Canberra như Melbourne hay Sydney thì việc nàycó thể chấp nhận được, còn những vùng xa xôi như Tây Úc,Tasmania hay Queensland sẽ kịch liệt phản đối. Người dân cần một chính phủ độc lập ở gần họ hơn, giải quyết tốt hơn những vấn đề cụ thể của từng vùng và nhiệm vụ của nhà nước là phải đáp ứng được nguyện vọng đó.

Việc chia nhỏ cũng giúp giảm thiểu được chi phí cho việc thanh tra các cơ quan của chính phủ, giảm được tiền thuế của nhân dân.


Thứ sáu, vì mỗi bang có một bộ luật và chính quyền riêng nên tạo điều kiện cho việc thử nghiệm những chính sách mới và khuyến khích sự thi đua giữa các bang. Một chính trị gia sẽ không thể khẳng định chính sách nào là phù hợp nhất. Việc ban hành những chính sách, điều luật khác nhau ở mỗi bang khác nhau giúp chính phủ từng bang dễ dàng so sánh kết quả, từ đó chọn ra con đường phù hợp nhất với bang mình. Điều này cũng giống như việc so sánh giữa Đông Đức và Tây Đức trong quá khứ. Trong khi Đông Đức chọn chế độ Cộng Sản với mô hình tập trung thì Tây Đức chọn mô hình liên bang. Sự phát triển vượt trội của Tây Đức và sự nghèo nàn của Đông Đức đã dẫn đến sự sụp đổ của bức tường Berlin vào năm 1989, nước Đức thống nhất và quyết định chọn mô hình liên bang, mô hình đã góp phần tạo nên sự thành công của Tây Đức trong quá khứ.


Tuy nhiên, mô hình liên bang cũng tồn tại những hạn chế nhất định như việc trùng lặp chức năng giữa các cơ quan địa phương và cơ quan nhà nước, tranh cãi giữa quyền lợi quốc gia và quyền lợi từng bang, phức tạp trong hệ thống pháp luật và tốn kém thời gian, công sức trong quá trình tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bang...

TIỂU KẾT

Tóm lại, không có mô hình nhà nước nào là hoàn hảo. Dù có những khuyết điểm nhưng đối với những nước có diện tích và dân số lớn, mô hình nhà nước liên bang có thể đem lại một chế độ tản quyền tốt hơn, dân chủ và ổn định hơn. Những nước thành công trong việc xây dựng nhà nước liên bang giàu có gồm có Úc, Đức, Mỹ, Canada và Thụy Sỹ. Tuy nhiên, cũng không ít nước gặp thất bại trong quá trình xây dựng chế độ liên bang, Cộng hoà Liên bang Trung Mỹ sau 20 năm thành lập đã tan rã thành những bang độc lập. Những nước khác như Argentina và Mexico đã có sự chuyển đổi qua lại giữa chính quyền liên bang và chính quyền tập trung, và sau cùng chọn chính quyền liên bang. [4]


KẾT

Thực hiện cùng lúc phân quyền chiều ngang và chiều dọc giúp quyền lực được tản đều, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền và tạo được cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước một cách rất chặt chẽ. Qua đó, những quyền lợi của người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền bầu cử và quyền lựa chọn được bảo đảm, là biểu hiện tối cao của một đất nước dân chủ, văn minh.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Khoa luật đại học Quốc gia Hà Nội, Hiến Pháp Việt Nam vào năm 1946 đã có những biểu hiện của cơ chế phân công và giám sát quyền lực. Kể từ Hiến pháp năm 1959 trở đi, học tập theo mô hình của Xô Viết, Hiến Pháp Việt Nam chuyển sang nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực được dồn vào các cơ quan ở trung ương, trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam (điều 83 Hiến Pháp 1992). Tuy nhiên, cả phương diện pháp lý cũng như thực tế không diễn ra đúng như quy định ở Điều 83, vì tại Điều 4 của Hiến Pháp năm 1992 lại quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. [5]

Tiến sĩ cho rằng Việt Nam nên nghiên cứu, kế thừa và ứng dụng cơ chế phân quyền và giám sát quyền lực đã có từ Hiến Pháp 1946 và những giá trị của cơ chế phân quyền trong Luật cơ bản của Cộng hoà Liên bang Đức (một trong những nước có kiến trúc thượng tầng tiến bộ bậc nhất thế giới) vào việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay.

