"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư tưởng - Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư tưởng - Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Nguyễn Gia Kiểng: Trí thức là một khái niệm chính trị

...Trước hết thế nào là một trí thức?  Có bao nhiêu nhà tư tưởng đặt ra câu hỏi này thì có bấy nhiêu câu trả lời. Cũng tương tự như từ "triết học" mà nó có quan hệ khá gần gũi, khái niệm "người trí thức" không có một định nghĩa được mọi người chấp nhận. Tuy nhiên ngay cả người bình thường cũng có thể nhận định khá đúng ai là trí thức ai không phải là trí thức trong những trường hợp cụ thể. Thí dụ như một người dân thường cũng có thể đánh giá một người có học vị và địa vị cao nhưng qụy lụy chạy theo danh lợi là không phải trí thức. Ở đây trí thức là một thái độ. Trong một trường hợp khác trí thức có thể là một trình độ; người ta có thể nói "như thế cũng được rồi, ông ta không phải là một trí thức" để bào chữa cho một phát biểu thiếu sáng sủa và chính xác.
   
Baruch Spinoza (1632–1677) là một triết gia và một trí thức lớn. Ông bị cộng đồng người Do Thái tại Hòa Lan khai trừ và cô lập vì phản bác một số tín điều của đạo Do Thái. Ông cũng không được những người Công Giáo và Tin Lành chấp nhận vì bị coi là vô thần. Ông bị ruồng bỏ bởi cả cộng đồng người Do Thái lẫn xã hội Hòa Lan. Ông sống cô đơn và nghèo khổ tại Amsterdam bằng nghề thợ mài kính. Có lúc bị bạo hành. Spinoza hiền lành và nhẫn nhục nhưng vẫn quyết tâm giữ lập trường của mình bằng mọi giá. Ngoài công việc nghề nghiệp bắt buộc Spinoza dành trọn cuộc đời cho học hỏi, suy nghĩ và viết. Cuốn "Đạo Đức" được coi là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất về đạo đức học. Ông cũng viết về nhiều đề tài triết học khác. Do nghề mài kính Spinoza hít phải nhiều bụi kính và chết vì bệnh phổi. Ông chết an nhiên, không hối tiếc, không sợ hãi cũng không hờn giận. Cả thế kỷ sau khi ông qua đời người ta mới đánh giá đúng tư tưởng của ông và tôn vinh ông. Đồng ý hay không với ông, không ai phủ nhận Spinoza là một nhân cách và một trí thức lớn.

Spinoza được coi là một trí thức lớn vì ông là người không những có kiến thức lớn và những tư tưởng đặc sắc - nếu chỉ có thế thì ông chỉ là một triết gia - mà còn có can đảm phản bác những tín điều thời thượng được áp đặt trong môi trường của ông như những chân lý tuyệt đối và chấp nhận trả giá cho niềm tin của mình. Ngược lại ít ai coi Galileo (1564–1642) là một trí thức dù ông là một nhà bác học rất lớn vì Galileo đã run sợ trước quyền lực của giáo hội công giáo La Mã và phủ nhận khám phá lớn của chính ông, đó là trái đất xoay quanh mặt trời chứ không phải mặt trời xoay quanh trái đất như mọi người tin vào lúc đó. Đặc tính khiến Spinoza, khác với Galileo, được coi là trí thức là ở chỗ ông đã dám phát biểu những điều mình nghĩ là đúng dù trái ngược với lập trường chính thống và chấp nhận trả giá cho ý kiến của mình.

Một trong những trí thức vĩ đại đầu tiên của thế giới là Socrates sống vào cuối thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Socrates đả kích gay gắt chế độ dân chủ vừa được tái lập tại Athens và bị chế độ dân chủ này xử án tử hình. Socrates đã lầm về tư tưởng chính trị. Ông phê phán rất đúng những thiếu sót của chế độ dân chủ Athens lúc đó nhưng ông đã không nhận định được một điều là các chế độ dân chủ có khả năng sửa chữa những thiếu sót và tự cải tiến trong khi chế độ độc tài sáng suốt của những "vua hiền triết" mà ông chủ xướng vừa không thể có vừa độc hại nếu vạn nhất được thiết lập. Nhưng Socrates đã lý luận một cách lương thiện, đã dám phản bác quyền lực chính trị nhân danh những lý luận đó và đã chấp nhận thà chết chứ không bỏ lập trường của mình. Theo truyền thuyết ông đã tuyên bố khi phiên tòa kết thúc rằng: "Bây giờ chúng ta chia tay, quí vị để tiếp tục sống còn tôi để chết. Ai đúng chỉ có Trời biết, nhưng  một cuộc đời không suy luận là một cuộc đời không đáng sống". Hậu thế đã tôn vinh Socrates, dù ông nghĩ sai về chế độ chính trị tốt nhất, vì ông đã dám chết để giữ ý kiến của mình. Ngược lại chế độ dân chủ Athens đã hoàn toàn sai khi bách hại Socrates vì ý kiến của ông. Phẩm cách trí thức và triết gia của Socrates còn thể hiện một cách cao cả trong câu "ai đúng chỉ có Trời biết"; Socrates không quả quyết là mình chắc chắn đúng, nhưng vẫn chấp nhận chết cho ý kiến của mình.

Hai mẫu mực trí thức trên đây cho phép nhận ra một số nét đậm của một trí thức. Cả hai đều là những người có trình độ hiểu biết và lý luận cao, dù cả hai đều không có bằng cấp nào cả. Đó cũng là những người suy nghĩ và lý luận một cách lương thiện, nghĩa là lý luận để tìm đến một kết luận hợp lý chứ không lý luận để biện minh cho một kết luận đã có sẵn, bị áp đặt hoặc tự áp đặt. Và, quan trọng hơn, dám sống trung thực với lập trường của mình bằng mọi giá. Hai nét đậm cần được đặc biết lưu ý: cả hai đều dấn thân về mặt chính trị nhân danh cái đúng và cả hai đều phản kháng luồng tư tưởng chính thống. Trường hợp Socrates đã rõ ràng nhưng trường hợp Spinoza cũng không khác. Ở vào thời đại của ông tôn giáo và chính trị chỉ là một; trong cộng đồng Do Thái giáo lý Do Thái là luật, trong xã hội Hòa Lan, và Châu Âu nói chung, thánh kinh Thiên Chúa Giáo là hiến pháp. Họ đi đến tư tưởng phản kháng vì biết tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm câu trả lời cá nhân của mình cho những câu hỏi đó; họ suy tư một cách độc lập, bằng cái đầu của chính mình.

Dấn thân chính trị và phản biện là cốt lõi và cũng là định nghĩa của người trí thức. Thực vậy, nếu khái niệm trí thức và những con người trí thức đã có từ rất lâu thì danh từ "người trí thức" – l'intellectuel - chỉ thực sự xuất hiện trong tiếng Pháp vào cuối thế kỷ 19 cùng với vụ án Dreyfus. Dreyfus là tên một sĩ quan Pháp gốc Do Thái bị buộc tội phản quốc một cách oan ức vì tinh thần bài Do Thái lúc đó. Một số nhân vật tên tuổi, trong đó có văn hào Emile Zola, đã bất bình và lên tiếng bênh vực Dreyfus nhân danh công lý. Họ bị phe chống Dreyfus gọi một cách mỉa mai là những trí thức, les intellectuels, hàm ý là ưa cãi lý. Họ đã thản nhiên chấp nhận danh xưng này và tiếp tục bênh vực Dreyfus. Cuộc tranh luận gay go đã kéo dài gần mười năm và cuối cùng họ đã thắng. Từ một thiểu số không đáng kể chống lại cả một chế độ lúc ban đầu họ đã dần dần được hưởng ứng và thuyết phục được dư luận, buộc chính quyền Pháp phải hủy bỏ bản án và phục hồi danh dự cho Dreyfus. Các từ để chỉ người trí thức trong các ngôn ngữ khác đều dịch từ tiếng Pháp, kể cả từ "trí thức" trong tiếng Việt. Từ đó "trí thức" luôn luôn gắn liền với phản biện chính trị, hoặc để chống lại một chính quyền hoặc để chống lại một ý thức hệ thời thượng. Trong tiếng Anh từ intellectual có nghĩa khác nhau tùy theo được dùng như tính từ hay danh từ. Tính từ intellectual khá phổ biến và có nghĩa là trí tuệ, để chỉ những gì do trí óc mà có, thí dụ như intellectual property có nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ. Danh từ intellectual ít được sử dụng và thường có nghĩa là những người không lao động tay chân, những non-manual workers; trong giới hiểu biết nó vẫn giữ ý nghĩa và nguồn gốc Pháp của nó. Tại Việt Nam do sự kiện từ "trí thức" được du nhập trong khi chưa có những người trí thức đúng nghĩa nó dần dần biến chất và thường được dùng để chỉ những người có bằng cấp tương đối cao.

Vì xuất phát từ Pháp nên cuộc tranh luận "thế nào là một người trí thức?" đã sôi nổi nhất tại Pháp. Các nhà tư tưởng của Pháp đã đưa ra nhiều định nghĩa cho người trí thức. Các định nghĩa này không mâu thuẫn với nhau, chúng chỉ nhấn mạnh những điểm khác nhau. Theo J.P. Sartre, người trí thức trước hết là người quan tâm đến những chuyện của xã hội, ngay cả khi cá nhân mình không bị đụng chạm, hàm ý là người dấn thân chính trị. Raymond Aron định nghĩa người trí thức là người sáng tạo ra những ý kiến mới đồng thời cũng là một "khán giả nhập cuộc". Chúng ta sẽ bàn sau về nhận định này. Nhiều người dùng lại định nghĩa con người công chính của Diderot theo đó trí thức là người từ chối sự im lặng đồng lõa và lên tiếng tố giác bất công và tội ác. Albert Camus, giải Nobel văn chương năm 1957, định nghĩa trí thức như là người đứng về phía những người bị trị thay vì những người thống trị. Nói chung, có một đồng thuận là trí thức phải là người phản kháng hoặc sẵn sàng phản kháng. Không thể khác, chức năng của trí thức là cải thiện và đổi mới, nghĩa là phản bác cái hiện có để cổ võ cho cái phải có hoặc nên có.

Không nên lẫn lộn "trí thức" với những vai trò khác trong xã hội, như học giả, nhà văn, chuyên gia, nhà khoa học v.v. Những người này là trí thức hay không tùy theo họ có hiểu biết về những vấn đề chính trị xã hội và có sẵn sàng lên tiếng hay không. Tư cách trí thức chỉ đặt ra đối với những người có quan tâm chính trị và xã hội. Càng không nên lẫn lộn trí thức với cụm từ Mác-Lênin "lao động trí óc". Hai danh xưng này không chỉ khác nhau mà còn đối chọi với nhau. Người trí thức chủ yếu là trí thức ngoài công việc "lao động" hàng ngày, có thể đã nghỉ hưu, thậm chí có thể là trí thức trên giường bệnh hay trong nhà tù. Tôi biết chuyện một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong trại cải tạo sau chiến thắng cộng sản 1975 vẫn tiếp tục tranh luận rằng chủ nghĩa cộng sản là sai cho đến khi bị xử bắn. Anh ta là một trí thức. Một người là trí thức khi quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội và sẵn sàng phản bác những bất công và vô lý để cổ võ cho lẽ phải và công lý. Các chế độ cộng sản toàn trị không chấp nhận sự phản kháng, do đó chúng phủ nhận vai trò trí thức. Đừng nên quên rằng đã có một thời mà khẩu hiệu của các chế độ cộng sản (không riêng gì tại Việt Nam) là "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Họ chủ trương tiêu diệt trí thức để tiêu diệt mọi mầm mống chống đối. Đối với họ chỉ có những người lao động, lao động chân tay và lao động trí óc. Chỉ gần đây thôi họ mới thừa nhận sự hiện hữu của các trí thức, nhưng lại đồng hóa trí thức với thành phần lao động trí óc chứ vẫn không nhìn nhận trí thức như một thành phần chính trị và xã hội. (Cũng nên lưu ý một điều là nghị quyết 27 NQ/TW năm 2008 của ĐCSVN định nghĩa trí thức là những người lao động trí óc "có năng lực tư duy độc lập", như vậy cũng gián tiếp nhìn nhận đặc tính phản biện của trí thức). Nhưng cụm từ "lao động trí óc" tự nó đã trở thành vô nghĩa. Ngày nay trong các nước phát triển tuyệt đại đa số công nhân không còn làm việc bằng chân tay. Một nhân viên sở thuế, một thư ký tòa án, một chuyên viên chế tạo các trò chơi điện tử, một tài xế đường sắt cao tốc v.v.. đều "lao động trí óc" cả, nhưng không phải vì thế mà họ là những trí thức. Trí thức là một khái niệm chính trị.
   
Tóm lại nếu phải định nghĩa người trí thức thì ta có thể nói: trí thức là những người do được đào tạo hay tự học đã đạt tới một trình độ hiểu biết và lý luận trên trung bình, quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội, suy nghĩ một cách lương thiện, biết tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó và sẵn sàng thách thức mọi thế lực để bảo vệ quan điểm của mình. Người trí thức phải suy nghĩ một cách độc lập và do đó không thể chấp nhân một sự chỉ đạo tư tưởng nào cả.

Còn lại vấn đề mà Raymond Aron nêu ra khi ông định nghĩa trí thức như những "khán giả nhập cuộc". Tại sao không là tác nhân, hay diễn viên, mà lại là khán giả? Đó là vì trong hành động người ta bắt buộc phải thỏa hiệp với thực tế, điều mà trên nguyên tắc người trí thức không thể làm. Các chế độ Bắc Cao Ly và Syria hiện nay là những chế độ tội ác gớm ghiếc nhưng chúng có sức mạnh quân sự và cũng được Nga và Trung Quốc che chở, không thể xóa bỏ chúng một cách dứt khoát và tức khắc. Những người dân chủ Việt Nam và Trung Quốc cũng phải đối đầu các chính quyền hung bạo nhưng đầy phương tiện và được thế giới nhìn nhận. Trừ khi chọn giải pháp bạo lực vừa điên rồ vừa vô vọng họ cũng phải chấp nhận rằng lộ trình dân chủ hóa sẽ phải đi qua những thỏa hiệp giai đoạn. Tuy vậy, thỏa hiệp cũng là hy sinh, dù chỉ là một phần và tạm thời, những đòi hỏi chính đáng, do đó mâu thuẫn với thái độ trí thức. Người trí thức có hai chọn lựa. Hoặc không hành động để khỏi phải thỏa hiệp và phát biểu trọn vẹn lập trường của mình, nghĩa là làm một khán giả, nhưng một khán giả nhập cuộc vì dứt khoát ủng hộ cuộc vận động dân chủ. Hoặc là tham gia vào một tổ chức dân chủ và chấp nhận những thỏa hiệp mà tổ chức bắt buộc phải làm, trong trường hợp này người trí thức nhập cuộc và hành động chỉ là khán giả của những thỏa hiệp. Điều quan trọng là phải ý thức rằng chỉ có tổ chức mới bị bắt buộc và mới có quyền thỏa hiệp; đối với một cá nhân thỏa hiệp là từ bỏ cương vị trí thức và tự đánh mất mình.

Việt Nam có trí thức không?

Chúng ta đang đứng trước sự thách đố xấc xược của một chính quyền tham nhũng trắng trợn chà đạp nhân quyền và xã hội dân sự. Trên thực tế đảng cộng sản cư xử như một lực lượng chiếm đóng áp đặt sự thống trị của họ lên nhân dân Việt Nam. Dấn thân đấu tranh cho dân chủ là mệnh lệnh của lương tâm và phẩm giá, điều này không cần và cũng không thể bàn cãi. Người trí thức Việt Nam chỉ có thể là người phản kháng, theo một trong hai chọn lựa vừa trình bày. Nếu hiểu như thế thì dù nhân nhượng coi trí thức là người trong phần lớn các trường hợp, chứ không cần mọi lúc và mọi nơi, hành xử đúng theo tiêu chuẩn trí thức trên đây, chúng ta vẫn phải nhìn nhận rằng Việt Nam có rất ít trí thức, quá ít để có thể nói tới một tầng lớp trí thức. Người trí thức phải là người dấn thân chính trị nhưng những người dấn thân chính trị quá ít, và trong số những người hoạt động chính trị một tỷ lệ khá lớn cũng không phải là trí thức. Đa số những người mà chúng ta gọi là trí thức thực ra chỉ là những "chuẩn trí thức", nghĩa là những người có kiến thức và khả năng lý luận. Với một cố gắng học hỏi vừa phải họ có thể hiểu biết về chính trị và, nếu dám sống thực nói thẳng, có thể trở thành những người trí thức. Nhưng cố gắng này họ không chịu làm vì họ có thành kiến là chính trị không cần phải học. Bất cứ ai hễ có quyền lực hoặc có bằng cấp cũng cảm thấy có đủ tư cách để nói về chính trị một cách đầy tự tin.
   
Thái độ vô lễ với kiến thức chính trị này là một di sản văn hóa và lịch sử. Trong hàng nghìn năm, giai cấp sĩ, tiền thân của những người được coi hoặc tự coi là trí thức hiện nay, là một loại người vừa vô học vừa vô đạo về mặt chính trị. Họ không phải là trí thức mà còn là cái ngược lại của trí thức. Nghị luận đối với họ chỉ là tìm mọi lý lẽ để biện hộ cho trật tự chính trị sẵn có. Đó là những người mà mộng đời là được làm tay sai không điều kiện cho các bạo quyền để hà hiếp và bóc lột những người dân cùng khổ. Họ dành cả cuộc đời để học những kinh điển cũ kỹ không liên quan gì tới thực tế và được bổ nhiệm làm quan cai trị sau khi đậu những khóa thi thơ phú. Trình độ hiểu biết về sinh hoạt xã hội của họ còn thấp hơn quần chúng. Sau đó là chế độ cộng sản trong đó "tư tưởng chính trị" duy nhất được giảng dạy là chủ nghĩa Mác-Lênin, một chủ nghĩa khủng bố, và trong đó những người có chút kiến thức chỉ có vai trò "lao động trí óc", nghĩa là làm những dụng cụ ngoan ngoãn cho chính quyền. Chúng ta không có văn hóa chính trị. Truyền thống chính trị của chúng ta coi làm chính trị chỉ là để làm quan và làm quan không cần kiến thức chính trị vì chỉ có quyền trên người dân chứ không có trách nhiệm với người dân. Chỉ có "chức quyền" chứ không có "chức trách".

