"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Nguyễn Trần Bạt: Luận bàn về pháp luật

Vai trò định hướng ứng xử không chỉ thuộc về đạo đức mà còn thuộc về pháp luật. Những nhà triết học ngay từ thời cổ đại, cả ở phương Đông lẫn phương Tây, đều nói đến vai trò to lớn của pháp luật. 

Hàn Phi Tử cho rằng mặc dù có những bậc hiền nhân, nhìn chung con người có bản tính ác và cần phải dùng pháp luật để điều chỉnh hành vi của họ. Thực ra, cái lệch lạc của con người cũng tự nhiên như cái đúng đắn của nó. Pháp luật và nhà nước là nhu cầu tự nhiên của cuộc sống, không phải là phi tự nhiên. Con người sinh ra làm cả việc đúng lẫn việc sai, cả những việc chính đáng và những việc lệch lạc. 

Con người, dù muốn hay không, phải sống chung, với cáe nhu cầu của cá thể và các nhu cầu mang tính công cộng khác nhau. Vì thế, cần phải có một sự dàn xếp, phải có trọng tài, có người kiểm soát các giá trị công cộng hay phòng ngừa sự xâm phạm vào các giá trị công cộng bởi một số cá thể. Nhà nước và pháp luật là những công cụ không thể thiếu. Vấn đề ở chỗ cần nhà nước nào, pháp luật nào và các giới hạn của nó là gì.

Chúng ta cần phải phân biệt hai khái niệm đạo đức và pháp luật cùng với mối tương quan biện chứng của hai khái niệm này. Đạo đức và pháp luật về bản chất hoàn toàn khác nhau. Đạo đức là các giá trị, còn pháp luật là các công cụ để điều chỉnh các giá trị. Chỉ có đạo đức được luật hoá chứ không có sự đạo đức hoá luật. Đó là hai khái niệm có chức năng xã hội và bản chất tự nhiên khác nhau. Tất cả các khái niệm trên đều thuộc về con người, tuỳ trạng thái giác ngộ của con người mà trở nên hợp lý hay không hợp lý.

Chừng nào con người cảm thấy rằng nếu không có pháp luật thì sẽ xảy ra tình trạng hỗn loạn thì pháp luật đóng vai trò thống trị. Nếu con người cảm thấy pháp luật bóp chết tự do, bóp chết năng lực sáng tạo của con người thì vai trò của pháp luật sẽ bớt đi. Khi đó các hành vi của con người sẽ được điều chỉnh nhiều hơn bằng đạo đức. Không có mô hình chung cho đời sống con người mà chỉ có mô hình phù hợp cho trạng thái giác ngộ của con người hay trình độ phát triển của con người. Một trò chơi mà luật lệ chặt chẽ quá sẽ làm giảm bớt đi sự bay bướm. Con người sống tuân theo pháp luật nhưng con người sáng tạo theo qui luật của tâm hồn. Nói cách khác đạo đức và pháp luật, mặc dù về mặt bản chất khác nhau, đều có nghĩa vụ xã hội là tạo ra môi trường sống tốt đẹp cho con người. Nếu pháp luật trở thành công cụ để hạn chế tự do và làm giảm thiểu năng lực sống của con người thì pháp luật trở nên phản động.

Nhà nước nào có pháp luật đó, pháp luật ấy thô sơ, độc tài hay dân chủ là tuỳ thuộc vào chất lượng của nhà nước và chất lượng của xã hội. Xã hội đủ năng lực để kiềm chế nhà nước và tác động ngược hấp dẫn và rằng phương Tây đang hướng về những giá trị đó như là "trở về cội nguồn". Ở Việt Nam, hiện nay có phong trào hương ước hoá các qui tắc sống, các qui tắc sinh hoạt ở các làng xã. Việc này, theo tôi, là một sai lầm. Thực ra, hương ước chính là bằng chứng về tình trạng chậm phát triển. 

Châu Á không hề có giá trị gì đặc biệt so với phương Tây. Nguồn gốc của việc xem trọng hương ước, bản sắc, giá trị châu Á là kết quả của bệnh tự ty, kết quả của tình trạng kém hay thiếu phát triển. Văn hoá nào, pháp luật nào, quan điểm chính trị nào thì cũng để phục vụ cho sự phát triển con người. Sự phát triển cá nhân con người, chứ không phải hương ước, không phải luật pháp quốc gia hay luật pháp toàn cầu là mục tiêu. Ở đâu nền văn hoá kìm hãm sự phát triển thì nền văn hoá ấy có vấn đề, pháp luật ấy có vấn đề.