Nguồn: Wegreen Vietnam

_________________________________________________________________
Tài liệu tham khảo:

[1] Teaching the German Way of Separating Powers – Joachim Detjen
[2] Advantages and disadvantages of federal, confederate and unitary systems of Government - http://www.dsusd.k12.ca.us/users/scottsh/Govt/Advantagesdisadvantages%20federal.htm
[3] Three Levels of Government – www.parliament.qld.gove.au
[4] Ten Advantages of a Federal Constitution – Geoffrey de Q.Walker
[5] Phân quyền trong luật cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức – Nguyễn Minh Tuấn

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Lạm bàn về trí thức và ngụy trí thức

Tôi là bác sĩ. Người đời thường xếp tôi và những người tốt nghiệp đại học (học thật chứ không phải học giả như bây giờ) là “trí thức”. Không biết tự bao giờ, người ta xếp những người “có học” là thành phần trí thức, nhưng tự trong thâm tâm, tôi không bao giờ nghĩ mình là bậc trí thức. Những đồng nghiệp tôi cũng không nghĩ họ là trí thức. Tôi không thấy những người mang chức danh “giáo sư”, “tiến sĩ” nhan nhản trong ngành y là trí thức, không phải vì những chức tước đó là do mua bán, mà vì họ chẳng có phát kiến gì có ảnh hưởng ngoài nghành nghề của mình. Thật ra, ngày nay, mỗi lần nghe ai đó giới thiệu “giáo sư, tiến sĩ” là tôi tự động khinh bỉ ngay! Tôi khinh bỉ vì tôi biết khả năng là những tước danh như thế là dỏm, và bản thân những người đó không xứng đáng được gọi như thế, chứ nói gì đến hai chữ “trí thức”.

Tôi nhìn thầy của mình như GS Trần Ngọc Ninh là bậc trí thức. Không phải vì Thầy có bằng cấp cao và chức danh giáo sư, nhưng vì Thầy là người uyên bác có đóng góp ngoài lĩnh vực chuyên môn của Thầy. Tôi coi cụ Nguyễn Hiến Lê là bậc trí thức, không phải vì cụ có học thức cao (thật ra, cụ chưa bao giờ tốt nghiệp đại học), mà vì những đóng góp vô giá của cụ cho xã hội qua những tác phẩm của cụ. Tôi xem cụ Đào Duy Anh, cũng chưa bao giờ tốt nghiệp đại học, là một bậc trí thức.

Hai cảm nhận trên để tôi đi đến một kết luận: Học vấn cao hay lao động trí óc không phải là một đặc tính làm nên người trí thức.

Thế thì trí thức là gì? Tôi mới đọc được một từ rất hay từ web của GS Nguyễn Văn Tuấn. Đó là từ nguỵ trí thức. Ông không giải thích cụ thể thế nào là nguỵ trí thức (có lẽ là pseudo-intellectual?), do đó ở đây tôi cố gắng bổ sung ý nghĩa chữ đó. Theo cảm nhận của tôi, nhận ra những đặc điểm của nguỵ trí thức cũng là cách để chúng ta phân biệt với trí thức chân chính. Theo tôi, những đặc tính sau đây có thể giúp chúng ta nhận dạng một người trí thức chân chính để phân biệt với những nguỵ trí thức.

Vượt tầm: Người trí thức chân chính không chỉ là người có chuyên môn cao, mà còn phải có những đóng góp ngoài chuyên ngành của mình. Có chuyên môn cao là một intellectual worker (có lẽ dịch là người lao động trí óc) như có người định nghĩa trên trang web của GS Nguyễn Văn Tuấn. Người trí thức đi ra ngoài phạm vi chuyên môn của một intellectual worker, bằng cách đóng góp ý kiến, phản biện những vấn đề liên quan đến xã hội, chính trị, triết học … GS Trần Ngọc Ninh, BS Nguyễn Khắc Viện là những người của ngành y, nhưng các bậc đàn anh đó còn là những nhà văn hoá có tiếng. Họ xứng đáng là những intellectual – nhà trí thức. Người trí thức chân chính không chỉ có tầm mà còn có tâm. Họ đau đáu lo chuyện quốc gia đại sự dù họ không có quyền.