Di sản đó còn để lại một tật nguyền trí tuệ lớn khác. Đó là phần lớn những người có học vị và địa vị không lý luận một cách lành mạnh. Họ không lý luận để tìm một kết luận đúng mà thường chỉ lý luận để biện hộ cho một kết luận có sẵn. Một nhà khoa học lớn nói rằng người trí thức là người lao động trí óc, không liên hệ gì với phản biện. Phát biểu này chứng tỏ rằng ông không hề bỏ thời giờ tìm hiểu thế nào là người trí thức. Ông nói như thế chỉ vì ông có những lý do khác để không muốn phản biện. Một nhân sĩ có tên tuổi khác tuyên bố rằng không cần phải bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với trí thức mà chỉ cần nới lỏng. Nhưng làm sao có thể suy nghĩ một cách độc lập và sáng tạo nếu bị "lãnh đạo"? Hơn nữa lý do để phải bỏ sợi dây xích tròng vào cổ trí thức đâu phải vì nó xiết quá chặt làm đau cổ! Sợi dây xích làm nhục, và làm thui chột trí tuệ, trước khi làm đau. Vị nhân sĩ này nói như thế vì không muốn bị coi là "chống đảng" với những hậu quả bất lợi. Một vị khác nói rằng người Việt hải ngoại không còn thắc mắc về chế độ chính trị tại Việt Nam nữa. Cũng là một phát biểu thực dụng để làm vừa lòng chính quyền dù hoàn toàn sai. Tác giả bài này đã nhiều lần nhận định rằng chúng ta thiếu một tầng lớp trí thức chính trị. Đó là một cách nói để tránh đụng chạm. Thực ra phải nói một cách ngắn gọn là chúng ta thiếu trí thức bởi vì trí thức là một khái niệm chính trị. Không có trí thức phi chính trị.

Tại sao Việt Nam lại là Việt Nam như hiện nay?

Chúng ta là một dân tộc cần mẫn với một địa lý thuận lợi, nhưng tại sao thu nhập trung bình của một người Việt Nam lại chỉ bằng một phần mười mức trung bình thế giới? Chúng ta tự hào có bốn nghìn năm lịch sử nhưng tại sao Việt Nam lại nằm trong danh sách ít ỏi của các dân tộc chưa có tự do? Tại sao chúng ta phải trải qua ba mươi năm chiến tranh đẫm máu để chỉ chuốc lấy kết quả là nghèo khổ, lạc hậu và độc tài? Cùng một lý do: chúng ta đã không có lãnh đạo thông minh, và chúng ta không có lãnh đạo thông minh vì chúng ta thiếu những trí thức đúng nghĩa, trí thức chính trị.

Và tại sao hiện nay Việt Nam vẫn chưa chuyển động trong khi các dân tộc Trung Đông, Châu Phi, Châu Á dũng cảm đứng lên đòi dân chủ? Đó là vì cuộc đấu tranh đổi đời nào cũng phải do trí thức chủ xướng và lãnh đạo. Nhưng chúng ta quá thiếu trí thức. Chúng ta thiếu cái mà một dân tộc không thể thiếu. Trong mọi nước và mọi thời trí thức luôn luôn là đầu tàu của xã hội, và điều này càng đúng trong kỷ nguyên tri thức này.

Giải thích thế nào sự thiếu vắng này? Chắc chắn không phải vì chúng ta thiếu trí tuệ. Rất nhiều người Việt Nam thừa sức học hỏi để biết dân chủ là gì và phải đấu tranh cho dân chủ như thế nào nếu thực sự muốn. Cũng không phải vì chế độ cộng sản đàn áp quá hung bạo. Thành trì của chế độ hiện nay đã đủ rệu rã và các phương tiện truyền thông đã đủ mạnh để người trí thức có thể nói hết những điều mình cần nói. Với một chút thận trọng và khôn ngoan họ cũng có thể kết hợp với nhau thành lực lượng. Vấn đề thực sự chỉ là họ có muốn hay không, nói cách khác họ có phải là những trí thức đúng nghĩa hay không. Vả lại tại hải ngoại có hàng trăm ngàn người tốt nghiệp đại học không hề bị chính quyền cộng sản khống chế nhưng cũng vẫn không có nổi một lực luợng dân chủ có tầm vóc.

Muốn hay không muốn không phải là một vấn đề của lý luận mà là một vấn đề của tình cảm và ý chí. Thực tế phũ phàng là đại đa số những người Việt Nam được gọi là trí thức không mấy quan tâm đến đất nước và đồng bào họ. Khó có lý luận nào thuyết phục được họ từ bỏ sự vô cảm này, trừ tiếng nói nội tâm của chính họ.
 
Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 3/2012)

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Václav Havel: Quyền lực của Không Quyền lực - Phần 1

Lời giới thiệu cho bản dịch tiếng Việt
Václav Havel sinh ngày 5 tháng Mười năm 1936 tại Praha, trong một gia đình trí thức tư sản nổi tiếng của Tiệp Khắc. Sau Thế chiến II, sự nghiệp học hành của ông gặp trắc trở vì lý lịch. Havel tự học và trở thành nhà văn, nhà viết kịch. Sau khi cách mạng Mùa xuân Praha bị Hồng quân Liên Xô đàn áp (1968), ông bị cấm viết kịch và bắt đầu hoạt động chính trị. Là người đề xướng tuyên ngôn Hiến chương 77, ông phải ngồi tù 5 năm. Tư tưởng chính trị và đạo đức của Havel có ảnh hưởng to lớn đến phong trào dân chủ ở Đông Âu. Havel là lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung của Tiệp khắc năm 1989, sau đó là người đứng đầu Diễn đàn dân sự (Civic Forum), tổ chức chính trị đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc tuyển cử tự do đầu tiên sau chế độ cộng sản. Ông trở thành tổng thống đầu tiên của nước Tiệp Khắc dân chủ, sau đó được bầu là tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Czech. Sau khi rút lui khỏi chính trường, dù bệnh tật, Havel vẫn ủng hộ các phong trào bất bạo động chống chế độ toàn trị ở các nước như Cuba, và cả Việt Nam.

“Quyền lực của không quyền lực” [1] (1978) là tác phẩm kết tinh tư tưởng của Havel. Tiểu luận này đã ảnh hưởng đến các phong trào chống toàn trị ở Đông Âu, định hướng lại lý thuyết chính trị về chế độ cộng sản, và góp phần tạo ra một làn sóng đương đại về xã hội dân sự.

Tiểu luận mở đầu bằng một phân tích chính trị xuất sắc: định danh thực trạng Đông Âu thời kì hậu Stalin bằng cái tên “hậu toàn trị” [2] . Havel đã vạch ra đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống hậu toàn trị: xã hội bị tha hóa thành một hệ thống tự động vận hành. Hệ thống này nô dịch và điều khiển tất cả mọi người - từ giới lãnh đạo chóp bu cho đến từng người dân. Không có ai đứng trên hay đứng ngoài hệ thống ấy: mỗi người vừa là tù nhân, vừa là cai ngục cho hệ thống.

Trong hệ thống hậu toàn trị, “sống đời dối trá” (living a lie) bao trùm xã hội như một định mệnh. Havel đã lột tả từng chiều cạnh của bi kịch này. Havel - nhà văn - đã đúc kết sự dối trá ý thức hệ qua hình ảnh: người bán rau quả treo trước quầy hàng, cùng với những lô hành và cà-rốt, khẩu hiệu “Vô sản thế giới đoàn kết lại!”. Havel - nhà đạo đức - đã chỉ ra tình trạng mất nhân phẩm của cá nhân, và vai trò của ý thức hệ như là mạng che cho các cá nhân đỡ bị trần truồng trước thực trạng ấy. Havel -nhà chính trị học - giải phẫu sự dối trá ý thức hệ với tư cách là dung dịch điều hòa hoạt động của các cá nhân bị nô dịch và tự nô dịch trong hệ thống, để đảm bảo cho hệ thống toàn trị vận hành nhịp nhàng.

Nhưng, sự vĩ đại của Havel không nằm ở việc mô tả hệ thống hậu toàn trị [3] , mà ở việc vạch ra cái mâu thuẫn đặc thù tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của nó: mâu thuẫn giữa nhu cầu tự nhiên, sống động và chân thực của đời sống dân sự, với những đòi hỏi phi tự nhiên, chết cứng và dối trá của hệ thống hậu toàn trị. Trong thời kì toàn trị, cá nhân đột ngột bị lột khỏi các tổ chức dân sự truyền thống (gia đình, bạn bè, các hội đoàn, tôn giáo v.v.), để lắp vào các guồng máy nhân tạo: nhà nước-đảng và các đoàn thể bù nhìn. Đến thời kì hậu toàn trị, các cỗ máy ấy dần xơ cứng, bị giả hóa dưới mặt nạ ý thức hệ; con người phải sống đời dối trá. Havel, với niềm tin sắt đá vào nhu cầu được sống thật của con người, cho rằng đời sống dân sự chắc chắn sẽ phục hưng.

Nhìn thấy mâu thuẫn chính, riêng biệt của hệ thống hậu toàn trị, Havel đã không đề ra bất kì một cuộc “cách mạng” hay “cải cách” nào về kinh tế, chính trị hay quân sự. Ông kêu gọi một chiến lược hoàn toàn mới: hãy bắt đầu từ việc giải phóng đời sống dân sự khỏi sự dối trá đang bao trùm. Chiến lược ấy được dệt nên từ những hành vi thường nhật: người bán rau đừng treo cái khẩu hiệu mà anh không hề tin tưởng. Hãy ngừng tham gia những trò hề bầu cử, những màn mit-tinh lố bịch. Hãy nói những gì mình nghĩ. Hãy làm những gì mà hệ thống giả đò là cho phép anh làm. Tức là, hãy sống trong sự thật.

Đương nhiên, tất cả đều hiểu mỗi hành động cá nhân ấy có ý nghĩa gì với một hệ thống chỉ có thể vận hành nhờ sự dối trá tập thể: nó hô lên rằng “Hoàng đế cởi truồng!” Chính vì thế mà toàn bộ hệ thống sẽ ra sức bịt miệng, đàn áp và vu khống các cá nhân ấy. Thế là một số người, do những lựa chọn rất riêng tư về cách sống, đột nhiên thấy mình trở thành các “nhà bất đồng chính kiến”. Tất nhiên, thiểu số này chẳng là các nhà cách mạng. Họ không có học thuyết, chẳng dùng bạo lực, cũng không phủ định hệ thống trên lý thuyết. Họ chỉ sống đúng những gì mà hệ thống hứa hẹn cho họ: quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do đi lại v.v., và vì thế trong mỗi hành động thực tiễn, lại không ngừng vạch mặt hệ thống. Họ chỉ là những người dũng cảm hơn một chút, sống trong sự thật sớm hơn một chút, và chỉ có ý nghĩa khi đằng sau họ là một không gian của những người sống trong sự thật.

Trong không gian công toàn trị, nơi mà dối trá được đảm bảo bằng bạo lực, đời sống trong sự thật của số đông sẽ bắt đầu một cách tự nhiên từ trong những không gian công không chính thức: các nhóm không chính thức, văn học ám chỉ, báo chui (hay ngày nay là Internet) v.v. Nhu cầu sống trong sự thật, khi được thỏa mãn trong các mảnh đất ngầm của xã hội dân sự, sẽ làm cho biên cương của nó mở rộng mãi sang các địa hạt khác như kinh tế, tôn giáo v.v., với những đòi hỏi được thừa nhận, được thể chế hóa ngày một tăng. Cho đến khi nó đụng lớp vỏ cứng của hệ thống toàn trị cứng nhắc, và những chấn động trên địa hạt chính trị bắt đầu... Có thể là hệ thống toàn trị (giờ đây bị thu hẹp vào các thể chế quyền lực chính thức: đảng, bộ máy quan liêu, cảnh sát, quân đội) sẽ thích ứng và nhường bước cho một trật tự xã hội mới tự hình thành. Hoặc là nó sẽ bị cuốn trôi.

1978, trong đêm dày của chủ nghĩa toàn trị, Havel từ chối đoán mò những diễn biến chính trị tiếp theo một khi không gian công không chính thức đã lớn mạnh. Một thập kỉ sau, các cuộc cách mạng ở Đông Âu đã hoàn tất chương cuối cùng của kiệt tác Quyền lực của Không Quyền lực. Ngày nay, được gợi hứng một phần bởi hình dung của Havel về một xã hội dân sự sống động và tự trị, Đông Âu và nhiều nơi khác trên thế giới vẫn đang thử làm giàu chế độ dân chủ truyền thống.

*

Ở Việt Nam, hệ thống hậu toàn trị đã thích ứng vừa kịp lúc, và nó chưa bị cuốn trôi. Đời sống dân sự đang trỗi dậy mãnh liệt từ địa hạt kinh tế. Trong văn hóa, không gian công phi/bán chính thức vượt trên ý thức hệ chết cứng vẫn đang âm thầm lan rộng. Nhưng liệu Việt Nam có còn đang trong khoảng kéo dài của chế độ hậu toàn trị, hay đã chuyển sang một hình thái mới? Có thể phép thử của Havel sẽ cho ta một lời gợi ý: liệu chúng ta có đang sống trong dối trá tràn lan không? Chúng ta có đang ẩn núp dưới ý thức hệ, đang làm những thứ mà ta không tin, và bằng cách đó tự nô dịch và bị nô dịch không?

Xin dành bản dịch kiệt tác chính trị, văn chương, và hơn hết là kiệt tác đạo đức này cho tất cả những người Việt Nam, những người vẫn tự hào là một dân tộc giàu đạo lý. Xin hãy tìm thêm sức mạnh từ lương tri thời đại qua Havel, để tự tìm đường đi cho mình. Xin hãy thử kiểm chứng và nắm lấy “quyền lực của không quyền lực”.

1/1/2006

Khải Minh
__________________________________________________


I.

Một bóng ma đang ám ảnh Đông Âu: bóng ma của cái mà phương Tây gọi là "bất đồng chính kiến". Bóng ma ấy không xuất hiện từ hư vô. Nó là kết quả tự nhiên và tất yếu của giai đoạn lịch sử hiện tại của cái hệ thống mà nó đang ám ảnh. Nó được sinh ra vào thời điểm mà hệ thống ấy, vì trăm ngàn lý do mà không còn khả năng dựa vào cách thực thi quyền lực tùy tiện, bạo tàn và suy đồi, tận diệt mọi biểu hiện của sự bất phục tùng. Hơn thế nữa, hệ thống đã bị xơ cứng hóa về chính trị đến mức không còn phương cách nào khả dĩ để thể hiện sự bất phục tùng ấy trong khuôn khổ những cấu trúc hợp pháp của nó.

Những người được gọi là "nhà bất đồng chính kiến" này là ai? Quan điểm của họ đến từ đâu, và nó quan trọng tới mức nào? Tầm quan trọng của các "sáng kiến độc lập" mà những "nhà bất đồng chính kiến" hợp tác trong đó, và đâu là cơ hội thành công thực sự của những sáng kiến ấy? Coi những "nhà bất đồng chính kiến" là đối lập có phù hợp không? Nếu có, thì sự đối lập ấy chính xác là gì trong cái khung của hệ thống này? Nó làm gì? Nó đóng vai trò gì trong xã hội? Các hi vọng của nó là gì và những người này dựa vào đâu? Liệu các nhà bất đồng chính kiến - với tư cách là một nhóm công dân hạng hai nằm ngoài quyền lực được thiết lập - có chút ảnh hưởng nào lên xã hội và hệ thống xã hội hay không? Liệu họ có thực sự thay đổi được gì không?

Tôi nghĩ rằng việc khảo sát các câu hỏi này - một khảo sát về tiềm năng của "không quyền lực" - chỉ có thể được bắt đầu bằng việc khảo sát bản chất của quyền lực trong môi trường mà những người không quyền lực này hoạt động.

II.

Hệ thống của chúng ta thường hay được mô tả như là nền độc tài, hay chính xác hơn, là chế độ độc tài của hệ thống quan liêu chính trị trong một xã hội đã trải qua sự cào bằng về kinh tế và xã hội. Tôi sợ rằng khái niệm "độc tài", bất kể dễ hiểu đến mức nào trong những ngữ cảnh khác, có xu hướng làm lu mờ hơn là làm sáng tỏ bản chất thực sự của quyền lực trong hệ thống này. Chúng ta thường gắn thuật ngữ này với khái niệm về một nhóm nhỏ giành chính quyền của một nước bằng bạo lực; quyền lực của họ được sử dụng công khai, sử dụng các công cụ trực tiếp của quyền lực họ nắm trong tay, và có thể phân biệt dễ dàng về mặt xã hội với số đông mà họ đang thống trị. Một trong những mặt cơ bản của khái niệm mang tính truyền thống hay cổ điển này về độc tài là giả định rằng nó là nhất thời, tạm bợ và không có những gốc rễ lịch sử. Sự tồn tại của nó thường gắn liền với cuộc sống của những kẻ tạo dựng nên nền độc tài của họ. Nó thường là cục bộ về quy mô và tầm quan trọng, và bất kể nó sử dụng ý thức hệ để khoác cho mình tính chính đáng (legitimacy), quyền lực của nó từ sâu xa vẫn bắt nguồn từ quân số và sức mạnh vũ trang của binh lính và cảnh sát của nó. Đe dọa cơ bản đối với sự tồn tại của chế độ độc tài được cảm nhận là khả năng ai đó được trang bị tốt hơn về mặt này xuất hiện và lật đổ nó.