Con người là khái niệm, không phải là một cá nhân. Cái hay của phương Tây là dung hoà được giá trị của cá thể và giá trị của cộng đồng. Pháp luật phải dung hoà giữa quyền lợi cá thể và quyền lợi cộng đồng, tạo ra tự do cá nhân chứ không phải tạo ra sự vi phạm các lợi ích công cộng. Đó mới là pháp luật lý tưởng.

Muốn có pháp luật lý tưởng, trước hết phải nâng cao dân trí chứ không phải là bắt đầu bằng việc biên soạn luật. Nâng cao dân trí đến lượt nó lại phải bắt đầu bằng nâng cao mức sống. Con người phải đạt đến một mức độ phát triển vật chất nào đó mới có quyền tự do để nhận thức được các giá trị tinh thần. Một khi còn bị trói buộc vào miếng ăn, vào nhà ở thì con người chưa thể có tự do. Con người mà chưa tự do, chưa được giải phóng ra khỏi những yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất thì không thể có hứng thú để bước sang lĩnh vực thưởng thức các giá trị tinh thần và do đó chưa thể có thói quen tôn trọng các giá trị pháp luật. Cho nên, nhiệm vụ đầu tiên của các hệ thống chính trị là nâng cao mức sống của con người và giải phóng con người khỏi những ràng buộc vật chất tối thiểu để họ được tự do. Càng tự do bao nhiêu em người càng tôn trọng pháp luật bấy nhiêu. Các hiện tượng vi phạm pháp luật là kết quả của sự thiếu tự do.

Khi nghiên cứu pháp luật, người ta thường đề cập đến hai mô hình: pháp trị và đức trị. Thực ra pháp trị và đức trị là hai trào lưu tư tưởng chứ không phải là hai mô hình pháp luật. Mặc dù luôn luôn nằm giữa trung tâm của những cuộc tranh luận lớn về bản chất của pháp luật, không ở đâu có pháp trị hoàn toàn và cũng không ở đâu có đức trị hoàn toàn, dù là ở phương Tây hay ở phương Đông. Sự phát triển không phải là do dùng pháp trị hay đức trị, mà chính là cách thức sử dụng các phương pháp cũng như cán cân Trị Vì và Quyền Lợi. 

Giá trị của phương Tây là biến xã hội thành cấu trúc của các Quyền. Pháp luật là văn kiện, là công cụ để người ta qui định các Quyền. Và chỉ khi người ta qui định các Quyền thì mới tạo ra sự phát triển. Lẽ đơn giản là một khi có quyền, dù hẹp đến đâu chăng nữa, thì con người cũng cố gắng tận dụng không gian chính đáng là các Quyền của họ. Không nên nhầm rằng pháp trị thì hạn chế sự phát triển còn đức trị thì tăng cường sự phát triển hay ngược lại. Ở nơi nào con người bắt đầu có các quyền hiến định, các quyền luật định của mình, thì ở đấy có sự phát triển.
Có một hiện tượng đáng suy ngẫm là phần lớn các quốc gia đang phát triển đạt được thành tựu kinh tế cao trong những thập niên vừa qua (trừ các quốc gia thành phố như Singapore, Hong Kong...) đều là những nước mà ở đó quyền con người bị bóp nghẹt, thậm chí là những đất nước của các bạo chúa. Có thể kể: Chile, Indonesia, Hàn Quốc... Hiện tượng này cần phải được lý giải từ bản chất. Trước tiên, cần phân biệt phát triển và phát triển bền vững. Tạo ra một nhà nước thật mạnh, tập trung tất cả các ý chí hành động, huy động một cách cưỡng bức tất cả các năng lực để tạo ra sự phát triển quốc gia thì đó cũng là một biện pháp tạo ra sự phát triển. Nhưng sự phát triển đó có bền vững không? Một quốc gia có thể phát triển bằng cách đổ chất thải của mình sang các nước lân cận hay không? Và liệu các quốc gia lân cận có cho phép nước đó đổ chất thải sang không?