Khiêm tốn: Người trí thức là những người khiêm tốn, vì họ ý thức được rằng kiến thức của mình còn hạn chế. Khiêm tốn tri thức còn có nghĩa người trí thức không khẳng định những gì mình chưa biết hay chưa có chứng cứ. Dĩ nhiên, khiêm tốn ở đây cũng có nghĩa là người trí thức không nên tự phụ, kiêu căng, khoác lác, kiêu ngạo, mà phải sử dụng logic và chứng cứ để phát biểu một cách hợp lý. Việt Nam không thiếu những người cũng mang danh giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhưng kỳ thực là họ không có kiến thức uyên bác về lĩnh vực họ phát biểu. Thay vào đó là những khoa ngôn, rừng chữ cầu kỳ, màu mè, mà chính họ cũng không hiểu họ nói gì. Những kẻ đó tôi gọi là nguỵ trí thức. Giới báo chí thường hay bị lừa bởi những nguỵ trí thức. Mới đây đã xảy ra trường hợp một ông bác sĩ hay dùng những từ ngữ triết học cao siêu được mời viết bài và giảng ở Đại học quốc gia TPHCM, nhưng chỉ vài ngày thì người ta phát hiện ông ta chỉ là loại nguỵ trí thức.

Can đảm, dấn thân: Người trí thức thật sự khác với trí thức trùm chăn. Trí thức trùm chăn là những kẻ cũng có bằng cấp cao, cũng danh xưng đầy mình, cũng lao động trí óc, nhưng không có khả năng hình thành một quan điểm độc lập. Họ là những người nằm trong một tổ chức, như Đảng CSVN. Họ có thể nhận ra những gì Đảng dạy là sai, nhưng họ không dám nói ra, chỉ “trùm chăn” hay đóng vai 3 con khỉ không muốn nghe, không muốn thấy, và không muốn nói. Loại này thì có nhiều ở Việt Nam. Ở bàn nhậu họ phát biểu rất hăng, nhưng khi họp chi bộ thì họ là những con mèo đáng thương hại. Ngược lại với loại trí thức dỏm (trùm chăn) đó là trí thức thật, những người không khi nào chấp nhận lý lẽ của người khác một cách dễ dãi, không bao giờ chấp nhận giáo điều, không bao giờ khuất phục trước những kẻ quyền thế. Đặc tính can đảm đặt người trí thức ở tình thế có khi nguy hiểm. Nếu Đảng dạy trí thức phải là a, b, c, mà người trí thức phản biện (với lý lẽ) không phải như thế thì người trí thức sẽ đối đầu với rủi ro. Người trí thức chân chính chấp nhận rủi ro đó. Còn nguỵ trí thức thì chỉ việc đi theo đường hay học thuộc bài Đảng đã dạy.

Thấu cảm: Người trí thức chân chính lúc nào cũng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu họ. Đặc tính này có tương quan với khả năng hình thành quan điểm và lý trí của người khác, và lý giải từ những giả định, tiền đề và ý tưởng của chính mình. Thấu cảm còn có nghĩa là người trí thức sẵn sàng chấp nhận mình sai cho dù mình tin tưởng rằng mình đúng. Những loại trí thức dỏm không có đặc tính thấu cảm, bởi họ không bao giờ đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Họ có thể là những người ở nước ngoài, không chịu sự chi phối của các nhóm quyền lực chính trị, nhưng họ sẵn sàng lớn tiếng lên tiếng lên lớp đồng môn trong nước là “phản biện trung thành” và lấy làm hài lòng sự lên lớp của mình.

Liêm chính: Người trí thức chân chính là người áp dụng những quy chuẩn khoa học để đánh giá những lý giải và chứng cứ của mình, chứ không phải dễ dãi với những gì mình tin tưởng. Nói cách khác, người trí thức dùng quy chuẩn khoa học chẳng những cho người khác mà còn cho chính mình. Điều này đòi hỏi người trí thức phải thành thật chấp nhận những quan điểm khác với mình. Đặc tính này tương phải với nguỵ trí thức, những kẻ không có khả năng lắng nghe quan điểm của người khác, không đủ can đảm để ghi nhận phê bình của người khác. Nguỵ trí thức cũng là loại trùm chăn, vì đầu óc họ (cũng lao động trí óc) chỉ biết có một quan điểm, chỉ tin vào một thần tượng. Bất cứ ai phê bình thần tượng của họ, họ nổi nóng và lảm nhảm. Một loại nguỵ trí thức khác là lên giọng dạy người khác rằng khi phản biện phải có am hiểu vấn đề nhưng bản thân họ thì chẳng có bất cứ một kiến thức nào về vấn đề họ phản biện. Đó là loại nguỵ trí thức tiền hậu bất nhất, một tiêu chuẩn cho mình, một tiêu chuẩn cho người khác.