Thậm chí xem xét khái lược và phiến diện vừa rồi cũng đã chỉ rõ rằng hệ thống mà chúng ta đang sống có rất ít điểm chung với một chế độ độc tài cổ điển. Trước tiên là, hệ thống của chúng ta không hạn chế theo nghĩa cục bộ, địa lý; thay vì thế, nó nắm quyền sinh sát trong một khối quyền lực khổng lồ được kiểm soát bởi một trong hai siêu cường. Và mặc dầu, khá tự nhiên là nó phải thể hiện một số sự biến thái nhất định về địa phương và lịch sử, phạm vi của những biến thái này về cơ bản được khoanh lại bởi một khung thống nhất và duy nhất trong toàn khối quyền lực. Không những nền độc tài ở mọi nơi [trong khối-ND] đều dựa trên cùng một hệ nguyên lý và được kiến trúc theo cùng một cách (là theo cách mà siêu cường thống trị đã tiến hóa), mà mỗi nước đã và đang bị xuyên thấu bởi một mạng lưới các công cụ giật dây điểu khiển từ trung tâm siêu cường, và hoàn toàn nô lệ cho các lợi ích của siêu cường ấy. Trong một thế giới bế tắc của sự cân bằng hạt nhân, đương nhiên, so với các nền độc tài cổ điển, tình trạng này tạo cho hệ thống một độ an toàn với bên ngoài chưa từng có. Nhiều cuộc xung đột địa phương, mà nếu xảy ra trong một quốc gia cô lập có thể dẫn tới thay đổi về hệ thống, nay có thể giải quyết thông qua can thiệp trực tiếp bằng quân sự của phần còn lại trong khối.

Hai là, nếu như một đặc tính của các nền độc tài cổ điển là sự thiếu gốc rễ lịch sử (thường thì họ chỉ xuất hiện không hơn là những quái thai lịch sử, một kết quả tình cờ từ các quá trình xã hội ngẫu nhiên hay từ các xu hướng [vận động của] quần chúng), thì không thể kết luận một cách vội vã như thế với hệ thống của chúng ta. Vì mặc dù nền độc tài của ta đã từ lâu hoàn toàn xa lạ hóa mình với các phong trào xã hội tiền thân của nó, tính hiển nhiên của các phong trào này (tôi đang nghĩ đến các phong trào công nhân và xã hội chủ nghĩa của thế kỉ 19) đã cho nó tính lịch sử không thể chối cãi. Những nguồn gốc này cho nó một nền tảng vững chãi đến mức nó có thể xây dựng trên đó mãi cho đến khi trở thành một thực tế chính trị và xã hội hiển nhiên như nó ngày nay, cái đã trở nên một phần không thể tách rời được của thế giới hiện đại. Một đặc điểm của những cội nguồn lịch sử này là "nhận thức đúng đắn" về các xung đột xã hội trong giai đoạn mà những phong trào gốc này nổi lên. Trong chính hạt nhân của "nhận thức đúng đắn" này đã tồn tại sẵn một khuynh hướng tất yếu dẫn tới những biến đổi kỳ quặc trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của nó; tuy nhiên đây không phải là vấn đề thiết yếu. Và dù gì thì yếu tố này cũng phát triển hữu cơ từ không khí thời đại của giai đoạn đó và do vậy cũng có thể được xem là có nguồn gốc từ [thời kỳ] đó.

Một di sản của "nhận thức đúng đắn" nguyên thuỷ ấy là nét khác thường thứ ba, cái đã khiến cho hệ thống của chúng ta khác với các nền độc tài hiện đại khác: nó điều hành một ý thức hệ cực kì linh hoạt, được kiến tạo một cách lo-gic, chính xác hơn, và nhìn chung là dễ hiểu, mà trong sự toàn vẹn và chi tiết của nó, thì gần như một tôn giáo được thế tục hóa. Nó cung cấp lời giải đáp có sẵn cho mọi câu hỏi - bất kể là gì; nó hầu như không thể được chấp nhận từng phần, và việc chấp nhận nó có những hệ quả vô cùng nghiêm trọng với đời sống con người. Trong một kỉ nguyên mà sự chắc chắn siêu hình và hiện sinh đang trong trạng thái khủng hoảng, khi con người bị quật gốc và tha hóa, đang mất dần cảm nhận về thế giới này có nghĩa gì, không thể khác được là ý thức hệ này có sự hẫp dẫn an thần nhất định. Với loài người đang lưu lạc, nó hứa hẹn ngay lập tức có một mái ấm đủ đầy: tất cả những gì người ta cần làm là chấp nhận nó, và đột nhiên mọi thứ một lần nữa trở nên rõ ràng, cuộc sống đón nhận ý nghĩa mới, và mọi điều bí hiểm, mọi câu hỏi không lời đáp, sự phân vân và cô đơn biến mất. Tất nhiên, con người cũng phải trả giá đắt cho căn nhà thuê giá rẻ này: cái giá là việc anh ta phải từ bỏ các suy nghĩ duy lý, nhận thức, và trách nhiệm, vì một đặc điểm thiết yếu của ý thức hệ này là sự phó thác suy lý và nhận thức cho quyền lực cao hơn. Nguyên tắc ở đây là trung tâm của quyền lực đồng nghĩa với trung tâm của chân lý. (Trong trường hợp của chúng ta, mối quan hệ với chính trị thần quyền kiểu La Mã phương Đông là trực tiếp: quyền lực trần tục cao nhất trùng với quyền lực tinh thần cao nhất). Nhưng hiển nhiên là, bên cạnh tất cả những điều này, ý thức hệ không còn có ảnh hưởng to lớn nào lên con người, ít nhất là trong khối chúng ta (có thể với một ngoại lệ là nước Nga, nơi mà tinh thần nô lệ, với sự mù quáng của nó, sự sùng bái chết người đối với những người thống trị và sự chấp nhận ngay lập tức mọi tuyên bố của họ, vẫn còn áp đảo, kết hợp với chủ nghĩa yêu nước siêu cường - vốn có truyền thống đặt lợi ích của đế chế cao hơn các lợi ích của con người). Nhưng điều này cũng không quan trọng, bởi vì ý thức hệ đóng vai diễn của nó trong hệ thống chúng ta một cách tuyệt hảo (một chủ đề mà tôi sẽ trở lại), chính vì nó là chính nó.

Bốn là, kĩ thuật thực thi quyền lực trong các nền độc tài cổ điển bao gồm một yếu tố cần thiết là sự ứng biến. Các cơ chế dùng quyền lực phần lớn không được thiết lập chặt chẽ, và có khoảng không đáng kể dành cho sự thực thi quyền lực một cách ngẫu nhiên, tùy tiện và không bị giới hạn. Về mặt xã hội, tâm lý và vật chất, những điều kiện cho sự thể hiện một dạng đối lập nào đó vẫn tồn tại. Một cách ngắn gọn, có nhiều vết nối trên bề mặt có thể tách ra trước khi toàn bộ hệ thống đã tìm được cách ổn định hóa. Trái lại, hệ thống của chúng ta được phát triển trong hơn sáu mươi năm ở Liên bang Xô Viết, và trong khoảng ba mươi năm ở Đông Âu; hơn nữa, nhiều trong số các đặc điểm cấu trúc cổ nhất của nó đã bắt nguồn từ chế độ chuyên chế Nga hoàng. Trên khía cạnh vật chất của quyền lực, điều này đã dẫn tới việc hình thành các cơ chế được xây dựng khéo léo và tinh tế để phục vụ cho nhiệm vụ giật dây toàn bộ công chúng một cách trực tiếp và gián tiếp, mà với tư cách là nền tảng quyền lực vật chất, nó đại diện cho một cái gì đó rất mới. Cùng lúc đó, không nên quên rằng hệ thống này lại được nâng cao hiệu quả một cách đáng kể bằng sở hữu nhà nước và điều khiển từ trung ương mọi tư liệu sản xuất. Điều này tạo cho cấu trúc quyền lực một tiềm lực chưa từng có và không thể kiểm soát nổi để đầu tư cho chính nó (ví như trong các lĩnh vực hành chính quan liêu và cảnh sát) và tạo thuận lợi cho cấu trúc này, trong vai người tuyển dụng duy nhất, điều khiển sự tồn tại hàng ngày của mọi công dân.

Cuối cùng, nếu như một bầu không khí ngập tràn nhiệt tình cách mạng, chủ nghĩa anh hùng và bạo lực thẳng tay trong mọi mặt đã từng là biểu trưng cho chế độ độc tài cổ điển, thì các vết tích cuối cùng của một bầu không khí như thế đã biến mất khỏi khối Xô viết. Từ lâu, khối này không còn là một ốc đảo bị cô lập khỏi thế giới phát triển và miễn nhiễm với mọi tiến trình diễn ra trong đó. Ngược lại, khối Xô viết đã là một phần hữu cơ của một thế giới rộng lớn hơn, chia sẻ và định hình số phận của thế giới. Cụ thể hơn, điều này có nghĩa là trật tự của các giá trị tồn tại trong các nước phát triển phương Tây, theo một nghĩa nào đó, đã xuất hiện trong xã hội chúng ta (thời gian dài cùng tồn tại với phương Tây chỉ thúc đẩy nhanh tiến trình này mà thôi). Nói cách khác, cái mà chúng ta đang có đây chỉ là một dạng khác của xã hội tiêu thụ và công nghiệp, với tất cả những hậu quả tâm lý, tri thức và xã hội kèm theo. Sẽ không thể hiểu nổi bản chất của quyền lực trong hệ thống của chúng ta mà không tính đến điều này.

Sự khác biệt cơ bản giữa hệ thống của chúng ta - trên phương diện bản chất của quyền lực - với cái chúng ta vẫn thường hiểu là nền độc tài, sự khác biệt mà tôi hi vọng là đã rất rõ ràng dù chỉ từ các so sánh phiến diện vừa qua, đã khiến tôi phải tìm thuật ngữ thích hợp cho hệ thống của chúng ta, hoàn toàn chỉ để phục vụ cho tiểu luận này. Nếu sau đây tôi gọi nó là hệ thống hậu-toàn trị, thì tôi hoàn toàn hiểu rằng đây có thể không phải là thuật ngữ chuẩn xác nhất, nhưng tôi không thể tìm ra một từ nào khả dĩ hơn. Tôi không định ám chỉ tiền tố hậu (post-) có nghĩa rằng hệ thống không còn là toàn trị nữa. Ngược lại, tôi muốn nói rằng nó là toàn trị theo cách hoàn toàn khác với nền độc tài cổ điển, khác với chủ nghĩa toàn trị mà chúng ta vẫn thường hiểu.

Tuy nhiên, những bối cảnh mà tôi vừa đề cập chỉ tạo ra một tập hợp các yếu tố mang tính điều kiện, và một khung hiện tượng cho kết cấu quyền lực thực tế của hệ thống hậu toàn trị, mà bây giờ tôi sẽ cố gắng nhận diện một số mặt.

III.

Người quản lý một cửa hàng rau quả đặt trong cửa sổ, bên cạnh những lô hành và cà-rốt, khẩu hiệu: "Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!". Anh ta đang gắng truyền đạt gì với thế giới vậy? Có đúng là anh ta thực lòng hào hứng với ý tưởng đoàn kết giữa những người vô sản trên thế giới? Có thực lòng nhiệt thành của anh ta lớn đến mức anh ta cảm thấy không cưỡng được nhu cầu khiến công chúng phải làm quen với lý tưởng ấy? Liệu anh ta đã thực sự dành một giây phút nào nghĩ về sự đoàn kết ấy có thể diễn ra như thế nào hay liệu nó có ý nghĩa gì không?

Tôi nghĩ, ta có thể yên tâm mà giả định rằng tuyệt đại bộ phận người quản lí cửa hàng không bao giờ nghĩ về khẩu hiệu họ đặt trong cửa sổ, hay dùng nó để thể hiện quan điểm thực sự của họ. Cái poster đó được cấp cho họ từ trụ sở doanh nghiệp, cùng với hành và cà-rốt. Anh ta đặt nó lên cửa sổ vì đã làm như vậy trong nhiều năm, vì mọi người đều làm thế, và vì đó là việc phải làm. Nếu anh ta từ chối, hẳn đã có rắc rối xảy ra. Anh ta có thể bị phiền hà vì không có "vật trang trí" thích hợp trong cửa sổ; ai đó thậm chí còn có thể tố cáo anh là không trung thành. Anh ta làm vậy bởi vì những điều ấy là cần phải làm nếu muốn yên thân. Đó là một trong hàng ngàn tiểu tiết đảm bảo cho anh ta một cuộc sống tương đối yên ổn, hay "hòa hợp với xã hội", như họ vẫn thường nói.

Tất nhiên, người bán rau bàng quan với nội dung chữ nghĩa của khẩu hiệu được trưng ra; anh ta chẳng đặt khẩu hiệu trong cửa sổ vì thôi thúc cá nhân muốn công chúng làm quen với lý tưởng mà nó kêu gọi. Nhưng hiển nhiên, điều này không hề có nghĩa là hành động của anh ta không hề có động cơ, hoặc chẳng có ý nghĩa gì, hoặc khẩu hiệu đó không truyền đạt tới ai thông tin nào hết. Cái khẩu hiệu chính là một tín hiệu, và theo đó nó bao hàm một thông điệp tuy vi tế nhưng rất dứt khoát. Nói nôm na, nó là thế này: "Tôi, người bán rau quả XY, sống ở đây và tôi biết việc tôi phải làm. Tôi hành xử theo cách người ta trông đợi. Tôi đáng tin và tôi đứng ngoài mọi rắc rối. Tôi phục tùng và vì thế, tôi có quyền được yên thân". Thông điệp này, tất nhiên có người nhận: nó được gửi lên trên, tới những người cao hơn anh bán rau, và đồng thời nó là lá chắn bảo vệ anh khỏi những kẻ hớt lẻo rình rập. Vì thế, ý nghĩa thực của khẩu hiệu bám rễ sâu vào sự tồn tại của anh hàng rau. Nó phản ánh lợi ích sống còn của anh ta. Vậy những lợi ích sinh tồn ấy là gì?

Hãy dừng lại để ghi chú là: nếu người bán rau được hướng dẫn bày khẩu hiệu: "Tôi sợ và vì thế phục tùng vô điều kiện", anh ta sẽ không bàng quan với nội dung của nó, cho dù tuyên bố ấy là đúng sự thật. Người bán rau sẽ cảm thấy xấu hổ và nhục nhã vì cái tuyên bố thẳng thừng về sự mất phẩm cách của anh ta trong cửa sổ cửa hàng, và cũng tự nhiên thôi, bởi anh là con người và vì thế mà có cảm nhận về phẩm giá của mình. Để vượt qua sự rắc rối này, sự thể hiện lòng trung thành của anh ta phải dưới dạng một dấu hiệu mà, ít nhất trên bề mặt từ ngữ, biểu hiện một mức độ tin tưởng không tư lợi. Nó phải cho phép người bán rau biện bạch: "Có gì sai với chuyện vô sản toàn thế giới đoàn kết đâu?" Vì thế mà dấu hiệu này giúp cho người bán rau che giấu lương tâm anh ta về cái cơ sở mong manh của sự phục tùng của mình, và cùng lúc, che giấu nền tảng yếu ớt của quyền lực. Nó giấu chúng dưới mặt tiền của một cái gì đó cao xa. Và cái gì đó ấy chính là ý thức hệ.

Ý thức hệ là một cách ngụy tạo để liên hệ với thế giới. Nó ban cho loài người ảo ảnh về một bản sắc, một phẩm giá, và một đạo đức trong khi tạo điều kiện cho họ từ giã chúng. Như là một kho chứa của một cái gì đó "siêu cá nhân" và khách quan, nó cho phép con người đánh lừa nhận thức của mình, che giấu vị trí thực và modus vivendi [tạm dịch là “cách sống”] không vinh quang của họ, cả với thế giới và với chính mình. Đó là một cách, vừa thực dụng nhưng đồng thời lại có vẻ thần thánh, để hợp lý hóa cái gì trên, cái gì dưới và cho mỗi bên. Nó hướng tới con người và hướng tới Thượng đế. Nó là bức màn mà đằng sau đó con người có thể che giấu sự tồn tại sa sút, sự tầm thường hóa và thích nghi của họ với nguyên trạng. Nó là sự biện minh ai cũng có thể dùng, từ người bán rau quả, người che giấu nỗi sợ hãi mất việc làm đằng sau cái cớ là sự quan tâm tới việc đoàn kết của vô sản toàn thế giới, cho đến những cơ cấu cao nhất, những người quan tâm đến việc ở lại ngôi cao có thể núp dưới những mệnh đề phục vụ giai cấp công nhân. Chức năng biện bạch cơ bản của ý thức hệ, do đó, là cho người ta, cả với tư cách là nạn nhân, và với tư cách là trụ cột của hệ thống hậu toàn trị, một ảo giác rằng hệ thống đang hòa hợp với trật tự con người và trật tự của vũ trụ.

Nền độc tài càng nhỏ và xã hội bên dưới nó càng ít phân tầng do hiện đại hóa thì ý chí của nhà độc tài càng được thực thi một cách trực tiếp. Nói cách khác, nhà độc tài có thể sử dụng các nguyên tắc hầu như trần trụi, tránh các quá trình phức tạp gắn với ý thức hệ nhằm liên hệ hắn với thế giới và để tự biện minh. Nhưng nếu các cơ chế quyền lực ngày càng phức tạp, và xã hội mà chúng cai trị càng trở nên rộng rãi và bị phân hóa hơn, nếu bề dày lịch sử vận hành của nền độc tài càng lớn, thì các cá nhân ngày càng bị buộc phải liên hệ với chúng từ bên ngoài, và các biện minh ý thức hệ ngày càng quan trọng hơn. Nó đóng vai trò như thể là cầu nối giữa chế độ và nhân dân, qua đó chế độ tiếp cận nhân dân và nhân dân tiếp cận chế độ. Điều này giải thích tại sao ý thức hệ đóng vai trò quan trọng đến thế trong hệ thống hậu toàn trị: thật không thể tưởng tượng nổi nếu cơ cấu phức tạp của các đơn vị, trật tự đẳng cấp, vô số van an toàn, và các công cụ gián tiếp đủ loại để giật dây - vốn đã đảm bảo cho sự hòa hợp của hệ thống bằng vô số cách khác nhau, không chừa chỗ cho ngẫu nhiên - lại có thể thiếu ý thức hệ trong vai trò như là biện minh chung cho hệ thống, đồng thời là biện minh của từng bộ phận.

IV.