Trong một thế giới đã toàn cầu hoá, quốc gia nào sẽ hứng chịu rác rưởi của quốc gia khác? Hiện nay, với sự thức tỉnh của các dân tộc sau chiến tranh lạnh, các quốc gia buộc phải điều chỉnh lại chính sách của mình. Không quốc gia nào có thể làm như trước đây được nữa. Giai đoạn tập trung ý chí hành động bằng nhà nước đã qua, giai đoạn hiện nay là giai đoạn thức tỉnh các lực lượng khác nhau trong mỗi dân tộc và vì thế hình thức nhà nước mạnh không còn là hình thức hợp lý.

Nguồn: Sách Văn hóa và con người

Phan Bội Châu: Tân Việt Nam

    Tân Việt Nam, tác phẩm còn ít được biết đến của Phan Bội Châu, viết có thể vào khoảng năm 1906-1907 ở Nhật Bản, là một cuốn sách mỏng trình bày quan niệm của tác giả về một nước Việt Nam mới, với mô hình chính trị dân chủ và mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa – hiểu theo thuật ngữ hiện đại. Bố cục cuốn sách gồm hai phần. Phần đầu (Thập đại khoái) trình bày mười điều sung sướng trong một nước Việt Nam duy tân thành công. Đó là:
    1. Không có cường quốc nào bảo hộ
    2. Không có bọn quan lại hại dân
    3. Không có người dân nào mà không được thỏa nguyện
    4. Không có người lính nào mà không được vinh hiển
    5. Không có loại thuế nào mà không công bằng
    6. Không có hình pháp nào mà không thỏa đáng
    7. Không có sự giáo dục nào mà không hoàn thiện
    8. Không có nguồn địa lợi nào mà không được khai thác
    9. Không có ngành công nghệ nào mà không phát đạt
    10. Không có ngành thương nghiệp nào mà không được mở mang.
    Phần cuối (Lục đại nguyện) bàn về sáu điều mong mỏi lớn để đạt được thành công đó. Tôi xin phép đảo lại thứ tự, giới thiệu Lục đại nguyện trước Thập đại khoái. Bản điện tử này được thực hiện từ ấn bản của Cục Lưu trữ Nhà nước năm 1989, do Võ Văn Sạch dịch và chú thích, Đinh Xuân Lâm viết lời giới thiệu. (Pro&contra)

    Bài liên quan:

    Võ Văn Sạch dịch và chú thích

    Tâm tư của người nước ta không phải là không thông minh, tai mắt người nước ta không phải là không tinh xảo, tay chân khí phách không phải là không hùng tráng, nhưng tại sao trong nước thì xưng là vua của dân, bên ngoài thì lại chịu làm bề tôi, cam chịu ở dưới của kẻ khác? Kể từ đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh cho đến Pháp ngày nay thì sự nô lệ đã khá là đấy đủ rồi, thế là bởi tại sao? Là tại vì mọi người không có ý chí mạo hiểm, tiến thủ, cho nên an phận ngu hèn, tự vui bề mềm yếu. Chỉ biết lấy việc ăn uống, trai gái làm điều kinh bang tế thế tuyệt vời, coi cửa nhà, tấm phản là đất trời cao rộng. Người khác ngồi ỉa đái lên đầu mình mà vẫn lì lợm mà nói: “Ta chỉ biết an phận”. Dân tộc khác có nuốt hết giống nòi mình thì cũng cứ ngạo nghễ mà nói: “Ta sẽ chờ đợi thời cơ”. Than ôi! Gặp thời cạnh tranh xâu xé, lòng người dữ như con rắn độc, con chim chiên đuổi con chim sẻ, con rái cá đuổi bắt con cá, có ai là miệng Phật đâu? Các anh mà không lo tiến thủ thì người ta sẽ diệt các anh, các anh mà không chịu mạo hiểm thì ai người ta thương các anh! Người nước ta cho đến nay mà còn chưa biết phấn khích lên được hay sao? Xin mọi người hãy giương mày mở mặt, hãy vì non sông mà rửa thẹn. Người ta đều có thể trở thành anh hùng mà sao mình lại chịu thua kém hèn? Người ta đều có thể là bá vương, sao mình lại chịu làm tôi tớ? Mọi người đều có tấm lòng phấn đấu như thế thì mọi người đều có thể được độc lập. Chí tiến thủ càng mạnh, lòng mạo hiểm càng hùng, thì việc bắt sư tử, bắt cọp bằng tay không, câu cá kình ngoài biển lớn nếu sức một người không được thì hợp sức 10 người lại sẽ thành, sức 10 người không đủ thì hợp sức 100, 1000 người lại thì chắc chắn sẽ thành công. Nếu cả nước mọi người đều cùng ý chí, cùng anh hùng thì người Pháp một ngày không thể ở yên được trên đất nước ta. Đó là điều duy tân tiên phong thứ nhất.