Kiên trì và trung thành: Người trí thức chân chính là người trung thành với lý tưởng của mình, tin rằng lý tưởng đó sẽ làm cho xã hội tốt hơn. Họ kiên trì theo đuổi những sự thật hay nguyên lý mà họ tin tưởng, bất chấp những khó khăn, cản trở, và đe doạ. Khác với trí thức chân chính, nguỵ trí thức thay đổi quan điểm khi có điều kiện. Hôm nào họ tích cực tham gia phản biện dự án bauxite, nhưng sau một thời gian có lẽ bị uốn nắn, họ quay sang nói trí thức không cần phản biện!

Căn cứ vào những đặc tính trên, tôi nghĩ ở Việt Nam rất khó có một giai cấp trí thức chân chính. Chúng ta không có cơ hội để phản biện trên báo chí thì làm sao vượt tầm được. Nền học thuật còn chưa có tự do thì làm sao chúng ta có cơ hội công bố những quan điểm học thuật. Thay vào đó, chúng ta có rất nhiều nguỵ trí thức. Trong số này phải kể đến chính những người đã làm ồn ào không gian cyber với định nghĩa thế nào là trí thức.

Nguồn: BS. Ngọc

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Phan Bội Châu: Lưu cầu huyết lệ tân thư

Theo học thuyết của Quảng Trọng, nước có bốn “Duy” (bốn mối lớn). Nói ngược lại thì quốc duy tức là duy quốc (giữ nước). Giữ nước trước hết là giữ quốc thể. Nhưng giữ quốc thể ngày nay thật cũng khó giữ lắm. Vì sao? Quyền bính của nước ta là ở quan lại, nhân dân, tài sản. Nước có quan lại, tức là vị đứng đầu nước (nguyên thủ) có tay chân. Quan lại có nhân dân cũng như tay chân có ngón có đốt. Còn tài sản là huyết mạch của nước, huyết  mạch phải lưu thông trong tay chân ngón đốt, không thể một khắc gián đoạn. Thế mà quan lại ngày nay không phải tự ta truất trắc được. Tài sản ngày nay không phải tự ta vận dụng được. Đại thế sụp đổ khó lòng cứu vãn. Mọi việc đều bị xâm lăng lấn át, ngày càng thêm nặng, dầu muốn vớt vát cũng khó khăn muôn phần.

Nhưng nghĩ cho kỹ thì vẫn có cách làm được. Câu Tiễn đã từng mất nước, vẫn lấy việc thờ Ngô mà diệt Ngô. Nhật Bản là nước nhỏ hèn, vẫn lấy việc chịu lún Anh mà chống Anh. Lão tử nói: “Muốn thu lại, cần trương ra, muốn lấy được cần cho trước”. Binh thư Tá thiên nói: “Mình không đương được, mượn tay người khác, chẳng cần tự mình làm mà vẫn được việc”. Hợp hai thuyết ấy không phải không có cách làm.

Từ ngày nước mất đến nay, sự thế đổi khác, thực là tôi tớ mà danh là chủ nhân. Nói về cục thế, thì là một sự kỳ lạ, từ xưa chưa hề xảy ra. Nói về biến đổi, thì là một điều hổ nhục, từ xưa chưa hề mắc phải. Bọn chúng làm con hổ, nhỏ nước bọt thèm thuồng, người mình làm con cá, vẩy đuôi trốn lui. Động có yêu cầu việc gì thì cho là tốn kém hàng vạn. Bớt điều chúng thích, tiêu việc ta cần, chúng có vui đâu. Sở dĩ chúng còn để ta sống là vì chúng không dám giết chết đó thôi. Bên ngoài để che tai mắt nước khác, bên trong để lừa nhân dân nước ta. Chúng tạm cho ta cái danh giả để chúng giành lấy cái lợi thực.