Giữa các mục tiêu của hệ thống hậu toàn trị và các mục tiêu của cuộc sống có một vực thẳm luôn ngoác ra: trong khi cuộc sống, trong bản chất của nó, dịch chuyển tới đa cực, đa dạng, tự tổ chức và tự thiết chế, và tóm lại là tới sự thực hiện quyền tự do của nó, thì hệ thống hậu toàn trị đòi hỏi phục tùng, thống nhất và kỉ luật. Trong khi cuộc sống mãi mãi đòi hỏi tạo ra các cấu trúc mới và "khó đoán trước", hệ thống hậu toàn trị mưu toan trói buộc cuộc sống vào các trạng thái định trước. Các mục tiêu của hệ thống bộc lộ đặc điểm cơ bản nhất của nó là tính hướng nội, một chuyển dịch dần tới [việc phục vụ] hoàn toàn cho và không thể đảo ngược tới chính bản thân nó, cũng tức là bán kính ảnh hưởng của nó cũng phải không ngừng được mở rộng. Hệ thống này chỉ phục vụ con người trong chừng mực vừa đủ để con người phục vụ lại nó. Bất kì điều gì hơn thế, tức là bất kì điều gì dẫn con người tới việc vượt lên các vai trò định trước của họ, đều bị hệ thống coi là tấn công vào nó. Và trên phương diện này, nó đã đúng: bất kì ví dụ nào của sự lấn lướt như thế đều là sự phủ định hệ thống một cách thực sự. Vì thế, có thể nói rằng, mục tiêu nội tại của hệ thống hậu toàn trị không chỉ đơn thuần là sự bảo tồn quyền lực trong tay bè lũ thống trị, như mới nhìn thoáng qua thì có vẻ thế. Thay vào đó, hiện tượng xã hội của tự bảo tồn phải phục tùng cái gì đó cao hơn, phục tùng một kiểu tự vận hành máy móc mù quáng đang điều khiển hệ thống. Bất kể vị trí nào mà cá nhân nắm giữ trong trật tự đẳng cấp của hệ thống, họ không được hệ thống coi là có giá trị tự thân nào hết, mà chỉ là các vật nhằm bơm năng lượng và phục vụ sự tự vận hành máy móc này. Vì lý do đó, khát vọng quyền lực của một cá nhân chỉ có thể chấp nhận được nếu định hướng của nó trùng hợp với định hướng của cỗ máy tự động của hệ thống.

Ý thức hệ, khi đóng vai trò là cây cầu bào chữa nối giữa hệ thống và cá nhân, đã bắc dọc qua cái vực thẳm nối hai bờ mục tiêu của hệ thống và mục tiêu của cuộc sống. Nó giả như là các yêu cầu của hệ thống bắt nguồn từ các yêu cầu của cuộc sống. Nó là một thế giới hình thức đang tìm cách vượt qua hiện thực.

Hệ thống hậu toàn trị đụng chạm đến con người trong mỗi bước đi, nhưng nó làm thế với cái găng tay ý thức hệ. Chính vì điều này mà cuộc sống trong hệ thống mới thấm đẫm đạo đức giả tạo và những điều dối trá như thế: nhà nước của quan liêu thì lại được gọi là chính quyền nhân dân; người lao động bị nô dịch dưới cái tên giai cấp lao động; sự thoái hóa hoàn toàn của cá nhân thì được trình bày như là sự giải phóng tột bậc; bưng bít thông tin được gọi là cung cấp thông tin cho quần chúng, sử dụng quyền lực để giật dây thì được gọi là kiểm soát công cộng về quyền lực; lạm dụng quyền lực tùy tiện thì được gọi là tôn trọng luật pháp, đè nén văn hóa thì được gọi là phát triển văn hóa; sự mở rộng ảnh hưởng đế chế thì được trình bày như thể là giúp đỡ người bị áp bức; mất tự do ngôn luận trở thành hình thức cao nhất của tự do; các kì bầu cử lố bịch trở thành hình thức dân chủ cao nhất; cấm suy nghĩ độc lập thành thế giới quan khoa học nhất; chiếm đóng quân sự trở thành giúp đỡ anh em. Vì chế độ bị nhốt chặt trong những lời dối trá của nó, nó phải xuyên tạc tất cả. Nó xuyên tạc quá khứ. Nó bóp méo hiện thực và nó bịa đặt tương lai. Nó xuyên tạc thống kê. Nó giả đò như không nắm giữ các cơ quan an ninh có quyền lực vô hạn và đốn mạt. Nó vờ vĩnh tôn trọng các quyền con người. Nó giả đò như không kết án ai. Nó làm như không sợ bất kì điều gì. Nó giả vờ như không giả vờ gì cả.

Các cá nhân không cần phải tin vào tất cả những điều thần bí hóa này, nhưng họ phải hành xử như thể là họ tin, hoặc ít nhất họ phải nhân nhượng chúng trong im lặng, hoặc phải tử tế với những ai làm việc cho chúng. Tuy thế, bởi lí do này mà họ phải sống trong dối trá. Họ không cần chấp nhận sự dối trá. Chỉ cần họ chấp nhận sống cùng với nó và sống trong nó là đủ. Cũng chính vì sự thật này, mà chính các cá nhân đã xác nhận hệ thống, thành toàn cho hệ thống, làm nên hệ thống, và là hệ thống.

V.

Chúng ta đã thấy rằng ý nghĩa thực của khẩu hiệu của anh hàng rau quả chẳng liên quan gì đến cái mà những từ ngữ trong khẩu hiệu nói đến. Dù vậy, cái ý nghĩa thực này thật rõ ràng và nói chung là dễ hiểu, bởi vì mật mã thật giống nhau: anh hàng rau tuyên bố sự trung thành của anh ta (và anh cũng chẳng thể làm cách nào khác nếu muốn tuyên bố của mình được chấp nhận) theo cách duy nhất mà chính quyền có khả năng nghe thấy; tức là, bằng cách chấp thuận các giáo điều (ritual) định trước, bằng cách chấp nhận rằng cái vỏ bề ngoài chính là hiện thực, bằng cách chấp nhận các luật đã định của trò chơi. Tuy nhiên, trong khi làm việc đó, chính anh ta đã trở thành người tham gia trò chơi, và vì thế làm cho trò chơi có khả năng tiếp tục, và trước hết là làm cho nó có thể tồn tại.

Nếu ý thức hệ vốn khởi đầu chỉ là chiếc cầu bắc giữa hệ thống và cá nhân với tư cách là cá nhân, thì vào khoảnh khắc mà anh ta bước lên cầu, nó đã trở thành cây cầu nối giữa hệ thống và cá nhân ấy - với tư cách là bộ phận của hệ thống. Tức là, nếu ý thức hệ, vốn chỉ có thể tạo điều kiện (bằng hoạt động hướng ngoại) cho sự hình thành quyền lực với tư cách là một biện minh về mặt tâm lý, thì từ thời điểm mà sự biện minh ấy được chấp nhận, ý thức hệ lại tạo ra quyền lực hướng nội, trở thành một bộ phận năng động của quyền lực ấy. Nó đã bắt đầu hoạt động như là công cụ chính của việc truyền đạt tín điều bên trong hệ thống của quyền lực.

Toàn bộ cấu trúc quyền lực (và chúng ta đã thảo luận về sự thể hiện vật chất của nó) không thể tồn tại nếu không có một trật tự "siêu hình học" ràng buộc các bộ phận với nhau, kết nối chúng và quy phục chúng vào một phương pháp đồng nhất xác định tính khả tín, đặt ra các luật chơi cho sự vận hành hiệp đồng giữa tất cả những bộ phận này, tức là với các quy tắc, giới hạn và pháp lý nhất định. Trật tự siêu hình học này là căn bản và chuẩn mực của toàn bộ cấu trúc quyền lực; nó tích hợp hệ thống thông tin của nó và làm cho việc trao đổi và lưu chuyển các thông tin và mệnh lệnh trở nên khả thi. Nó cũng tương tự như một tập hợp các đèn hiệu giao thông và biển chỉ đường, tạo cho tiến trình một hình dạng và cấu trúc. Trật tự siêu hình học này đảm bảo sự cố kết bên trong của cấu trúc quyền lực toàn trị. Nó là chất keo gắn kết toàn bộ cấu trúc, là nguyên tắc bản lề, là phương tiện của kỉ luật hệ thống. Thiếu chất keo này, toàn bộ hệ thống với tư cách là cấu trúc toàn trị sẽ sụp đổ; nó sẽ tan vỡ thành các hạt nhân cá nhân va chạm hỗn loạn với nhau trong các quyền lợi và thiên hướng không được kiểm soát của họ. Toàn bộ kim tự tháp của quyền lực toàn trị nếu thiếu bộ phận gắn kết sẽ sụp đổ vào trong chính nó, như thể là một co rút vật chất [của các ngôi sao dưới trọng lực của chính nó -ND]

Là sự giải thích hiện thực mà cấu trúc quyền lực sở hữu, ý thức hệ luôn phục tùng những lợi ích của cấu trúc ấy trên hết. Vì thế, nó có xu hướng tự nhiên là li khai hiện thực, để tạo ra một thế giới của hình thức và trở thành giáo điều. Trong các xã hội có cạnh tranh quyền lực một cách công khai (và do đó có kiểm soát công khai về quyền lực), cũng tồn tại một cách khá tự nhiên [cơ chế] kiểm soát công khai- là cách mà quyền lực dùng để chính đáng hóa bản thân nó về mặt ý thức hệ. Hệ quả là, trong các điều kiện ấy, luôn tồn tại các cơ chế hiệu chỉnh nhất định ngăn chặn một cách hiệu quả việc ý thức hệ thoát ly hiện thực hoàn toàn. Nhưng dưới chế độ toàn trị, những cơ chế hiệu chỉnh này biến mất, và không có gì ngăn cản ý thức hệ ngày càng bị tách khỏi thực tiễn, dần tự biến mình thành cái như ngày nay trong hệ thống hậu toàn trị: một thế giới của vỏ hình thức, hoàn toàn giáo điều, một ngôn ngữ kinh viện đã bị tước đi những liên hệ nội dung với hiện thực và hoán cải mình thành một hệ thống biểu tượng giáo điều, hệ thống thay thế hiện thực bằng giả-hiện thực.

Tuy nhiên, như ta đã thấy, cùng lúc ấy, ý thức hệ lại biến thành thành tố ngày càng quan trọng của quyền lực, một trụ cột hứng đỡ cho nó cả tính chính đáng và sự nhất quán nội tại. Khi phương diện này trở nên quan trọng, khi mà nó ngày càng mất đi cảm nhận về hiện thực, thì nó lại thu được một sức mạnh tuy thế tục nhưng rất thực. Nó hóa thân thành hiện thực, thậm chí một hiện thực hoàn toàn độc lập. Một hiện thực mà thậm chí ở những tầng mức nhất định (chủ yếu là trong cấu trúc quyền lực) còn có trọng số cao hơn cả hiện thực ngoài đời. Cái tinh xảo của giáo điều ngày càng trở nên quan trọng hơn cả hiện thực ẩn đằng sau nó. Tầm quan trọng của hiện tượng không còn xuất phát từ bản thân hiện tượng nữa, mà từ vị trí của nó với tư cách là các khái niệm trong văn cảnh ý thức hệ. Hiện thực không quy định lý thuyết, mà ngược lại. Do đó, quyền lực dần dần xích lại với ý thức hệ hơn là với hiện thực; nó rút ra sức mạnh của mình từ lý thuyết và trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào lý thuyết. Điều này không thể tránh khỏi dẫn tới một kết quả nghịch lý: thay vì lý thuyết hay ý thức hệ phục vụ quyền lực, quyền lực bắt đầu hầu hạ ý thức hệ. Như thể là ý thức hệ đã chiết tách quyền lực từ quyền lực, như thể là chính nó đã trở thành nhà độc tài rồi vậy. Vì thế, có vẻ như là chính lý thuyết, chính tín điều, chính ý thức hệ ra các quyết định tác động vào con người, chứ không phải ngược lại.

Nếu như ý thức hệ là đảm bảo chính cho sự nhất quán nội tại của quyền lực, thì cùng lúc ấy, nó càng trở nên là đảm bảo quan trọng cho sự liên tục của quyền lực. Trong khi sự kế nhiệm quyền lực ở các nền độc tài cổ điển thường xuyên là một biến cố khá phức tạp (những kẻ tranh đoạt ngôi vị không có gì để khoác cho những tuyên bố của chúng một sự chính đáng nhất định, và vì thế buộc chúng phải dùng đến hình thức đụng độ quyền lực trần trụi), trong hệ thống hậu toàn trị, quyền lực được truyền từ người này sang người khác, từ nhóm này sang nhóm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác theo những phương cách về cơ bản là ổn định hơn. Khi chọn lựa những người kế nhiệm, một [cơ chế] "tạo vua" khởi động: chính là tính chính đáng do giáo điều mang lại, khả năng dựa vào giáo điều, thực hiện giáo điều và sử dụng nó, sẽ quyết định ai sẽ được sinh ra ở ngôi cao. Đương nhiên, tranh giành quyền lực tồn tại trong cả hệ thống hậu toàn trị nữa, và phần lớn chúng đều tàn bạo hơn so với các xã hội mở, vì sự tranh giành không công khai, không bị các quy tắc dân chủ kiềm chế, mà đều diễn ra sau hậu trường. (Thật khó kể ra được một dẫn chứng về việc thay thế Bí thư thứ nhất của một Đảng Cộng sản đang cầm quyền mà không có sự triển khai hàng loạt các đơn vị an ninh và vũ trang, ít nhất là đặt dưới tình trạng báo động). Tuy nhiên, sự giành giật này không bao giờ có khả năng đe dọa nền tảng của hệ thống và tính liên tục của nó (như nó có thể làm trong các nền độc tài cổ điển). Cùng lắm, nó cũng chỉ khuấy đảo cấu trúc quyền lực trong chốc lát - cái rồi sẽ phục hồi rất nhanh, chính bởi lẽ cái chất kết dính là ý thức hệ đã hoàn toàn không bị khuấy động. Không kể ai thay thế ai, sự kế tục chỉ khả thi khi nó diễn ra trước phông hậu cảnh đã dàn sẵn, trong khuôn khổ của giáo điều chung. Nó không bao giờ diễn ra theo cách phủ nhận giáo điều ấy.

Tuy nhiên, chính vì nền độc tài của giáo điều mà quyền lực trở nên vô danh. Các cá nhân hầu như tan biến trong giáo điều. Họ cho phép mình bị cuốn đi trong đó, và thường thì sự thể có vẻ như chính tín điều đã đem con người từ u tối đến ánh sáng của quyền lực. Chẳng phải đó chính là đặc trưng của hệ thống hậu toàn trị, là trên mọi tầng nấc của trật tự quyền lực, cá nhân ngày càng bị đẩy sang bên lề bởi những con người không cá tính, những bù nhìn, những tên hầu mặc đồng phục của những tín điều và thông lệ của quyền lực đó sao?

Sự vận hành máy móc của cấu trúc quyền lực bị phi nhân hóa và vô danh hóa là một đặc điểm của tính tự động của hệ thống này. Dường như chính là các mệnh lệnh (diktats) của cỗ máy tự động này là cái đã chọn ra những người không có chí nguyện cá nhân cho cấu trúc quyền lực. Và cũng có vẻ như chính là các dicktats của các sáo ngữ đã triệu tập đến cho quyền lực các cá nhân biết sử dụng sáo ngữ làm [công cụ] hữu hiệu nhất để bảo đảm sự tự vận hành của hệ thống hậu toàn trị vẫn tiếp tục.

Các nhà Xô viết học phương Tây thường phóng đại vai trò của các cá nhân trong hệ thống hậu toàn trị và bỏ qua sự thật là các nhân vật lãnh đạo, bất chấp quyền lực to lớn họ có từ cấu trúc tập trung quyền lực, thường không hơn là người thực thi mù quáng các quy luật nội tại của hệ thống - các quy luật mà chính họ không bao giờ có khả năng hiểu, mà cũng không bao giờ suy nghĩ đến. Trong bất cứ trường hợp nào, kinh nghiệm đã dạy đi dạy lại chúng ta rằng sự tự vận hành này mạnh mẽ hơn nhiều lần ý chí của bất cứ cá nhân nào, và nếu ai đó có chút suy nghĩ độc lập thì anh ta buộc phải che giấu nó sau cái mặt nạ vô danh về giáo điều mới hòng có cơ hội vào được hệ thống đẳng cấp quyền lực. Khi cá nhân ấy cuối cùng giành được một vị trí trong đó, và cố gắng thực hiện hoài bão của mình, thì cái cỗ máy tự vận hành ấy (với sức ỳ vĩ đại) sớm muộn sẽ chiến thắng, và hoặc là cá nhân sẽ bị đào thải bởi cấu trúc quyền lực như là sinh vật lạ, hoặc là anh ta sẽ bị buộc phải dần dần từ bỏ cá tính của mình, để một lần nữa hòa trộn với cỗ máy, trở thành nô lệ của nó, hầu như không phân biệt nổi với những người đi trước và những người tiếp sau anh ta (cho phép chúng tôi nhắc lại, ví dụ, sự phát triển của Husák [4] hay Gomulka [5] ). Sự cần thiết phải luôn náu mình dưới giáo điều và liên hệ với nó có nghĩa là thậm chí các thành viên sáng giá của cấu trúc quyền lực cũng bị ám ảnh bởi ý thức hệ. Họ không bao giờ có khả năng lặn xuống đáy sâu của hiện thực trần trụi, và họ luôn nhầm lẫn nó, trong những kết luận cuối cùng, với các giả-hiện thực của ý thức hệ. (Theo quan điểm của tôi, một trong những lý do ban lãnh đạo của Dubcek mất kiểm soát tình hình năm 1968 chính là vì, trong những tình huống gay cấn và trong những vấn đề quyết định, thành viên của nó chưa bao giờ đủ sức giải phóng họ khỏi thế giới của các vỏ bọc hình thức.)

Do đó, có thể nói, trong hệ thống hậu toàn trị, ý thức hệ (với vai trò là công cụ truyền đạt nội bộ, bảo đảm sự nhất quán nội tại cho cấu trúc quyền lực) là cái gì đó vượt lên các khía cạnh vật chất của quyền lực, một cái gì đó thống trị quyền lực ở mức độ đáng kể, và do đó có xu hướng đảm bảo sự liên tục của quyền lực. Nó là một trong những trụ cột của sự ổn định bên ngoài của hệ thống. Trụ cột này, tuy thế, được xây dựng trên nền đất yếu. Nó được dựng trên những lời dối trá. Nó chỉ dùng được chừng nào mà con người còn sẵn sàng sống trong sự dối trá ấy.