    Nước ta nhân khẩu không phải là không đông, đất đai không phải là không phì nhiêu, tài sản không phải là không dồi dào. Theo sổ công sưu của Pháp thì người nước ta có 25 triệu, nhưng kể toàn thể thì dân số không dưới 50 triệu người, thế thì dân phải nói là đông. Diện tích nước ta rộng hơn 25 vạn vuông Anh, năm thứ kim loại quý đều có cả, năm giống lúa cũng đều có, đất đai thì mầu mỡ phì nhiêu. Lúa gạo Sài Gòn (Nam Kỳ), của cải Bắc Kỳ có thể nuôi người Thanh, Ấn Độ, Mã Lai, Tiêm La, Diến Điện no đủ, huống hồ còn kể đến các ông Tây, bà đầm, chó Tây, ngực Tây, bồi Tây mặc sức bòn rút bóc lột ăn uống no say phè phỡn biết bao của cải nhà ta nữa. Thế thì phải nói của cải nước ta cũng lắm chứ. Người nước ta đông, đất đai phì nhiêu, tài sản dồi dào như thế, dù làm việc gì mà chẳng thành công được. Thế nhưng mà con người vẫn khốn nạn, chịu làm nô lệ, sản vật bị tan nát hao mòn, buôn bán thì quẫn bách, nghề nông thì đình đốn, bách công thì sứt mẻ vụng về! Ô hô! Trời có phải là eo hẹp với ta đâu? Đất có phải là hiểm trở đối với ta đâu? Xét lí do vì sao như thế mới hay rằng: Chẳng qua người trong nước ta không có tinh thần yêu mến, tin yêu nhau, cho nên mới coi anh em đồng bào như người nước Tần, nước Việt, đối xử đồng chủng như giặc thù. Nhà nào cũng đắp tường ngăn dậu, cửa nhà nào cũng khoét lỗ đắp hang, đưa nửa đồng tiền cho anh em mà nặng như 5 cân, bạn bè thân thuộc cách nhau gang tấc mà lòng xa vạn dặm, lại còn chửi bóng gió lẫn nhau; đau ốm không quan tâm lẫn nhau. Nhà tôi cứ hát xướng mặc cho nhà anh than khóc; xóm Đông cứ việc no say mặc cho xóm Tây đói khát. Đương khi giang sơn tro tàn cần cộng sức chân tay lại giúp đỡ mà sao lại còn riêng danh, riêng lợi, lìa đức, lìa lòng? Chủng tộc sắp bị diệt như sợi tơ sắp đứt, nỡ nào lại còn giơ cánh tay đánh nhau? Họa đã đến gần cả ba họ mà sao anh em vẫn đánh nhau ở trong nhà, ghen ghét nhau, ngờ nhau. Thật hết chỗ nói? Than ôi! Thế lực có đông đủ mới thành, cơ sở phải tập trung đầy đủ mới nên được vậy! Diễn một trò vui, làm một tiệc vui, chí ít cũng có tới vài mươi người, huống chi lo liệu cái lợi hàng ức triệu. Dựng công lao lại cho núi sông mà bảo lấy tâm lực của một vài người làm để làm, quyết không thể nào làm được! Chi bằng hãy kết đoàn thể, liên tính tình, tập trung mưu kế, hợp tiền của, vứt bỏ hết lòng ghen ghét nhau, cùng nhau một đường sống chết. Lấy của cải của nghìn vạn người làm của chung, lấy sức của ngàn vạn người làm sức chung, áo tôi anh mặc, cơm tôi anh ăn, anh đau ốm tôi mang thuốc cho anh uống, nhà tôi tối lấy đèn anh mà thắp sáng, ngàn vạn người chung vai mà gánh vác, nặng mấy cũng mang nổi. Ngàn vạn người chung tay mà đỡ, yếu mấy cũng vực lên được. Người nước ta ai ai cũng thành thực cùng thương yêu nhau, tin nhau như thế thì trong mắt ta còn thấy có người Pháp nữa hay không? Đó là điều duy tân tiên phong thứ hai.