Nay ta may còn được như thế này thì cũng nên lo tính việc giữ nước (duy quốc), dầu mất bò rồi mới sửa chuồng cũng chưa phải là muộn. Chúng ta nên mưu kín nghĩ xa, rán sức nhọc lòng, ngoài thì cố làm cái việc Câu Tiễn thờ Ngô, trong thì nuôi cái mưu Nhật Bản chịu lún Anh. Khi chưa sinh sự thì phải tự nhún mình nén khí để mua chuộc lòng chúng, phải qua lại thân mật để che tai mắt chúng, tìm trăm cách để lừa dối chúng, hễ chưa nuốt được gan chúng là chưa thôi. Khi đã sinh sự thì viện công pháp quốc tế mà yêu cầu, viện luật lệ nước ta mà tranh chấp, cả trăm miệng đều bẻ lại chúng, hễ chưa chặn được mưu chúng là chưa thôi. Lấy trí khôn và giúp khí mạnh thì dầu phải nhẫn nhục đến đâu cũng nấn ná mà làm; lấy khí mạnh mà đỡ trí khôn thì dầu biện biễn lễ có găng cũng mạnh dạn mà nói. Chúng thấy ta rất đỗi quyết lòng thì cũng phải chiều lòng; chúng thấy ta quả quyết giành thế thì chúng cũng phải nhượng thế. Lòng quyết được thì quyền bính mặc nhiên chuyển về ta, chúng không thể ngăn cản, thế giành được thì quyền bính hiển nhiên trả lại ta, chúng không dám lừa dối. Vua tôi đồng lòng, trăm người một bụng, dầu chúng ngoan cố cũng phải thua ta.

Quyền bính thu về dần thì quan lại lại là quan lại của ta, nhân dân là nhân dân của ta. Do đó, tài sản cũng không thể không phải là tài sản của ta. Rồi thì ta giảm bớt những thứ phù phí vô ích để tiêu vào việc cần kíp; bỏ bớt nhưng hư phí vô dụng để làm những việc thực dụng. Học thuật đổi được thì ta đổi dần, nhân dân nuôi được thì ta nuôi dần, dân khí chấn được thì ta chấn dần. Làm được ba điều ấy, tức là giữ được quốc thể đó vậy.

Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là trước hết. Nhân tài từ nhân dân mà ra, dân khí chấn rồi thì mới nuôi nhân tài được. Học thuật cốt nhân dân noi theo, dân khí chấn rồi học thuật mới đổi được. Sao lại nói đổi học thuật tất phải chấn dân khí đã? Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ. Trước kia sống bình thường đã lâu. Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù. Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn. Người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân, dẫu có những người thông minh cũng phải chiều theo tập thượng. Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như sấm sét, thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như thấy tuyết và mặt trời (2). Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi có tay chân mà không biết làm lụng, có tài sản mà không biết trao đổi, có miệng lưỡi mà không biết trình bày, có núi bể mà không biết vượt bơi, có khoáng sản àm không biết dò lấy, có máy móc mà không biết cho chạy. Thậm chí thấy nhục vua cha mà không biết căm tức, thấy ngoại nhân mắng nhiếc, lừa đùa mà vẫn bằng chân như vại, ngu thật là ngu!

Gần đây phong hội ngày mở mang, thời cuộc ngày thay đổi, gặp cảnh đau lòng khổ tứ mà vẫn không bổ ích cho nỗi thua kém của mình. Các nước Thái tây đâu có hạng người gỗ đá như thế! U mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế! Phỏng khiến thoắt chốc thay đổi học thuật lập ra qui chế mới thì không khỏi làm cho họ khiếp thấy ngại nghe, sinh ra nhiên nhiễu. Mở mang trí tuệ, họ cho là hiếu kỳ, sửa đổi cho hợp thời, họ cho là trái cổ. Bọn giàu có tài giỏi đã không muốn làm thì những người nghèo dốt trông cậy sao được. Cho nên nói rằng dân khí chưa chấn thì học thuật khó lòng sử đổi.

Muốn chấn dân khí  phải làm thế nào? Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ, bớt lệnh áp bức để cổ võ khi cương cường. Hiện nay thói tốt đã mất, việc hối lộ công hành. Lúc đầu chỉ mới mon men lén lút, dần dần thần tiền trở nên vững mạnh, muốn thêm một cấp là được một cấp, muốn thăng một bậc là được một bậc, đồng bạc ném vào, luật nào cũng phá. Cho đến khoa mục là việc to lớn như trời mà người ta cũng dùng tiền chạy chọt, không chút kiêng dè. Người ta chỉ chú trọng việc làm quan và thi đậu, nhờ bất liêm mà được thì còn biết xấu hổ là gì nữa! Huống hồ người dầu non nớt đã có tiền làm cho thành giỏi giang, người dầu dốt kém đã có tiền làm cho thành thông thạo, như thế cần gì phải chịu khó học để cố gắng tiến lên! Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được.