Nguồn: Talawas

___________________________________________
Chú thích:

[1]Tiêu đề bản tiếng Anh: “Power of the Powerless”, được Bác sỹ Phạm Hồng Sơn chuyển ngữ thành “Quyền lực của không quyền lực” (phụ lục bản dịch Thế nào là dân chủ?). Chúng tôi dùng cách dịch của Sơn để tỏ lòng ngưỡng mộ anh, người trí thức trẻ đã bắt đầu việc truyền tải tư tưởng dân chủ của nhân loại trước chúng tôi.

[2]Tư tưởng của Havel đã vạch đường cho lý thuyết chính trị học về chế độ toàn trị sau này. Xem một phân về hậu toàn trị trong “Chế độ hậu toàn trị-so sánh với độc tài” của Juan Linz và Alfred Stepan do nhóm Duy Tân trẻ dịch, đăng trên talawas.

[3]Để mô tả hệ thống hậu toàn trị, nhiều nhà kinh tế, nhà chính trị học ưu tú của Đông Âu cũng đã làm. Xem, ví dụ: Hệ thống kinh tế XHCN của Janos Kornai, do Nguyễn Quang A dịch; hoặc Giai cấp mới của Milovan Djilas do Phạm Minh Ngọc dịch.

[4]Gustav Husák (1913-1991): gia nhập đảng Cộng sản năm 1933, tham gia lãnh đạo chống sự chiếm đóng của Đức trong Thế chiến II. Sau chiến tranh, nắm giữ các chức vụ trong đảng và nhà nước. Năm 1951, trong chiến dịch thanh lọc của đảng, bị bắt và bỏ tù. Được thả năm 1960, được tái gia nhập đảng năm 1963, kêu gọi tự do hóa chính trị và tự trị cho Slovakia. Sau khi Antonín Novotný từ chức năm 1968, Husák trở thành Phó Thủ tướng, và là một kiến trúc sư của cải cách năm 1968. Sau khi Liên Xô đưa quân vào Tiệp, Husák trở nên ngày càng thân Sô-viết. Tháng Tư 1969, trở thành Bí thư đảng.Trong thời gian cai trị của Husák, Tiệp Khắc đã trở thành một nhà nước cảnh sát. Năm 1975 Husák hợp nhất chức vụ Bí thư đảng với Chủ tịch nước, và rồi từ chức Tổng Bí thư năm 1987 nhưng giữ vị trí Chủ tịch đến năm 1989, khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Czechoslovakia. Thay vào vị trí của Husák chính là Václav Havel, ở cương vị Tổng thống, vào ngày 29.12.1989 (talawas.)

[5]Vladyslaw Gomulka (1905-1982): gia nhập đảng Cộng sản Ba Lan năm 1926, sống sót qua cuộc đại thanh lọc năm 1938 dưới bàn tay của Stalin. Từ năm 1943, góp phần phục hồi lại đảng này với danh xưng Đảng Công nhân Ba Lan, và trong những năm đầu sau chiến tranh đã trở thành nhân vật quan trọng hàng đầu của đảng (chính ông tự gọi mình là “người bá quyền lãnh đạo của Ba Lan”). Nhưng trong những năm 1951-1954, do đấu đá phe phái trong đảng, bị lên án là “cánh hữu”, “phản động”, và bị bỏ tù. Năm 1956, khi bắt đầu tiến trình “giải Stalin”, ông được phục hồi và được bầu lãnh đạo Đảng Công Nhân Thống nhất Ba Lan, dần dần chống lại sức ép của Liên Xô một cách mềm mỏng. Tuy nhiên, với tư cách thành viên của khối Hiệp ước Warsaw, ông đã đưa quân vào Tiệp Khắc năm 1968. Gomulka cũng chịu trách nhiệm cho việc ngược đãi sinh viên và giới trí thức, cùng một chế độ kiểm duyệt ngặt nghèo đối với truyền thông. Tháng 12 năm 1970, sau vụ xung đột đẫm máu với công nhân đóng tàu, Gomulka bị buộc phải từ chức, Edward Gierek nắm quyền lãnh đạo đảng. Dù sao, sau khi chết, một số đóng góp có tính xây dựng của Gomulka cũng đã được nhìn nhận (talawas).

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Nguyễn Trần Bạt: Đổi mới, cải cách và cách mạng

Thời đại trước, phương pháp lãnh đạo bằng cách mạng đã từng đóng một vai trò rất quan trọng, thậm chí một số nước còn tuyệt đối hóa vai trò của nó trong việc thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thế giới ngày nay đã có những thay đổi cơ bản và việc lãnh đạo bằng phương pháp cách mạng không còn phù hợp nữa, cần phải phát triển bằng một phương pháp lãnh đạo mới, phương pháp lãnh đạo phi cách mạng.

Phần đầu của cuốn sách này sẽ tập trung phân tích vai trò của phương pháp lãnh đạo phi cách mạng để thấy được sự tất yếu phải phi cách mạng hóa đời sống phát triển của con người, nói cách khác là thấy được tính quy luật của đổi mới, cải cách để phát triển.

Trước khi đi sâu phân tích về tính quy luật của đổi mới, thiết nghĩ cần phải tìm hiểu về ba khái niệm: đổi mới, cải cách và cách mạng và quan hệ giữa chúng với nhau. Đổi mới, cải cách và cách mạng là ba phạm trù khác nhau để miêu tả một sự thay đổi, mặc dù người ta rất hay nhầm lẫn trong việc sử dụng chúng. Nói đúng hơn, đổi mới, cải cách và cách mạng là ba phương thức để tạo ra sự thay đổi ở ba mức độ khác nhau và trên những phạm vi khác nhau.

Trước hết, cần phải hiểu đổi mới là quá trình mang tính chủ động, nằm trong quy luật vận động và phát triển tự thân của sự vật. Điều này có nghĩa đổi mới là một công việc diễn ra hằng ngày. Bất kỳ sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn luôn trải qua quá trình đổi mới như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống. Câu nói rất nổi tiếng của Heraclite "Không ai tắm hai lần trên một dòng sông" đã nói lên tinh thần này. Vì thế, đổi mới ít nhiều hàm nghĩa vận động, tức là sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng, dân tộc và thậm chí cả thế giới muốn phát triển bình thường cần phải đổi mới thường xuyên và tự đổi mới. Một hệ thống đạt được tiêu chí này là đạt đến tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng nhất để được công nhận là hoàn thiện và tối ưu.

Khác với đổi mới, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định. Cải cách còn có thể hiểu là sự điều chỉnh lớn đối với các cấu trúc chính trị, văn hóa của xã hội, cần phải có sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng xã hội. Do đó, cải cách sẽ tạo ra những thay đổi mang tính hệ thống hơn, trên quy mô rộng lớn, sâu sắc cũng như triệt để hơn về mức độ. Trong một số trường hợp, nó còn dẫn tới cả những thay đổi về tư duy hành động cũng như định hướng phát triển. Điểm giống nhau căn bản giữa đổi mới và cải cách là tính có kiểm soát, hay tính có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, rất khác với đổi mới, cải cách không thể là một công việc diễn ra hằng ngày, nó có thể tạo ra ít nhiều xáo trộn cùng những hậu quả không mong đợi. Vì thế, nó chỉ được thực hiện dựa trên những nghiên cứu và cân nhắc thấu đáo về mục đích, hậu quả, và người ta cần phải đủ dũng cảm để chấp nhận cái giá phải trả cũng như đủ bản lĩnh, đủ lòng tin để khắc phục những hậu quả ấy.

Khác với đổi mới và cải cách, cách mạng, hiểu theo nghĩa căn bản nhất, là sự thay thế cái cũ bằng một cái mới tiến bộ hơn. Nguyên nhân dẫn đến những cuộc cách mạng không phải là tính biệt lập hay chậm phát triển của thế giới, mà chính là một xã hội phi dân chủ, một xã hội đạo đức giả, một xã hội độc tài. Tại sao? Bởi tất cả những nhân tố này đã dẫn đến những tích tụ trong đời sống và trong xã hội cái được gọi là mâu thuẫn. Đến lượt mình, các mâu thuẫn ấy tạo ra sự bùng nổ. Sự bùng nổ của các mâu thuẫn được gọi là cách mạng. Như vậy, diễn đạt theo một cách khác, cách mạng là quét sạch cái cũ và tạo tiền đề cho cái mới xuất hiện và phát triển. Trước đây, các cuộc cách mạng có ý nghĩa vì nó giải quyết một loạt các vấn đề tích tụ của xã hội và tạo ra ảnh hưởng đối với tiến trình phát triển của nhân loại, nhưng giờ đây, càng ngày nó càng mất dần vai trò của mình, trở thành một hiện tượng tiêu cực.

Mặt khác, con người luôn có khuynh hướng lạm dụng tính ổn định tương đối của đời sống nên đã không đổi mới kịp thời, và do đó, khi các vấn đề của xã hội tích tụ đến một mức nhất định sẽ dẫn đến cách mạng. Khi không còn chịu được sự lạc hậu về chính trị, người ta phải làm cách mạng xã hội. Khi không còn chịu được sự lạc hậu về mặt kinh tế, người ta làm cách mạng kinh tế, và khi không chịu được sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật, người ta tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật. Trong bất kỳ trường hợp nào, cách mạng, luôn là kết quả của quá trình khất lần sự đổi mới đời sống và các mặt của đời sống; nói cách khác, cách mạng là kết quả của sự khất lần lười biếng và hèn nhát của các yếu tố chính trị.

Mặt trái cơ bản của cách mạng là tạo ra sự đứt gẫy các cấu trúc, đặc biệt là cấu trúc văn hoá. Cách mạng phá vỡ tính liên tục của các thói quen văn hoá, các thói quen sinh hoạt của đời sống. Để khâu vá những đoạn đứt gẫy ấy, con người phải mất thời gian hơn nhiều so với để cho cấu trúc đó phát triển một cách tự nhiên. Con người thường tưởng rằng mình có tự do nhưng thực ra con người lệ thuộc rất nhiều vào các cấu trúc. Cấu trúc hoàn toàn không phải chỉ là hoạt động nhân tạo hay chủ động của con người. Cấu trúc có thể là cấu trúc thời gian như quá khứ, hiện tại và tương lai, có thể là cấu trúc không gian như những vùng sáng tối khác nhau, các châu lục khác nhau, các vùng địa lý khác nhau, các vùng văn hóa khác nhau, các vùng tôn giáo khác nhau... Tất cả các sự trói buộc mang tính cấu trúc như vậy sẽ bị đứt gẫy nếu con người tiếp tục đi theo con đường cách mạng. Mất 25 năm Giáo hoàng John Paul II mới tạo ra được trạng thái có thể đối thoại được giữa các tôn giáo và giữa tôn giáo với chính trị, mà nhân loại phải mất hàng trăm năm mới có được một người như Giáo hoàng John Paul II. Như vậy mất hàng trăm năm nhân loại mới tiệm cận được đến một trạng thái, một cấu trúc hợp lý. Với mỗi dân tộc cũng vậy, để tiệm cận được một trạng thái xã hội hợp lý và ổn định tương đối thì các dân tộc cũng phải mất những khoảng thời gian nhất định. Ví dụ trên phần nào thể hiện tỷ lệ của những hoạt động chủ động, những đóng góp mang tính chủ động của con người so với quá trình phát triển tự nhiên. Nếu nhân loại cứ tiếp tục sử dụng phương pháp cách mạng thì có nghĩa là sẽ tiếp tục phá vỡ các liên kết, các cấu trúc mà trên đó trạng thái hòa bình của đời sống được xây dựng. Tóm lại, các cuộc cách mạng tạo ra sự đứt gẫy và phá hoại tính liên tục của sự phát triển hay tính kiên nhẫn của cả tự nhiên lẫn con người.

Chúng tôi cho rằng, trong tất cả mọi sự phá hoại cấu trúc do các cuộc cách mạng gây ra, sự phá hoại cấu trúc sở hữu là phá hoại lớn nhất, để lại những di chứng lịch sử trầm trọng nhất. Việc sửa chữa khó đến mức chúng ta có thể không loại trừ khả năng phải làm một cuộc cách mạng chỉ để khôi phục lại trạng thái thông thường, tức tái tạo yếu tố sở hữu trong đời sống kinh tế. Thực tế lịch sử cho thấy, nhiều cuộc cách mạng đã phá vỡ lịch sử hình thành các quyền về sở hữu, tâm lý sở hữu hay phá vỡ toàn bộ nền văn hóa sở hữu. Nó làm thay đổi các chủ sở hữu một cách cưỡng bức, thay đổi các cấu trúc chính trị một cách cưỡng bức, thay đổi các cấu trúc kinh tế và thương mại một cách cưỡng bức. Tóm lại, cách mạng làm đứt gẫy các mạch cơ bản của cuộc sống, thậm chí là toàn bộ lịch sử hình thành các tâm lý truyền thống của con người liên quan đến sự phát triển của xã hội.

Xin được nói rõ hơn về sự phá hoại cấu trúc truyền thống của sở hữu do một số cuộc cách mạng gây ra. Bản thân tôi chưa hình dung ra trong cuộc sống có sự phá hoại nào lớn hơn thế. Cuộc sống là một tiến trình liên tục, mọi sự can thiệp vào đều làm ngắt đoạn và dẫn tới những hậu quả vô cùng khủng khiếp. Tôi cho rằng, tính liên tục của cuộc sống được bảo đảm chính bằng sở hữu. Bất kỳ chế độ sở hữu nào cũng có hai phần: phần vật chất và phần cấu trúc các quyền. Sở hữu không phải là một khái niệm vật chất mà là một khái niệm tinh thần. Đúng hơn, đó là một khái niệm đạo đức, một khái niệm văn hóa. Sự phá vỡ các cấu trúc truyền thống về sở hữu, do đó, chính là sự phá vỡ các giá trị tinh thần của đời sống sở hữu. Vật chất thường xuyên thay đổi, di chuyển từ chủ này sang chủ khác. Trong chế độ sở hữu nào cũng có sự dịch chuyển của các vật từ người sở hữu này tới người sở hữu khác, và đó chính là quá trình thương mại. Sự phá vỡ các quan niệm, các hệ thống xã hội về sở hữu phá vỡ toàn bộ quá trình quan trọng hơn cả sở hữu, đó là quá trình thương mại. Sự ngăn cản tiến trình phát triển thương mại của xã hội đồng nghĩa với sự phá vỡ tính liên tục của cuộc sống.

Mặt khác, cách mạng còn để lại những hẫng hụt trong nhận thức của con người. Cách mạng phá vỡ tính liên tục của tâm hồn, để lại những vết sẹo rất cộm, những thương tật rất nghiêm trọng cho đời sống, cho sự phát triển liên tục của đời sống. Con người không đủ trí tuệ, không đủ nhận thức và khát vọng để kiến tạo và hưởng thụ cuộc sống của mình, do đó không thể phát triển được. Những con người như vậy khi ra khỏi một tiến trình cách mạng không còn đủ năng lực hay không thể trở thành đầu vào của một tiến trình chính trị khác - là đời sống phi cách mạng hay đời sống hòa bình của nhân loại.

Đó là những di họa của các cuộc cách mạng mà nếu không nhanh chóng nhận ra thì con người sẽ tiếp tục không làm chủ được đất nước của mình. Nếu xã hội tiếp tục là sở hữu của các tập đoàn chính trị, thậm chí người ta xây dựng các pháp chế để hợp pháp hóa vai trò làm chủ xã hội về mặt chính trị của các tập đoàn chính trị thì tức là không có nhân dân trong đó, tức là không có dân chủ. Ở đây, lý thuyết về cải cách chứng minh tính duy nhất đúng của biện pháp cải cách. Cải cách là sự tác động chủ quan trên cơ sở nhận thức đúng đắn của các thể chế chính trị làm biến đổi chính nó và biến đổi xã hội một cách tích cực, đồng thời trả lại cho dân chủ bản chất vốn có của nó như một quyền tự nhiên, một trạng thái tự nhiên của cuộc sống.

Hãy xem xét một loạt sự kiện chính trị diễn ra gần đây ở Gruzia, Ukraine hay Kyrgyzstan. Những đòi hỏi của tình thế đã đặt ba nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ này phải tiến hành cách mạng dân chủ. Những cuộc cách mạng đó, không nghi ngờ gì, là kết quả của sự khất lần của các yếu tố chính trị đòi hỏi phải cải cách. Thực ra, phương pháp của những diễn biến đó không phải là cách mạng "nhung" hay cách mạng "cam" như báo chí vẫn viết mà đấy là những cuộc cách mạng thực sự. Tôi cho rằng không có cái gọi là "cách mạng nhung" vì mọi cuộc cách mạng đều không hề nhung lụa. Tất cả các cuộc cách mạng đều là kết quả của sức ép của bạo lực, chỉ khác ở chỗ là có vũ trang hay không có vũ trang mà thôi. Bản chất của sức ép bạo lực là gây ra nỗi lo sợ của con người và đây mới là căn bệnh dai dẳng tồn tại sau các cuộc cách mạng. Nỗi lo sợ của các bộ phận khác nhau trong đời sống xã hội chính là di chứng quan trọng nhất của các cuộc cách mạng. Vì thế, xét về mặt con người thì không có cuộc cách mạng nào gọi là cách mạng nhung cả. Hơn nữa, những kẻ tiến hành cách mạng nhung rất lo sợ những cuộc cách mạng nhung khác và họ sẽ đề kháng; dần dần, họ trở thành những kẻ độc tài để tiếp tục duy trì quyền lực của mình. Sau các cuộc cách mạng nhung ấy, những kẻ bị cách mạng lật đổ không chết; thậm chí, sau phút bàng hoàng họ sẽ tiếp tục chuẩn bị lực lượng để tạo ra một cuộc cách mạng khác đem lại địa vị chính trị cho họ. Cho nên, cách mạng chính là đẩy toàn bộ xã hội vào một tiến trình cướp giật quyền lực và do đó, cuộc cách mạng đó không được gọi là cách mạng nhung.