    Thời nay, người nước ta nói trong mắt không thấy có xe hơi, tàu thủy; trong tai không nghe tiếng súng Tây, pháo Tây, trong lòng không biết việc học theo Tây, kĩ xảo của Tây, thực không phải thế. Thế thì mắt thấy gì mà như mù, tai nghe gì mà như điếc, lòng biết gì mà như dại như say là tại sao? Xét nguyên nhân thì một là người nước ta sống một cách nhớn nhác, hai là sống một cách dằng dai theo nếp cũ mà không chịu đổi mới. Các môn học như quang học, động học, hóa học, lí học khi nghiên cứu tới chúng thì cho rằng khó khăn vất vả, có bắt chước theo thì cũng lơ mơ, mù tịt. Người lớn tuổi ngày càng không còn mấy, người trẻ tuổi thì vợ con trói buộc. Xe hơi, tầu thủy để cho người khác làm cả, còn ta thì làm đầy tớ cho người Pháp. Súng Tây, pháo Tây để cho người Pháp làm, còn ta thì làm chó cho người Pháp. Ta không có học thuật như Tây, nhưng cũng đường đường là một ông tiến sĩ, cử nhân Việt Nam! Ta không có kĩ nghệ như Tây, nhưng mà cũng đàng hoàng là người thông sự ở Phủ Toàn quyền, là người phán sự ở Tòa Công sứ! Suy ra như thế thì thấy rằng kiến thức, khả năng bàn luận của ta làm sao mà biết hỏi đáp được văn mình là cái gì? Vả lại mọi thứ vật dụng tinh xảo, bền đẹp, nếu mình không chế tạo ra thì ở trên trời rơi xuống chăng? Một cái đài cao đẹp nếu chẳng phải do xây đắp nên thì nó ở dưới biển trồi lên hay sao? Sự nghiệp văn minh nếu không từng bước thực hiện thì tự nó đến với mình sao được? Người ta có máy móc, sao ta không tự mình mà làm? Người ta biết đổi mới, sao chỉ riêng mình là cổ hủ? Viêc học tập tinh thông các nghề ở Anh, Nhật, Đức, Mỹ tuy nhanh cũng phải đến hai năm, ta cũng đừng cho đó là điều khó. Các khoa học về binh, công, nông, thương tuy họ học nhanh cũng phải đến năm năm, ta chớ cho rằng học tinh tường như thế mà chán nản. Muốn học kĩ năng của các nước, trước hết phải học ngôn ngữ, văn học, luyện cách phát âm, cách nói của các nước đó thật nhuần nhuyễn đã, hoặc một năm, hoặc hai năm, nếu là người có chí thì phỏng có khó gì. Ta muốn lên vũ đài của văn minh, muốn hấp thụ hết những tinh túy của nước ngoài, đều phải tự mình đi khắp các kinh đô, đô thành của các nước, dù phải chịu cảnh đắt đỏ gạo châu củi quế, dù tốn kém tiền bạc thì người có sức lực há sợ gì tốn kém. Ta muốn vượt lên trên chiến lũy của văn minh, nếu nước khác phải đi một tháng mới đến đích, thì ta phải gắng sức đi đến đích chỉ một vài tuần, người khác có đôi chân đi được ngàn dặm thì ta phải cố đi được vạn dặm. Mới đầu thì ta lấy họ làm thầy, sau ta sẽ lại làm thầy của họ. Nước Nhật Bản bân giờ, có khác gì nước Việt Nam ngày mai. Đó là điều duy tân tiên phong thứ ba.

    Sóng gió lớn thì biển phải dâng, ai có mắt cũng đều thấy rõ. Mưa dông to sấm chớp rầm trời, hỏi hồn nào mà không tỉnh lại? Người nước ta bây giờ nói đến yêu nước, đánh chuông trống yêu nước cũng biết bao rồi. Tuy nhiên, chỉ nói thôi mà không làm, đó là lời nói ở đầu lưỡi vậy. Biết mà không làm thì sự hiểu biết đó có khác chi hồ bột ở trong lòng. Núi sông ta đã 50 năm nay như say mà chết. Ô hô! Có thể như vậy được sao? Chí khí của kẻ trượng phu còn đương sống đây, sao không biết bay nhảy theo thời? Tôi xin bái chúc đồng bào ta: kính xin bày tỏ cùng đồng bào ta có hai phương kế phải thực hành.
    1. Tưới máu tươi mà trừng phạt kẻ gian nô, hãy vì việc nghĩa mà trả thù cho đồng bào;
    2. Đem mồ hôi nghĩa mà mưu nghiệp tốt, hãy quyên góp tiền mà mưu nghiệp lớn.
    Tôi rất hổ thẹn vì không có khả năng làm được như thế, còn như đồng bào ta đây có ai mà không được? Mười ông Nhiếp Chính, trăm ông Kinh Kha [i] thì trong thế giới này không có khả năng nào mà không làm được! Một ông Tử Phòng, hai ông Lỗ Túc [ii] thì núi sông đều  có thể chuyển xoay gánh vác được. Đó là điều duy tân tiên phong thứ tư.