Các nước Thái tây cho dân có quyền tự do, người trên có lỗi, dân được phép bắt lỗi, người trên chống dân thì dân được chống lại. Các vua thời trước muốn cùng dân tính việc. Sách Chu Lễ nói: “Hỏi khắp muôn dân” là có ý muốn khuyến khích lòng trung dũng của nhân dân, thấu hiểu việc lớn nhỏ trong thôn xóm. Quan dân như nhau thì dân cần gì phải luồn cúi. Ngày nay giữa quan và dân xa cách như trời với đất. Người bình dân thấy bọn lại thuộc hơn thấy hùm sói, người bách tính đến chốn nha môn khiếp sợ hơn cả con rệp ở khe giường, dầu có oan uổng cũng không chỗ kêu van. Nếu có vài người cứng cổ thì khác nào dùng cái “mâu” đâm vào cái “thuẫn”, thu được cái khí một chút thì mất ngay cái liêm, như thế muốn dân không tự ti sao được! Ôi! Núi sông chưa đổi, quỉ thần còn thiêng, nếu biết đồng bào là ruột thịt thì sao nỡ không thu hút họ để họ phải chạy tới kêu xin nơi cửa người ngoài, khác nào tự ta đuổi cá về vực sâu, sao mà khờ dại đến thế! Nay nên thành thực mở lối kêu van, dứt đường cầu cạnh, thắt chặt tình trên dưới, mở rộng đường thẳng ngay, làm cho công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim, búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được. Quan dưới như thế, quan trên tất phải theo. Quan trên như thế, người ngoài tất phải chiều. Lẽ phải rõ rệt, không ai mạnh ai hèn, dân chúng lâu ngày sẽ cho là thường, dẫu muốn bắt họ quì lụy luồn cúi cũng không thể được…

Còn muốn thay đổi đầy đủ hơn nữa thì phải dùng những ký thuật: Thuật thứ nhất là mở mang công dịch. Xét ra dân ta mà trí khéo không nẩy nở ra được, nào có phải bản chất họ không thông minh đâu, chẳng qua chỉ vì cái khí ươn hèn lười biếng. Hiện nay cầu sắt, đường sắt và các sở nhà máy có thể thuê dân làm. Nếu quả muốn mở mang công dịch thì nên trả công thuê khá cao để người nghèo đói được nhờ. Nghiêm mệnh lệnh làm công, rộng điều lệ làm công, bắt bọn nhà giàu cũng phải làm, không được trốn tránh. Lại cần nghiêm sức những người thừa hành phải lấy công tâm mà làm việc, không được ăn bớt tiền thuê nhân công bỏ túi cho đầy, không được viện lệ vu vơ câu nệ mà làm khó dễ. Có thế thì người nghèo tập quen thói cần cù và người giàu cũng sinh lòng phẫn nộ. Tập cần cù thì khí được luyện, sinh phẫn nộ thì khí được trương. Đã luyện và trương tất không chịu lún người khác.

Kỹ thuật thứ hai là nắn sửa cái hại của phép đánh thuế. Thuế nào có hại cho dân nghèo thì giảm và giảm thêm mãi. Như các loại chè, muối, cá, rau, dân nghèo không có đủ thì đánh thuế nhẹ để đỡ sức dân. Thuế nào có hại cho nhà giàu thì tăng lên và tăng thêm mãi. Như các loại nha phiến, lò rượu,  vốn đặt lãi, nhà cho thuê, chỉ nhà giàu mới có, thu thuế nặng tất họ phải oán, mà họ oán thì qui lỗi cho người ngoài (tức thực dân thống trị) và gợi lên lời chê phiền nhiễu độc ác. Đỡ sức dân thì có lợi cho ta và do đó dân quen theo ta. Gợi lời chê (người ngoài) thì có thiện cảm với ta và do đó ta được thêm thuận lợi.