Mọi sự thay đổi thể chế đều là kết quả của cách mạng. Những sự kiện ở một loạt nước cộng hòa cũ của Liên Xô là minh chứng về sự đứt gẫy các cơ cấu, các cấu trúc - kết quả tất yếu của sự trì hoãn cải cách. Sự trì hoãn, khất lần của quá trình hợp lý hóa các cấu trúc của đời sống đã dẫn đến trong xã hội tích tụ ngày càng nhiều những mâu thuẫn và cách mạng là không thể tránh khỏi. Trước đó, những quốc gia này, đặc biệt là những nhà lãnh đạo của nó đã không ý thức được sự cần thiết phải cải cách triệt để để tiến tới một tiến trình dân chủ và một hệ thống chính trị ổn định thực sự. Những sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì chúng thêm một lần nữa cảnh báo về sự đổ vỡ toàn cầu của các không gian hậu Xô Viết, hướng tới một nền tự do dân chủ cho các nước cộng hòa SNG cũ. Chắc chắn là, trong thời đại mà dân chủ hóa là một điều kiện tất yếu để cạnh tranh và phát triển như hiện nay nếu chính phủ của bất kỳ quốc gia nào không đảm bảo một nền dân chủ thực sự, thì sẽ không thể tránh khỏi nguy cơ bị lật đổ bởi sự phản kháng của dân chúng nhằm đòi tự do và quyền làm chủ đất nước.

Như vậy, cách mạng là một quá trình mà các nhà chính trị đương quyền, thậm chí cả xã hội không còn kiểm soát được nữa. Điều này khác về chất so với đổi mới và cải cách vì cách mạng tạo ra những thay đổi ở mức độ toàn diện và sâu sắc hơn cả những thay đổi cộng hưởng mà đổi mới và cải cách mang lại. Nó thể hiện qua sự đổ vỡ và triệt phá các thành tựu không chỉ thuần tuý về mặt vật chất mà cả trên phương diện tinh thần. Cần phải hiểu rằng, cách mạng chỉ như giải pháp cuối cùng để khắc phục hậu quả của những khuyết điểm mang tính chồng chất của một hệ thống. Nếu cách mạng xảy ra thì không chỉ những người điều hành trước cuộc cách mạng mà ngay cả những người điều hành sau cuộc cách mạng đều phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để cho tình trạng xã hội trì trệ đến mức buộc phải cách mạng.

Những người kém hiểu biết, hoặc cố tình ngụy biện, thường cho rằng có những giải pháp mềm mại, thay vì các liệu pháp sốc để giải quyết hậu quả của các cuộc cách mạng, quên mất rằng bản thân các các cuộc cách mạng đã là các liệu pháp sốc để phát triển. Nếu cách mạng là sự thay thế hệ thống này bằng một hệ thống khác thì cải cách là sự cải tiến, cải thiện và hợp lý hóa một hệ thống, do đó ít tốn kém và đổ vỡ hơn rất nhiều. Con người cần phải luôn cải cách, cải thiện các hệ thống đang tồn tại để phục vụ cho những trạng thái mới của đời sống phát triển. Đó chính là lý do vì sao thế giới hiện đại không còn thích hợp và trên thực tế cũng không cần đến các cuộc cách mạng nữa.

Nguyễn Trần Bạt
Nguồn: Sách Cải cách và sự phát triển

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Bài giảng trên núi

Bài giảng trên núi (Tranh Carl Heinrich Bloch)
Như Đức Giêsu đã nói rõ rằng có những người giữ theo nghĩa đen từng chữ của Lề luật và có những người giữ theo tinh thần của  Khi Đức Giêsu quay lại bờ hồ Galilê, dân chúng từ Giêrusa-em và từ khắp miền Giuđêa lũ lượt đi theo ngài. Họ đến với ngài từ các làng mạc và thị trấn miền Galilê và từ vùng đất bên kia sông Giođan. Tại Tia, tại Siđôn và tại Xyria, họ nghe nói tới ngài. Họ đến gặp ngài với những đau ốm và tật bệnh của mình, cùng tất cả những ai bị ám ảnh bởi cái ác đang hành hạ linh hồn mình.

Đức Giêsu cứu chữa họ, hàng chục, hàng hai chục, hàng trăm người. Ngài trị lành người bại liệt và người kinh phong. Ngài xua đuổi đau đớn, quỉ dữ, và ngay cả chính cái chết. Dần dần, ngài chẳng thể nào tiếp xúc hết tất cả những ai đến với ngài. Có thời kỳ Đức Giêsu phải yêu cầu môn đệ đậu sẵn thuyền chờ ngài để trong trường hợp đám đông chen lấn xô đẩy ngài quá khiến ngài không thể giảng dạy hoặc cứu chữa gì được, thì chở ngài ra xa bờ một quãng, và từ trên chiếc thuyền đó ngài có thể rao giảng. Lúc này, danh tiếng của ngài vang lừng. Ngài đã chữa lành rất nhiều người. Vô số người tập trung đông đảo chung quanh ngài để ngài chạm vào người họ, chữa trị cho họ.

Cuối cùng, rõ ràng là Đức Giêsu không thể thực hiện công cuộc của mình nếu không có người khác phụ giúp, không chỉ trong việc giảng dạy mà còn cả việc cứu chữa. Nhiều người đã đi theo ngài và vẫn đi theo ngài, những người tự xem mình là môn đệ vì họ tin vào ngài và yêu thương ngài, và trong số những người ấy, ngài đã chọn ra bốn người để thực hiện công cuộc của ngài. Lúc này, Đức Giêsu biết rằng mình phải chọn thêm. Vì thế, vào một đêm nọ, ngài một mình lên núi cầu nguyện. Ngài trải qua suốt đêm trong nguyện cầu với Đức Chúa Cha của mình.

Sáng hôm sau, Đức Giêsu gọi hết thảy các môn đệ tới. Ngài nói ra tên mười hai người được ngài chọn làm tông đồ. Những người này sẽ ở với ngài để có thể phụ giúp khi gặp việc trong tầm tay hoặc được sai đi rao giảng ở những nơi mà nếu làm việc một mình, ngài không tới đó được. Khi nhóm mười hai tới với Đức Giê-su, ngài ban cho họ quyền năng chữa lành mọi bệnh tật và thẩm quyền trục xuất các thần ô uế hoặc quỉ dữ.

Như thế, tên của các tông đồ được ngài đã chọn là: Simôn, kẻ được ngài đặt tên là Phêrô; Giacôbê một và Gioan, hai con trai của Dêbêđê; Philípphê và bạn ông là Batôlômêô, cũng được gọi là Nathanaen; Tôma; Mátthêu, người từng là kẻ thu thuế; Giacôbê hai, con của Anphê; Simon, người Canaan, có biệt danh là Quá khích; Giuđa, còn gọi là Tađêô, em của Giacôbê hai; và Giuđa Ítcariốt, người sẽ trở thành kẻ phản bội.

Khi Đức Giêsu xuống núi với nhóm mười hai tông đồ được chọn đó, ngài lại thấy các đám đông đang chờ mình. Sự thiện hảo từ ngài tuôn trào khi dân chúng xô đẩy tư bề và chạm vào người ngài. Ngài chữa lành cho hết thảy những ai bệnh tật và rối loạn bởi thần ô uế. Nhưng thấy đám đông khổng lồ đó và biết rằng trong những tháng sắp tới mình sẽ gặp nhiều hơn thế này nữa, ngài quyết định rằng mình không thể chờ đợi thêm mà nay phải ra sức dạy bảo các tông đồ. Ngài lại lên một hòn núi với nhóm mười hai được chọn. Tại chỗ đó, Đức Giêsu ngồi xuống. Ngài bắt đầu nói với các tông đồ, đồng thời cũng có ý nói cho đám đông đang đi lên nghe. Và họ không quấy rầy Đức Giêsu khi ngài dạy dỗ nhóm mười hai.

Ngài nói:

– Anh em phải biết điều này và hãy luôn luôn ghi nhớ rằng:

"Phúc thay cho những ai có tinh thần nghèo khó,

những ai cảm thấy cần nhu cầu tinh thần,

vì nước trời thuộc về họ;

"Phúc thay cho những ai than khóc

vì họ sẽ được ủi an;

"Phúc thay cho những ai khiêm tốn

vì họ sẽ được thừa hưởng đất đai;

"Phúc thay cho những ai đói khát sự công chính

vì họ sẽ được no đầy;

"Phúc thay cho những ai có lòng từ bi

vì họ sẽ được thương xót;

"Phúc thay cho những ai tâm hồn tinh khiết

vì họ sẽ thấy Thiên Chúa;

"Phúc thay cho những ai xây dựng hoà bình

vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa;

"Phúc thay cho những ai bị ngược đãi

bởi sự công chính của mình

vì nước trời là của họ;

"Phúc thay cho anh em khi người ta sỉ nhục và ngược đãi "Hãy hân hoan và hãy hết sức vui mừng vì phần thưởng của anh em lớn lao ở trên trời; vì các ngôn sứ đi trước anh em cũng đã bị ngược đãi như vậy."

Ít ra là một lần, đám đông chen chúc đó tuyệt đối im lặng và lắng nghe khi Đức Giêsu tiếp tục nói với mười hai tông đồ và giải thích với họ rằng ngài muốn họ là loại người nào, vì chính họ và vì ngài. Ngài nói rằng:

"Anh em là muối cho đời. Nhưng nếu muối lạt đi thì lấy gì làm cho nó mặn lại? Lúc đó muối vô dụng, chỉ việc quăng ra ngoài cho người ta đạp lên thôi.

"Anh em là ánh sáng cho thế gian. Một thành xây trên đồi thì không thể che giấu. Người ta không thắp đèn lên rồi giấu đèn đi. Họ đặt nó trên giá đèn để rọi sáng cho mọi người trong nhà. Do đó, hãy để ánh sáng của anh em chói lọi trước loài người để họ thấy được những việc tốt lành của anh em và để họ vinh danh Cha của anh em, đấng ngự trên trời.

"Đừng nghĩ rằng ta đến để phế bỏ Lề luật hay các ngôn sứ; ta không đến để phế bỏ mà là để kiện toàn. Vì ai vi phạm điều nhỏ nhất trong các giới răn và dạy cho người khác phạm như vậy, kẻ đó sẽ bị xem là nhỏ nhất trong nước trời. Nhưng ai tuân giữ và giảng dạy các giới răn, kẻ đó sẽ được xem là lớn lao trong nước trời. Ta nói với anh em rằng nếu đức công chính của anh em không vượt quá lòng công chính của các kinh sư và người Pharisêu, anh em sẽ không bao giờ được vào nước trời.

"Anh em từng nghe thuở xưa người ta bảo với loài người rằng người bị kẻ khác làm hại thì nên làm hại kẻ đó ngang như vậy. Người ta đã nói rằng 'Mắt đền mắt, răng đền răng'.  Nhưng ngày nay không phải thuở xưa. Ngày nay, ta nói với anh em rằng đừng kháng cự lại việc kẻ khác làm hại mình, và ngược lại, đừng làm hại kẻ khác. Nếu có ai vả anh em trên má phải, hãy đưa luôn má kia ra cho nó. Nếu có ai muốn kiện anh em ra pháp đình và lấy đi áo ngoài của anh em, thì hãy đưa cho nó cả áo trong nữa. Và nếu có ai bắt anh em đi với nó một dặm, thì hãy đi với nó hai dặm. Ai yêu cầu anh em giúp đỡ thì hãy giúp đỡ nó; và nếu ai muốn mượn cái gì của anh em thì anh em đừng ngoảnh mặt đi. Anh em muốn người ta đối xử với anh em như thế nào thì anh em hãy đối xử với người ta như thế đó.

"Anh em thường nghe người ta nói rằng 'Ngươi nên yêu thương người bên cạnh và căm ghét kẻ thù'. Nhưng ta nói với anh em rằng 'Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em'. Lúc đó, anh em sẽ quả thật là con của Cha anh em, đấng ngự trên trời, vì ngài khiến mặt trời của ngài mọc trên kẻ ác lẫn người thiện, và ngài gởi mưa đến cho người công chính lẫn kẻ bất chính, và ngài tử tế với kẻ vô ơn và kẻ gian ác cũng y hệt như ngài tử tế với người biết ơn và người ngay lành. Vì thế, anh em hãy có lòng từ bi như Cha của anh em có lòng từ bi.

"Nếu anh em chỉ yêu thương những ai yêu thương anh em thôi, thì tại sao anh em trông mong phần thưởng? Không phải kẻ thu thuế cũng làm giống như vậy sao? Nếu anh em chỉ cư xử tốt lành với những ai đối đãi tốt lành với anh em thôi, thì tại sao anh em trông mong phần thưởng? Kẻ tội lỗi cũng làm giống như vậy. Và nếu anh em chỉ cho mượn những ai mà anh em hy vọng họ sẽ đền đáp thì tại sao anh em cho rằng mình xứng đáng với lời cám ơn? Kẻ tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi mượn, lại còn được đền đáp nữa!

"Ta nói với anh em, chính kẻ thù của anh em mới là những người anh em nên yêu thương! Hãy chúc lành cho những ai nguyền rủa anh em. Hãy cư xử tốt lành với những ai hận thù anh em. Hãy cầu nguyện cho những ai đối xử tệ hại với anh em. Hãy cho mượn những ai đang cần mà không hi vọng sẽ được đền đáp chút nào. Lúc ấy phần thưởng của anh em sẽ lớn lao!

"Do đó, hãy toàn hảo, vì Cha trên trời của anh em là đấng toàn hảo.

"Và hãy thận trọng để anh em không làm những hành vi tốt lành trước mặt công chúng với mục đích cho người khác trông thấy. Nếu làm như vậy, anh em sẽ không được phần thưởng nào của Cha trên trời. Do đó, khi anh em làm việc từ thiện, chớ khua chiêng đánh trống như những kẻ đạo đức giả làm trong hội đường và trên đường qua lại để họ được người ta trông thấy và ca ngợi. Ta nói với anh em rằng tất cả những gì họ nhận được chỉ là sự ca ngợi của loài người thôi! Thay vào đó, khi anh em cho của bố thí thì chớ để tay trái của anh em biết việc tay phải đang làm, để cho việc từ thiện của anh em được kín đáo. Cha của anh em, đấng thấy hết thảy những việc anh em làm trong thầm kín, sẽ công khai tưởng thưởng anh em.

"Và khi anh em ăn chay, chớ mang vẻ mặt ảm đạm như những kẻ đạo đức giả vì họ làm xấu xí mặt mày họ và họ làm cho họ có vẻ buồn bã để mọi người đều biết rằng họ đang ăn chay. Ta nói với anh em rằng phần thưởng mà họ nhận được chỉ có thế thôi. Còn anh em khi ăn chay, anh em hãy xức dầu thơm và hãy rửa mặt, để không ai biết được anh em đang ăn chay, trừ Cha của anh em, là đấng không được nhìn thấy. Và Cha của anh em, đấng thấy những gì anh em làm trong thầm kín, sẽ công khai tưởng thưởng anh em.

"Khi anh em cầu nguyện, đừng giống như những kẻ đạo đức giả thích đứng cầu nguyện trong hội đường và trên góc đường để người ta có thể thấy họ đang đọc kinh. Như thế, ta nói với anh em rằng sự ca ngợi của loài người là phần thưởng duy nhất của họ. Còn anh em, khi anh em cầu nguyện, hãy đi vào một nơi yên lặng. Lúc ấy anh em hãy đóng cửa lại, cầu nguyện với Cha của anh em là đấng không được nhìn thấy. Và Cha của anh em, đấng thấy điều anh em đang làm trong thầm kín, sẽ công khai tưởng thưởng anh em.

"Và trong khi cầu nguyện, đừng dùng tới những điều lặp đi lặp lại vớ vẩn và nhiều câu trống rỗng như những kẻ khác làm vì họ tưởng rằng dùng nhiều lời thì sẽ được nghe tới. Đừng làm giống như họ, vì Cha của anh em biết điều anh em đang cần trước khi anh em yêu cầu ngài. Do đó hãy cầu nguyện theo thể thức này:

"Lạy Cha chúng tôi, Đấng ngự trên trời,

ước gì

Danh Cha cả sáng

Nước Cha trị đến

Ý Cha được thể hiện

Dưới đất cũng như trên trời

Xin cho chúng tôi hôm nay có thức ăn hằng ngày

Và xin hãy tha nợ chúng tôi

Như chúng tôi tha nợ những kẻ mắc nợ chúng tôi

Và xin chớ dẫn chúng tôi vào sự cám dỗ

Nhưng giải phóng chúng tôi khỏi cái ác

Vì Nước Trời là của Cha

Và uy quyền

Và vinh hiển

Muôn đời!

A-men.
"


Đám đông im lặng. Và họ sửng sốt về những điều Đức Giêsu nói.

Ngài tiếp tục rằng:

"Nếu anh em tha thứ cho kẻ khác khi họ làm điều sai trái thì Cha anh em trên trời cũng tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho kẻ khác vì những sai trái của họ, thì Cha của anh em trên trời cũng sẽ không tha thứ cho những sai trái của anh em.

"Anh em đừng cất giữ những bảo vật trần gian làm của mình thay vì giàu có về tinh thần. Mà anh em hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và anh em sẽ được ban cho mọi sự khác anh em đang cần. Ta nói với anh em rằng chớ để cho mình lo lắng tới những gì trong cuộc sống hằng ngày: mình sẽ ăn gì, mình sẽ uống gì, mình sẽ mặc gì. Có phải mạng sống không là cái tốt hơn thức ăn, và thân thể thì giá trị hơn quần áo? Hãy xem chim trời! Chúng không gieo, không gặt, không tom góp thực phẩm vào kho. Thế mà Cha của anh em trên trời cho chúng ăn. Và anh em không quí giá nhiều hơn chúng sao?

"Có ai trong anh em nhờ lo lắng về những cái đó mà cao thêm được một chút hoặc sống lâu thêm được một phút không? Và tại sao anh em phải băn khoăn về quần áo? Hãy xem hoa huệ ngoài đồng, chúng mọc lên như thế nào, chúng không làm lụng, chúng không kéo sợi. Thế mà ngay cả Salômôn, với toàn bộ vinh quang của ông ta, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Và nếu cỏ dại ngoài đồng hôm nay mọc lên ngày mai bị ném vào lửa, mà còn được Thiên Chúa mặc đẹp cho như thế thì ngài sẽ không mặc cho anh em hoàn toàn đẹp hơn sao, ôi anh em, những kẻ kém đức tin?

"Do đó, anh em đừng lo lắng và chớ nói rằng 'Chúng ta sẽ ăn gì' hoặc 'Chúng ta sẽ uống gì' hoặc 'Chúng ta sẽ mặc quần áo ra sao', vì Cha của anh em trên trời biết anh em cần tất cả những thứ mà anh em cần. Trước hết, anh em hãy tìm kiếm nước của Thiên Chúa và sự công chính của ngài, và tất cả những thứ anh em cần thì được ban cho anh em một cách hào phóng. Do đó, chớ lo lắng về ngày mai vì ngày mai sẽ tự nó lo lắng cho nó. Cái ác của ngày nào là đủ cho ngày đó.

"Hãy yêu cầu và anh em sẽ được ban cho. Hãy tìm kiếm và anh em sẽ tìm thấy. Hãy gõ cửa và cửa sẽ mở cho anh em. Vì ai yêu cầu nơi Thiên Chúa thì sẽ tiếp nhận; ai kiếm thì sẽ thấy; và ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho người đó. Và khi anh em muốn kẻ khác làm cho anh em thì anh em cũng hãy làm kẻ đó giống như vậy.

"Mỗi cây được biết tới nhờ quả của nó. Cây tốt không sinh quả xấu; cây xấu không sinh quả tốt. Do đó, qua quả mà anh em sẽ hiểu người khác."


Hôm ấy trên núi, Đức Giêsu đã nói những điều đó và thêm nhiều điều khác. Cuối cùng ngài nói:

"Không phải hễ ai nói với ta rằng 'Lạy Chúa, Lạy Chúa!' thì sẽ được vào nước trời, nhưng chỉ vào nước trời những kẻ lắng nghe lời ta và thể hiện ý muốn của Cha ta trên trời. Lúc này, ta nói với anh em rằng anh em phải sẵn sàng cho cái ngày anh em được gọi đến trước Thiên Chúa. Ta sẽ cho anh em thấy người như thế nào thì giống kẻ đến với ta và nghe lời của ta cùng làm theo những lời đó: người đó giống như kẻ trong khi xây nhà thì đào sâu xuống và đặt móng nền nhà trong đá. Khi mưa rơi, lụt tới, gió bão quất vào quần quật, ngôi nhà đó đứng vững và không sụp đổ vì nó được dựng trên đá. Nhưng ai nghe những lời này của ta mà không làm theo thì giống như người rồ dại dựng nhà trên cát. Khi mưa rơi, lụt tới, gió bão quất vào, ngôi nhà trên cát ấy sẽ tan tác thành từng mảnh. Thật là sụp đổ thê thảm biết mấy!

"Nhưng nếu anh em xây dựng cuộc đời của mình theo những lời của ta, anh em sẽ xây dựng nó trên một nền bằng đá."


Khi Đức Giêsu nói xong, dân chúng kinh ngạc về những lời ấy của ngài. Vì ngài giảng dạy họ như một đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư trích dẫn những lề luật xưa cũ và chưa bao giờ nói những điều lạ lùng như "Hãy yêu thương kẻ thù của anh em. Hãy chúc lành cho những ai nguyền rủa anh em. Hãy cư xử tốt lành với những ai căm ghét anh em. Hãy đưa thêm má kia ra."

Đối với họ, những ý tưởng đó quá mới mẻ. Chúng nghe không giống chút nào với các lời giảng của người Pharisêu. Nhưng đối với những ai có suy nghĩ trong đám đông, những lời dạy bảo của Đức Giêsu nghe như thể là lời của Thiên Chúa đầy yêu thương và từ bi./.

Nguyễn Ước (dịch)

Nguồn: Trích từ Chuyện Kinh thánh dịch cuốn The Bible Story của Pearl Buck, Nxb Văn học, Hà Nội in lần thứ nhất năm 2001, tái bản nhiều lần.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Hebert Spencer: Quyền không đếm xỉa tới nhà nước

Herbert Spencer (1820-1903)
1 – Như một hệ luận của đề xuất «phải đặt mọi thiết chế dưới quy luật về quyền tự do, như nhau và bằng nhau  (1), của mọi người», chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài sự công nhận cho mọi công dân quyền tự đặt mình ra ngoài vòng pháp luật. Nếu mỗi người đều có tự do làm tất cả những gì mình muốn một khi không xâm phạm vào quyền tự do – như ta và bằng ta – của kẻ khác, thì hắn hoàn toàn có tự do cắt đứt mọi quan hệ với nhà nước, nghĩa là vất bỏ sự che chở của nhà nước, đồng thời từ chối chi trả cho sự bảo quản bộ máy nhà nước. Hiển nhiên là khi hành động như vậy, hắn chẳng dẫm chân lên quyền tự do của ai khác, bằng bất cứ cách nào hết cả, bởi vì đây là một thái độ thụ động, và khi giữ thái động thụ động thì hắn không thể nào là kẻ xâm lấn. Và cũng hiển nhiên là hắn không thể bị bắt buộc phải tiếp tục sống trong một cộng đồng chính trị mà không vi phạm đạo lý, bởi vì tư cách công dân bao hàm nghĩa vụ đóng thuế, và tước đi tài sản của một người nào trái với ý muốn của y là vi phạm quyền lợi của người đó. Chính phủ chỉ là một viên chức được nhiều cá nhân trả công để đảm bảo cho họ những lợi ích nhất định, nên ngay bản chất của mối liên hệ này đã hàm ý rằng nó tùy thuộc vào sự phát biểu của mỗi người là hắn muốn hay không muốn có một viên chức như thế. Nếu có ai đó quyết định không đếm xỉa gì tới cái liên hiệp an ninh tương trợ này, thì chẳng có gì để nói cả, ngoại trừ rằng hắn sẽ mất đi mọi quyền được giúp đỡ, và tự đặt mình vào nguy hiểm bị ngược đãi – điều mà hắn hoàn toàn có tự do làm, nếu thích.Hắn không thể bị giữ lại bằng bạo lực trong một tổ hợp chính trị mà không vi phạm quyền bình đẳng về tự do; hắn có thể rút lui khỏi tổ hợp đó mà không hề vi phạm vào quyền tự do, như nhau và bằng nhau này, của mọi người, và do đó, hắn hoàn toàn có quyền rút lui như vậy.

2 – «Không điều luật nhân tạo nào có chút giá trị gì nếu nó trái với luật tự nhiên ; và uy quyền của mọi luật lệ có giá trị do con người tạo ra đều xuất phát từ thứ quyền nguyên thủy này, trực tiếp hay gián tiếp». Blackstone (2) đã viết như thế, và ta hãy vinh danh ông vì đã vượt qua được tư tưởng của thời đại mình, và ngay cả của thời đại chúng ta, thật sự có thể nói như thế. Đây là một món thuốc giải độc tốt cho loại mê tín chính trị đang thịnh hành khắp nơi. Một cái phanh chặn đứng sự tôn thờ quyền lực còn đang lừa ta vào cái tròng của tệ thổi phồng loại đặc quyền của những nhà nước hiến định, giống như của các vương triều trước kia. Hãy làm cho mọi người hiểu rằng một chính quyền pháp trị không phải là «Thượng Đế trên Trái đất», mặc dù họ có vẻ nghĩ như vậy thật, do uy quyền mà họ gán cho nó, và những gì mà họ trông đợi từ nó. Hãy chỉ cho họ biết rằng nó chỉ là một thiết chế nhằm phục vụ cho một mục đích đơn thuần thế tục, rằng quyền hành của nó, khi không phải là đồ cướp bóc, thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ là đồ vay mượn. Hơn nữa, há chúng ta chẳng thấy rằng tinh chất của mọi chính quyền, thực ra, là sự vô đạo lý hay sao? Phải chăng nó là con cháu của cái ác, và vẫn còn đeo quanh mình bao tì vết của cái nguồn gốc ấy? Phải chăng nó tồn tại vì tội ác tồn tại? Tội phạm càng nhiều thì nó càng mạnh, hay như chúng ta nói, càng chuyên chế , đúng không? Tội phạm càng giảm, thì càng có nhiều tự do, nghĩa là càng có ít chính quyền hơn, đúng không? Và khi hết tội phạm thì nhà nước cũng phải tiêu vong, chính vì loại đối tượng mà nó cần để thực hiện chức năng của mình không còn nữa, đúng không? Chẳng những quyền lực của bọn quan chức tồn tại vì tội ác, mà hơn thế nữa, nhờ có tội ác. Bạo lực được sử dụng để duy trì nó, và mọi hình thức bạo lực đều dẫn tới tội phạm. Lính tráng, công an,cai tù, và gươm giáo, gậy gộc, xiềng xích< đều là những công cụ để gây khổ não, và mọi hình thức gây khổ não đều sai trái, nói một cách trừu tượng. Nhà nước dùng loại vũ khí xấu ác để khuất phục cái xấu với cái ác, rồi bị lây nhiễm bởi loại đối tượng nhắm đến, cũng như thứ phương pháp sử dụng. Đạo lý không thể công nhận điều đó, đơn giản vì, là biểu hiện của luật pháp hoàn hảo, nó không thể tán thành bất cứ cái gì xuất phát từ, hay dựa trên, sự vi phạm thứ luật pháp này. Do đó, quyền lực pháp trị (3) không bao giờ là đạo lý cả, và chỉ vĩnh viễn phải là quy ước mà thôi.

Hệ quả là có một sự bất nhất nào đó trong cố gắng xác định vị thế, cấu trúc và hành động của nhà nước, bằng cách viện dẫn những nguyên lý đầu tiên của sự công chính. Bởi vì, như vừa được vạch ra, ta không thể nào làm cho thứ luật lệ của một định chế không hoàn hảo, từ cả bản chất lẫn nguồn gốc, phù hợp được với thứ luật hoàn hảo của đạo lý hết cả. Tất cả những gì ta có thể làm là xác định : thứ nhất, chính quyền pháp trị phải có thái độ nào đối với cộng đồng để tránh cho nhà nước trở thành hiện thân của sự bất công, chỉ bởi sự tồn tại của nó? ; thứ hai, chính quyền pháp trị phải được cấu tạo như thế nào để nhà nước biểu hiện ít mâu thuẫn nhất với quy luật đạo đức? ; và thứ ba, hành động của chính quyền pháp trị phải bị hạn chế vào khu vực nào, để ngăn cản nhà nước nhân lên những vi phạm vào sự công chính mà nó đã được dựng lên để ngăn ngừa?

Điều kiện đầu tiên ta phải tuân thủ trước khi một chính quyền pháp trị được dựng lên mà không vi phạm vào quyền bình đẳng về tự do, là sự công nhận cái quyền đang được bàn cãi ở đây : quyền không đếm xỉa tới nhà nước.

3 – Kẻ bênh vực chủ nghĩa chuyên chính thuần túy có thể hoàn toàn tin tưởng rằng sự kiểm soát của nhà nước là vô hạn định và vô điều kiện. Những ai quả quyết rằng con người được làm ra cho nhà nước , chứ không phải nhà nước được dựng lên cho con người, thì có thể nhất quán chủ trương rằng không ai có thể tự ý rút ra ngoài phạm vi của tổ chức chính trị. Nhưng ai đã khẳng định rằng nhân dân là nguồn gốc chính đáng duy nhất của quyền lực – nghĩa là cho rằng quyền lực pháp trị không phải là cái căn nguyên mà là cái được ủy thác – thì không thể chối bỏ quyền không đếm xỉa tới nhà nước mà không tự giam mình trong sự phi lý. Bởi nếu chính quyền là do ủy thác, kết quả sẽ là người ủy thác là chủ nhân của kẻ được ủy thác ; một kết quả khác nữa sẽ là họ đã tự nguyện ủy thác trong tư cách chủ nhân, và điều này có nghĩa rằng họ có thể cho hay rút lại sự ủy thác này tùy ý. Gọi cái bị giật khỏi tay con người là ủy thác, bất chấp họ có đồng ý hay không, là điều vô nghĩa. Nhưng cái gì là đúng cho mọi cộng đồng thì cũng đúng cho mỗi cá nhân riêng lẻ. Một chính quyền chỉ có thể hành động hợp lẽ cho nhân dân khi được họ cho phép, cũng y hệt như thế, nó chỉ có thể hành động hợp lẽ cho mỗi cá nhân khi được anh ta cho phép. Nếu A, B và C cùng bàn bạc xem họ sẽ dùng hay không dùng một viên chức để cung cấp cho họ một dịch vụ nào đó, và nếu cả A lẫn B đều nhất trí sử dụng trong khi C không đồng ý, thì công minh mà nói, C không thể nào bị cưỡng ép tham gia như một thành phần vào thỏa thuận ấy. Và điều này phải đúng cho ba mươi người cũng như cho ba người ; và nếu nó đúng cho ba mươi người, thì tại sao lại không đúng cho ba trăm, ba nghìn hay ba triệu người?

4 – Trong số những mê tín chính trị được ám chỉ ở trên, không có cái nào được phổ biến khắp nơi như ý tưởng cho rằng tập hợp đa số có toàn quyền. Do ấn tượng là sự duy trì trật tự luôn luôn đòi hỏi rằng quyền lực phải nằm trong tay một phe phái nào đó, ý thức đạo lý của thời đại ta cảm thấy rằng một quyền lực như thế không thể được đúng đắn giao cho bất cứ ai, mà phải giao cho phần nửa lớn nhất của xã hội. Nó diễn giải ngạn ngữ «ý dân là ý Trời» theo nghĩa đen, rồi chuyển tính linh thiêng của vế sau sang vế trước, để kết luận rằng ý dân – nghĩa là ý kiến của đa số – là phán quyết chung thẩm. Tuy nhiên, sự tin tưởng này là hoàn toàn sai lầm. Để lập luận, hãy giả sử rằng một chính quyền đại diện hợp pháp cho công luận nào đó, vì kinh hoảng trước họa nhân mãn gần kề, dự tính ban hành một sắc luật theo đó tất cả mọi đứa trẻ sắp sinh ra trong vòng mười năm tới sẽ bị trấn nước cho tới chết. Có ai nghĩ rằng một đạo luật tương tự là có thể bênh vực được chăng? Nếu không, hiển nhiên là có một giới hạn cho quyền lực của số đông. Hãy giả sử thêm rằng có hai chủng tộc cùng sống chung trên một lãnh thổ – dân Celts và dân Saxons chẳng hạn – và bên đông dân hơn quyết định bắt mọi cá nhân của bên kia làm nô lệ. Quyền lực của đa số, trong một trường hợp tương tự, có giá trị gì chăng? Nếu không, hẳn nó cũng còn phải tuân phục một cái gì khác. Hãy giả sử thêm, một lần nữa, rằng tất cả những người mà thu nhập hàng năm thấp hơn năm mươi bảng Anh cùng quyết định hạ tất cả mọi thu nhập nào vượt quá con số này xuống tới mức chuẩn của họ, và tước đoạt phần vượt trội cho công quỹ. Quyết định của họ có thể được xem là chính đáng chăng? Nếu không, phải thú nhận, lần thứ ba, rằng còn có một thứ luật mà tiếng nói của số đông phải tuân phục. Cái luật đó là gì, nếu không phải là công lý thuần khiết – quy luật bình đẳng về tự do? Những giới hạn mà ta đặt trước ý muốn của số đông đều chính xác là những giới hạn mà quy luật này dựng lên. Chúng ta phủ nhận cho đám đông cái quyền giết chóc, nô dịch hóa, cướp bóc< đơn giản chỉ vì giết người, bắt người làm nô lệ và cướp đoạt< đều là những hành vi xâm phạm quy luật này – những xúc phạm quá hiển nhiên để có thể bỏ qua. Nhưng ở đây, nếu các xâm phạm lớn là sai trái, thì những vi phạm nhỏ cũng thế. Nếu ý muốn của số đông không thể vượt qua nguyên tắc đầu tiên của đạo lý trong các trường hợp này, thì nó cũng bất lực tương tự trong bất kỳ trường hợp nào khác. Bởi thế cho nên, dù thiểu số là yếu đuối đến đâu, dù toan tính vi phạm các quyền tự do của nó là nhỏ nhoi đến đâu, ta cũng không thể cho phép một sự xâm phạm nào loại này xảy ra.

Nhà cải cách nhiệt tình nghĩ trong đầu : một khi đã tu bổ hiến pháp cho nó thành dân chủ hoàn toàn, thì ta đã đưa được nhà nước vào sự hài hòa với công lý tuyệt đối. Dù có thể là cần thiết cho thời đại ta, một niềm tin tương tự vẫn rất đỗi là sai lạc. Không tiến trình nào có thể biến sự cưỡng bách thành công chính. Cái nhà nước có hình thức tự do nhất chỉ là cái chính quyền có hình thức ít bị phản đối nhất. Sự thống trị của đa số trên thiểu số, ta gọi nó là bạo quyền ; sự thống trị của thiểu số trên đa số cũng là bạo quyền nữa, chỉ khác là nó thuộc loại ít gay gắt hơn mà thôi. Trong cả hai trường hợp, mệnh lệnh đưa ra là :«Anh phải làm như tôi muốn, chứ không phải như anh muốn» ; và nếu bên một trăm người phán như thế với bên chín mươi chín người, thay vì bên chín mươi chín người với bên một trăm người, thì nó chỉ trái đạo lý hơn kém nhau có một đơn vị. Nghĩa là dù phe nào trong hai bên thực hiện mệnh lệnh này cũng đều là vi phạm, một cách tất yếu, quy luật bình đẳng về tự do ; khác biệt duy nhất là, bởi một phe nó bị vi phạm trong tư cách con người và pháp nhân của chín mươi chín người, trong khi bởi phe kia trong tư cách con người và pháp nhân của một trăm người. Và điều xứng đáng duy nhất của hình thức chính quyền dân chủ chỉ có nội dung là, trong hình thức này, nó chỉ xâm phạm quyền của phe ít đông hơn mà thôi.