Những kỹ thuật nói trên là nhằm mục đích mượn tay người ngoài làm để ta thu kết quả. Bọn người ngoài chỉ cầu lợi. Dân nghèo muốn thu ít thì bớt thu, nhà giàu ghét thu nhiều thì tăng thu, chúng nghe lấy làm thích mà ta thì đạt được cái trí. Việc gây thù oán của bọn phú hào, việc luyện khả năng cho đám dân nghèo ấy là một cách thừa cơ mà lợi dụng, chắc chắn làm được. Các thày thuốc thường nói: “Khai thông cái muốn thông, ủng tắc cái muốn tắc” ấy là thượng sách.

Như thế là chấn được dân khí, mà dân khí có chấn thì mới tuyển được những người tài giỏi để dạy cho họ cái học hữu dụng và bỏ cái học hư văn, vẫn tôn trọng cái tốt của sách thánh hiền phải phụ thêm việc học học của Thái tây. Việc thi cử lập qui chế mới, chứ không thi văn suông. Việc chọn nhân tài thì nghiêm phòng cái lối chạy ngoài mà không câu nệ lời khen tục sáo. Học thuật đã tiến thì bỏ bớt thường lệ để bạt dụng những người tài năng ở miền thảo dã, phớt qua cấm lệ để thu hút những người kỳ tài ở nơi núi rừng. Cấp học bổng xuất dương du học thật hậu để giúp thành công; tìm tài ngoại giao cho tinh để khuyên cố gắng. Như thế là nhân tài được nuôi dưỡng. Những người nay đang ở thấp là nhân tài tương lai, những người nay đã lên cao là nhân tài hiện tại. Nhờ có họ giúp sức thì mới thực hiện được những điều nói trên.

Trong khoảng trời xanh bát ngát, bể thẳm mênh mông (tức là trong nước), chắc chắn cũng có những người gánh được cái việc tối đại của nghìn muôn đời, lập nên được cái công tối gian khổ của nghìn muôn năm và đương lấy được cái nhục tối hiếm tối lạ của nghìn muôn thuở. Có được những người ấy thì quyền bính sẽ thu về được, quan lại sẽ truất trắc được dân dân sẽ sử linh được, tài sản sẽ vận dụng được. Lúc bấy giờ, muốn chấn dân khí thì dân khí ngày càng cao vọt, muốn nuôi nhân tài thì nhân tài ngày càng thịnh đạt. Cái thành công của Câu Tiễn, Nhật Bản chỉ ngẩng đầu mà đợi. Nhờ vậy có thể nói chắc rằng, huyết mạch sẽ đầy đủ, tay chân ngón đốt sẽ béo mập và vị đứng đầu nước sẽ vững vàng như núi Thái Sơn. Bằng không làm theo lời bàn trên thì chẳng khác đem cho nhà người ngoài cư trú, làm tôi tớ cho người ngoài sai khiến, hiến tài sản cho người ngoài tiêu dùng, hơn thế nữa, đem thê thiếp và con gái cho người ngoài làm vợ, còn trách gì được ai! Còn trách gì được ai!…

(1903)
_______________________________
Cùng tác giả:

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Định nghĩa lại sự thờ ơ

Rồi sẽ có lúc bạn rơi vào một hoàn cảnh thế này. Đó là những trận cười lan truyền. Trong một căn phòng lớn, mọi người đang yên tĩnh, bỗng có một, rồi hai ba người phá ra cười. Trận cười lây lan cực kỳ nhanh. Rồi tất cả mọi người cùng cười. Bạn không hiểu gì cả, nhưng rồi bạn cũng phá ra cười, cười như nắc nẻ, dù thật lòng bạn không biết người ta đang cười điều gì.

Các nhà sản xuất phim ảnh đã khéo léo lồng ghép hiện tượng trên vào những bộ phim hài hước, thông qua những tiếng cười nhân tạo. Ngày nay, có lẽ sẽ không còn ai tỏ ra lạ lẫm với những tiếng cười thu âm rồi phát lại. Người ta đã quá quen thuộc với chúng, thế nhưng không ai phản đối. Tiếng cười nhân tạo trong các bộ phim sitcom thực ra có công dụng thế này: Trong một tích tắc khi không chắc chắn rằng tình huống trên phim thực ra có buồn cười hay không, tiếng cười nhân tạo sẽ buộc bạn phải cười như thể đó là một tình huống rất đáng buồn cười. Đó là lý do dù các kỹ xảo ngày càng trở nên quen thuộc với công chúng, những tiếng cười nhân tạo vẫn là phần không thể thiếu trong các bộ phim hài công chiếu trên truyền hình hay trong rạp chiếu bóng.