Sự tồn tại của những đa số và thiểu số chính là chỉ dấu của một tình trạng không có đạo lý. Chúng ta đều thấy rằng người có cá tính hài hòa với quy luật đạo đức có thể đạt tới hạnh phúc trọn vẹn mà không làm giảm thiểu hạnh phúc của đồng loại. Nhưng sự ban hành loại dàn xếpcông cộng thông qua biểu quyết lại ám chỉ một xã hội được tập hợp bởi những con người có cấu tạo rất khác : nó ám chỉ rằng ước muốn của một số người không thể nào được thỏa mãn nếu không hy sinh nguyện vọng của những người khác, nghĩa là nó ám chỉ rằng phe đa số buộc phải giáng lên đầu bên thiểu số một lượng khổ não nào đấy, và do đó, ám chỉ một tình trạng không đạo lý hữu cơ. Như vậy, từ một quan điểm khác, ta nhận thức một lần nữa rằng, ngay cả trong hình thức công minh nhất của nó, nhà nước cũng không thể tự tách rời khỏi cái xấu ác, rằng hơn nữa, mọi hành động của nó đều cốt yếu là tội ác, trừ phi quyền không đếm xỉa tới nhà nước được công nhận.

5 – Thật ra, ta có thể suy diễn từ lời công nhận của các chính quyền đương tồn và dư luận đời thường rằng con người được tự do vất bỏ những lợi lộc và gánh nặng của tư cách công dân. Mặc dù có lẽ họ chưa sẵn sàng chấp nhận một học thuyết đi quá xa như quan điểm được trình bày ở đây, các nhà cấp tiến thời nay vẫn vô tình thú nhận niềm tin của họ vào một châm ngôn rõ ràng là biểu hiện của học thuyết này. Họ chẳng liên tục trích dẫn câu nói của Blackstone hay sao? – theo đó, «không một công dân Anh quốc nào có thể bị bắt buộc phải trả bất kỳ thứ đóng góp và thuế má nào, ngay cả để bảo vệ vương quốc và hỗ trợ chính phủ, trừ những khoản mà lương tri của anh ta hay đại diện của anh ta tại Quốc hội áp đặt». Câu này muốn nói gì? Theo họ, nó có nghĩa rằng mỗi người phải có một phiếu. Đúng, nhưng thật ra nó còn nói nhiều hơn thế.Nếu ngôn từ có một ý nghĩa nào, thì đây là một phát biểu rạch ròi về cái quyền ta đang đòi hỏi. Khi xác định rằng một người có thể không bị buộc phải trả thuế, trừ phi anh ta đã trực tiếp hay gián tiếp thỏa thuận, thì nó khẳng định rằng anh ta có thể từ chối đóng thuế vô điều kiện ; và từ chối trả thuế là cắt đứt mọi liên hệ với nhà nước. Có lẽ người ta sẽ bắt bẻ rằng sự đồng ý này không phải là đặc thù mà là tổng quát, rằng khi bầu lên một đại biểu, mọi công dân đều hàm ý rằng anh ta sẽ nhất trí với mọi việc mà người đại biểu này sẽ làm. Nhưng giả thử rằng anh ta không bỏ phiếu cho ông ấy, mà ngược lại, đã làm mọi cách để một người có ý kiến đối lập được bầu thì sao ? Có lẽ người ta sẽ trả lời rằng, bằng sự tham gia vào một cuộc đầu phiếu tương tự, anh ta đã thỏa thuận ngầm là sẽ tuân theo quyết định của đa số. Nhưng nếu anh ta không đi bầu thì sao? Thế thì anh ta chẳng thể than vãn một cách chính đáng về bất cứ thứ thuế nào được cả, bởi vì anh ta chưa hề phản đối việc thu thứ thuế đó. Như vậy là, quái gở thay, dường như anh ta đã đồng ý, dù hành động kiểu nào – dù nói có, dù nói không, dù không nói có cũng chẳng nói không mà đứng trung lập! Một mớ bòng bong, thứ học thuyết này. Ở đây, ta chứng kiến một công dân bất hạnh : người ta hỏi anh ta có sẵn sàng chi trả cho một lợi ích được rao mời hay không, và dù anh ta có sử dụng hay không cái phương tiện duy nhất để biểu đạt sự từ chối của mình, chúng ta cũng được báo cáo rằng anh ta đã đồng ý trên thực tế, chỉ vì số người chấp thuận cao hơn số người phản đối. Và như thế là ta bị tròng vào cổ cái nguyên lý mới, rằng sự chấp thuận của A không tùy thuộc vào điều A nói, mà vào điều B tình cờ nói! Hoặc những người trích dẫn Blackstone chọn sự phi lý này, hoặc họ chọn học thuyết được trình bày ở trên. Hoặc phương châm của họ bao hàm quyền không đếm xỉa tới nhà nước, hoặc nó hoàn toàn vô nghĩa.

6 – Có một sự hỗn tạp lạ lùng trong những tin tưởng chính trị của chúng ta. Các hệ thống vang danh một thời và nay đã bắt đầu bị xuyên thủng lỗ chỗ được chắp vá với những ý tưởng hiện đại khác hẳn về phẩm chất cũng như về màu sắc ; và người ta trịnh trọng khoác lên người loại hệ thống này để diễu hành, hoàn toàn không ý thức được về sự lố bịch của mình. Tình hình quá độ của ta ngày nay, dự phần vào cả quá khứ lẫn tương lai, đã đẻ ra loại học thuyết lai căng, nơi phơi bày cái hỗn hợp kỳ quái nhất giữa những tàn dư chuyên chế và các hứa hẹn tự do. Đây là loại hình tổ chức cổ hủ được ngụy trang ngộ nghĩnh dưới những mầm mống của cái mới – đặc điểm biểu thị sự thích nghi vàomột tiền trạng đã được cải biến nhờ một số tiên đoán thô sơ về cái sắp tới – tất cả tạo ra một hỗn hợp những quan hệ tạp nhạp tới mức không thể xếp được những quái thai thời đại này vào loại gì. Vì ý tưởng tất yếu phải mang dấu ấn của thời đại, than phiền về sự biểu đồng tình với những tin tưởng phi lý này cũng chẳng ích lợi gì. Mặt khác, thật là đáng tiếc nếu con người không theo đuổi đến cùng chuỗi lý luận đã dẫn tới những thay đổi cục bộ đó. Trong trường hợp ở đây chẳng hạn, lôgic buộc họ phải chấp nhận rằng, về những điểm bên cạnh đặc điểm vừa xem xét ở trên, họ đã bênh vực nhiều ý kiến và sử dụng những luận cứ bao hàm trong đó quyền không đếm xỉa tới nhà nước.

Bởi vì cái ý nghĩa của Biệt giáo (4) là gì ? Có một thời cả đức tin tôn giáo lẫn phương thức thờ phụng của mọi người đều bị quy định bởi luật pháp, y hệt như mọi hành vi thế tục khác, và nếu căn cứ theo một số điều khoản hiện tồn trong sách luật của ta, thì tình hình đến nay vẫn còn như thế. Tuy nhiên, nhờ sự lớn mạnh của tinh thần Thanh giáo (đạo Tin Lành) chúng ta đã hết đếm xỉa tới nhà nước trên vấn đề này – trọn vẹn trên lý thuyết và phần nào trong thực tiễn. Chúng ta đã làm như thế nào ? Bằng cách đảm nhận một thái độ, mà nếu kiên định giữ được, sẽ bao hàm quyền không đếm xỉa tới nhà nước hoàn toàn. Hãy quan sát thái độ và lập trường của cả hai bên. Nhà lập pháp phán: «Đây là tín điều của mi. Mi phải tin theo và công khai bày tỏ những gì đã được ghi chép ở đây cho mi». Kẻ biệt giáo trả lời : «Tôi thà đi tù chứ không làm bất cứ điều gì như thế». Nhà lập pháp phán tiếp : «Hành vi tôn giáo của mi phải đúng như ta quy định, mi phải đến các nhà thờ do ta dựng lên, và làm theo loại nghi lễ được cử hành tại đó». Lời đáp trả là : «Chẳng có gì khiến tôi phải làm như thế cả. Tôi hoàn toàn phủ nhận cái quyền ra lệnh của ông trên những vấn đề này, và nhất quyết chống đến cùng». Nhà lập pháp phán thêm : «Chót hết, chúng ta sẽ đòi mi chi các món tiền mà ta thấy cần thiết để hỗ trợ cho những định chế tôn giáo đó». Kẻ độc lập cứng đầu kêu to : «Ông sẽ không lấy được xu nào của tôi đâu. Ngay cả trong trường hợp tôi tin vào loại tín điều do nhà thờ của ông ban ra (nhưng tôi không hề tin),tôi sẽ đứng lên chống lại sự can thiệp của ông, và nếu ông xâm phạm vào tài sản của tôi, ông sẽ gặp sự phản kháng và phải dùng đến vũ lực».

Nhìn một cách trừu tượng, thì cách hành xử trên đây thực tế là gì? Nó có nghĩa rằng cá nhân xác định cái quyền thực thi một trong những quyền tự do của anh ta – tình cảm tôn giáo – một cách hoàn toàn tự do và không có giới hạn nào, ngoài cái quyền được đòi hỏi như anh và bằng anh của kẻ khác. Còn cụm từ «không đếm xỉa tới nhà nước» có nghĩa là gì ? Đơn giản là sự khẳng định cái quyền được thực thi tất cả mọi quyền tự do khác y hệt như thế. Bởi quyền này chính xác là sự tiếp nối hay mở rộng của quyền kia, nó có cùng một nền tảng như quyền kia, nó cùng đứng hoặc cùng đổ với quyền kia. Người đời thường vô tư phân biệt quyền dân sự một bên với quyền tôn giáo một bên, như hai thứ quyền khác nhau ; song sự phân cách này là hoàn toàn độc đoán. Chúng là những bộ phận của một chỉnh thể, và về mặt triết học, không thể nào có thể bị tách rời. «Có chứ !», kẻ ngoan cố bắt bẻ : «sự xác định quyền tôn giáo là bắt buộc, như một bổn phận tôn giáo. Tự do thờ phụng Thượng Đế, theo cách con người nghĩ rằng đúng, là thứ tự do mà nếu không có , hắn không thể nào thực hiện được điều hắn tin là những mệnh lệnh linh thiêng của Đấng Tối cao, và do đó, lương tâm con người đòi hỏi hắn phải bảo vệ». Đúng thôi. Nhưng nếu ta cũng có thể khẳng định tương tự về mọi thứ quyền tự do khác thì sao ? Nếu sự bảo vệ mọi quyền tự do khác hóa ra cũng là một vấn đề lương tâm thì sao ? Há chúng ta không thấy rằng hạnh phúc của con người tùy thuộc vào ý muốn của Thượng đế sao ? – nghĩa là hạnh phúc này chỉ có thể đạt được bằng cách thực thi mọi quyền lực của con người, và hắn không thể nào thực thi chúng mà không có tự do . Và nếu cái tự do để thực thi mọi quyền lực là điều kiện không thể thiếu để ý muốn của Đấng Tối Cao thành hiện thực, thì sự bảo tồn nó cũng là một nghĩa vụ, theo chính lập luận của kẻ phản biện ở trên. Hay nói cách khác, sự bảo vệ mọi quyền tự do hành động dường như không chỉ có thể mà còn bắt buộc phải là một yêu sách của lương tâm. Và như thế, chúng t a được chứng minh rõ ràng rằng, trong cả hai lĩnh vực lương cũng như giáo, các đòi hỏi không đếm xỉa tới nhà nước là đồng nhất về bản chất. Có thể xử lý tương tự một lý do khác , thường được quy cho giới bất đồng. Ngoài việc chống trả sự sai khiến của nhà nước trên nguyên tắc, kẻ bất đồng còn chống trả vì phản đối những quan điểm hay học thuyết được rao dạy. Không một đạo luật nào buộc anh ta phải nhận điều anh xem là một tin tưởng sai lầm, và luôn luôn nhớ đến bổn phận đối với người đồng hương, anh ta từ chối phát tán loại tin tưởng sai lầm đó bằng túi tiền của mình. Lập trường này hoàn toàn hiểu được.

Nhưng đây lại là một thái độ, hoặc cũng dẫn kẻ theo nó đến sự bất đồng dân sự, hoặc sẽ bỏ anh ta trước hai ngả đường. Bởi vì tại sao anh lại từ chối làm công cụ cho việc quảng bá một học thuyết sai lầm ? Bởi vì sai lầm là trái với hạnh phúc con người. Thế thì, có thể nào chứng minh được rằng cần chống trả nhà nước trong một trường hợp, và không chống trong một trường hợp khác chăng ? Chẳng ai có thể khẳng định có chủ tâm rằng, nếu chính quyền đòi hỏi ta đóng góp tiền bạc để giúp nó dạy điều ta nghĩ là sẽ gây ra cái xấu ác thì ta phải từ chối, song nếu cũng số tiền đó lại được dùng để làm điều xấu ác thì ta phải chấp thuận. Tuy nhiên, đấy lại chính là cái đề nghị đầy hy vọng mà kẻ vừa công nhận quyền không đếm xỉa tới nhà nước trong khu vực tôn giáo, vừa phủ nhận nó trong các vấn đề công dân khác, phải song song bảo vệ cùng một lúc.

7 – Nội dung của chương này nhắc nhở chúng ta thêm một lần nữa về sự xung khắc cố hữu giữa một thứ luật hoàn hảo và một nhà nước không hoàn hảo. Tính khả thi của nguyên lý nêu lên ở đây biến thiên theo tỷ lệ thuận với tình hình đạo lý xã hội. Trong một xã hội hoàn toàn đồi trụy, sự thu nạp nó sẽ tạo ra tình trạng hỗn loạn vô chính phủ. Trong một xã hội hoàn toàn đạo đức, sự thu nạp nó vừa là vô hại, vừa không thể tránh. Sự tiến triển về điều kiện một xã hội lành mạnh – tức là điều kiện khi những biện pháp chữa trị bằng luật pháp không còn cần thiết – chính là sự tiến triển về điều kiện khi loại biện pháp chữa trị này sẽ bị gạt sang một bên, và cái chính quyền chủ trương nó sẽ bị coi thường. Cả hai sự thay đổi tất yếu phải được phối hợp. Cái ý thức đạo đức mà ưu thế sẽ làm cho xã hội hài hòa và nhà nước không còn cần thiết nữa cũng chính là cái ý thức đạo đức lúc đó sẽ làm cho mỗi người khẳng định tự do của mình tới mức không đếm xỉa gì tới nhà nước –nghĩa là cùng một thứ đạo lý sẽ vô hiệu hóa chính quyền bằng cách ngăn chặn phe đa số cưỡng ép phe thiểu số. Và bởi vì các biểu hiện khác nhau của cùng một tình cảm phải giữ một tỷ lệ bất biế n giữa cái này với cái kia, khuynh hướng vất bỏ nhà nước chỉ có thể gia tăng trong cùng một vận tốc với sự trở thành vô ích của các chính quyền.Vì thế, chẳng ai nên hoảng hốt trước sự truyền bá học thuyết đang được bàn tán. Nhiều thay đổi còn phải liên tục xảy ra trước khi nó có thể bắt đầu tạo nhiều ảnh hưởng. Có lẽ còn phải trải qua một thời gian dài nữa trước khi quyền không đếm xỉa tới nhà nước được thừa nhận rộng khắp, ngay cả trên lý thuyết. Rồi còn phải chờ lâu hơn nữa trước khi nó được công nhận trong pháp chế. Và ngay cả lúc đó cũng vẫn sẽ còn rất nhiều phanh hãm nhằm cản trở sự thực thi nó sớm sủa. Một kinh nghiệm cay đắng sẽ thử thách rất cam go những kẻ từ bỏ sự che chở của luật pháp quá sớm. Khi nào còn có một sự yêu thích những sắp xếp tạm bợ và một sự sợ hãi những thử nghiệm lớn, như nơi phần đông người đời hiện nay, thì họ sẽ còn tránh sử dụng cái quyền không đếm xỉa tới nhà nước này rất lâu, cho đến khi sự thực thi nó không còn gặp chút nguy hiểm nào nữa.

Phạm Trọng Luật (dịch)
___________________________________
Chú thích:

1 «The law of equal freedom». Ở nhiều chỗ trong bản dịch Việt ngữ này, ngoài «quyền
bình đẳng về tự do», chúng tôi đôi khi cũng diễn nghĩa thêm bằng cụm từ «quyền tự
do, như nhau và bằng nhau, của mọi người» khi ngữ cảnh cho phép.

2 Sir William Blackstone (1723-1780), nhân vật cốt cán của thời Khai Sáng Anh,
thường được so sánh ngang với Montesquieu, Beccaria và Voltaire. Về thơ văn, các
tập thơ được biết đến nhiều nhất của ông là The Lawyer to his Muse, và The Pantheon.
Ngoài ra ông còn viết về kiến trúc như Elements of Architecture, An Abridgement of
Architecture. Song sự nghiệp của ông chủ yếu nằm trong lĩnh vực luật: ông lần lượt
làm luật sư, giáo sư luật, bình luận gia về luật, quan tòa và chính trị gia thuộc đảng
Bảo Thủ. Những tác phẩm luật nổi tiếng nhất của ông gồm có: An Analysis of the
Laws of England (1756), A Discourse on the Study of the Law (1758), và Commentaries
on the Laws of England (1766). Quyển sau cùng, được tái bản rất nhiều lần, đã có ảnh
hưởng lớn đặc biệt ở Hoa Kỳ, trên James Iredell, John Marshall, James Wilson, John Jay, John Adams, James Kent, Abraham Lincoln… và vẫn còn được trích dẫn thường
xuyên trong những quyết định của Tòa Án Tối Cao Mỹ.

3 Các từ «legislative authority» và «legislature» được Spencer dùng để chỉ «State »,
tức là nhà nước, chứ không chỉ giới hạn vào cơ quan lập pháp của nhà nước. Trong
bản tiếng Pháp, Devaldès dịch là «autorité législative», «puissance législative», và
«État». Ở đây, chúng tôi cũng dùng cả ba từ «quyền lực pháp trị», «chính quyền pháp
trị» và «nhà nước» như cùng chỉ một thực tại, cộng thêm cước chú này.

4 Dissent ở đây viết hoa nên không chỉ sự bất đồng ý kiến trong đời thường, mà chỉ
những tín hữu Biệt giáo (ly khai với Anh giáo và Nhà thờ Anh ; từ này xuất hiện
khoảng năm 1566). Họ bị loại khỏi các công vụ dân sự hay quân sự bởi đạo luật gọi
là Test Acts. Bản tiếng Pháp của Devaldès dịch chính xác là Non-conformistes.

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More