Một hiện tượng tương tự có thể được thấy ở các ngã tư. Người tham gia giao thông chắc hẳn không ít lần bực mình vì những tình huống kẹt xe khởi đầu bằng một đám đông hiếu kỳ. Họ dừng lại, chẳng để làm gì cả. Họ dừng lại, chỉ để dừng lại; họ dừng lại vì những người khác dừng lại. Chẳng để làm gì cả. Tất cả chỉ bởi vì những người xung quanh họ dừng lại.

Tất cả những điều trên đều dẫn tới một nhận định rằng: Khi không thực sự rõ ràng về những gì diễn ra, con người thường bắt chước theo hành động của những người xung quanh. Chúng ta sợ khác người, chúng ta sợ bị cô lập. Chúng ta sợ hành động của mình dẫn tới những hậu quả xấu vì sự thiếu hiểu biết. Và để an toàn, chúng ta chọn cách bắt chước như những cỗ máy.

Rất nhiều vụ tai nạn giao thông chết người đã diễn ra theo một kịch bản thế này: Người bị nạn nằm giữa đường và đám đông hiếu kỳ đứng bu xung quanh. Nguyên nhân không phải sự vô cảm, sự thờ ơ lạnh nhạt, mà chính là do nhận định đáng sợ này: Giả sử bạn là một người khách qua đường, và một người bị nạn trước mặt bạn. Anh ta là ai? Anh ta có thực sự gặp nguy kịch? Có cần thiết phải ngay lập tức đưa anh ta đến bệnh viện hay bạn bè anh ta sẽ đến ngay bây giờ? Anh ta đã chết chưa? Anh ta có muốn bạn là người đưa anh ta đi bệnh viện, hay đây là một màn giả vờ quá chân thực? Có nên gọi người nhà anh ta không? Trong đầu bạn sẽ hiện lên hàng loạt các câu hỏi như vậy. Bạn không biết điều gì đang thực sự diễn ra. Trong một tích tắc bạn bắt đầu tham khảo hành động của những người xung quanh – nhưng trớ trêu thay, những người khác cũng có cùng một suy nghĩ hệt như bạn. Kết quả, chúng ta có một đám đông đứng quây tròn. Chẳng ai làm gì cả. Chẳng một ai làm gì cả.

Đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến những xã–hội-câm-lặng. Bạn có bao giờ phê phán những nhà „đạo đức giả“ thường xuyên bày tỏ lòng cảm thông với những trường hợp khó khăn trên mạng nhưng lại chẳng làm gì ngoài đời chưa? Đừng vội cho rằng họ giả tạo, nước mắt cá sấu (hay một từ ngữ cay nghiệt nào đó). Vấn đề ở đây là, trên internet, chúng ta luôn biết chắc chắn về hoàn cảnh của một người (ít nhất là theo cách viết của những nhà báo) và hành động của chúng ta không gây những tác động trực tiếp lên cho họ (kể cả hành động gửi tiền quyên góp). Ở ngoài đời thì khác, chúng ta không thực sự chắc chắn rằng liệu họ có cần sự giúp đỡ của chúng ta hay không. Nếu chúng ta biết chắc rằng họ cần sự giúp đỡ, tôi tin rất nhiều người sẽ sẵn lòng ra tay. Vấn đề là, chúng ta không biết.

Bạn cũng có thể nhận thấy rõ ràng sự khác biệt thế này: Khi bạn cần sự giúp đỡ, bạn tỏ ra yếu đuối, bạn viết một vài entry sầu não, thậm chí ở những hoàn cảnh tệ hại hơn khi bạn đang ở trong một cơn nguy kịch, bạn mong có ai đó để ý hỏi thăm mình – nhưng chẳng có ai cả. Khi rơi vào tình huống này, tôi khuyên bạn đừng rụt rè mà hãy gọi thẳng tên những người bạn cần từ họ sự giúp đỡ. Nếu họ là bạn của bạn, bạn sẽ ngạc nhiên thấy sự thờ ơ của họ đã biến mất. Họ đã biết chắc rằng BẠN CẦN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA HỌ.

Quy luật này chi phối tất cả. Khi bạn ngồi yên, bạn không làm gì cả - điều đó không hẳn có nghĩa là bạn sợ chết hay tìm kiếm sự an nhàn. Đáp án có lẽ là, bạn chưa biết chắc rằng liệu những gì mình tin có THỰC SỰ đúng đắn.

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More