    Tiếng tăm về công đức, đường phố ngõ thôn đâu đâu cũng bàn tới, chỗ nào cũng cho là hay cả. Phong trào làm theo công đức, từ phụ nữ đến trẻ con nhi đồng, mọi người đều làm theo cả. Xin hỏi đồng bào ta ngay bây giờ: Da thịt đâu? Xương tủy đâu? Hồn phách đâu? Phải nên xem xét rõ để phân biệt hay không xét để phân biệt? Việc xem xét phải ở thực tế, việc nghiên cứu phải dựa vào hình ảnh có thực, không được bên Tây cái mâu và bên Đông cái thuẫn, không được như ngọc châu nước Tần với ngọc bích nước Triệu [iii]. Cung của người nước Sở thì người nước Sở mới được dùng [iv] không được lấy gì làm của riêng, dù là rất nhỏ cũng không được làm điều mờ ám. Từ một người cho đến một nước, hỏi có sự việc gì mà lại không thể làm được điều công đức? Ôi điều công đức! Đồng bào ai ai cũng nói đến công đức, mong mọi người hãy làm điều công đức. Người anh có lỗi lầm, không được hại người em. Người em có tài trí cũng phải dạy cho người anh cùng có. Tính mạng còn có thể đổi cho nhau được, huống hồ của cải tiền bạc lại không thể cho nhau được sao. Thân thể còn có thể cùng chung, huống chi là mảnh áo da ngựa không thể chung nhau được sao? Nước là nước ta, ta chỉ có biết có nước mà thôi. Mọi người ai ai cũng có tư tưởng hết lòng lo lắng, người nào cũng phải đem hết nghĩa vụ của mình ra đóng góp cho đất nước. Nếu anh đau ốm thì tôi thấy lo lắng buồn thương như cùng chung cái đau của một cơ thể, người kia cùng đi trên một con đường vất vả, há đâu phải hai con đường mà tính toán suy bì? Rồi sau đó sẽ tập hợp liên kết đông đảo tối đa con em ta lại để cùng tranh giành với một nhóm tối thiểu người Pháp, người Pháp liệu có may mắn thoát chết được không. Đó là điều duy tân tiên phong thứ năm.

    Nói về đạo đức thì kẻ sĩ tránh nói về danh, nói về cốt cách của người anh hùng thì người ta tránh bàn tới điều lợi. Than ôi! Danh và lợi làm tổn thương tới đạo đức, cũng làm phương hại tới người anh hùng hay sao? Sợ rằng chưa biết rõ cái chân thực của những điều ham muốn đó thôi. Vì cái danh trong sớm tối mà xét rằng nó không bao giờ thay đổi, thì cũng tức là giữ lại một cái gì xấu xa nhất; vì cái lợi trước mắt nhưng một khi thế cục đã chuyển vần mà không chịu sửa đổi thì sẽ phải gặp một cái họa khôn cùng. Những điều ấy nếu gọi đó là danh thì không thể là cái danh thực được. Nếu thực sự ham muốn làm cái danh thực thì cái danh đó muôn đời cũng chẳng ai dị nghị. Cũng như các ông Hoa Thịnh Đốn [v], Tây Hương Long Thịnh [vi] cũng là vì cái danh thực mà đô thành nước Mỹ rất trọng cái giá trị tự do của ông, nên ở Đông Kinh dựng tượng đồng ông như là một mẫu đài kỉ niệm. Lòng hi vọng danh dự của hai người ấy, thật là điều sung sướng vô hạn. Mong rằng người nước ta ai ai cũng làm theo cái danh như thế. Những cái đó mà gọi là lợi thì cũng chẳng thể gọi là cái lợi chân chính. Nhưng nếu ham muốn làm điều thực thì cái lợi tất sẽ đến với mình mà muôn dân cũng được nhờ ơn. Như việc mở mang Châu Phi hao tổn biết bao là tiền của, như việc đào Kênh Tô Di Sĩ [vii] tốn biết bao mồ hôi xương máu. Hai việc đó rõ ràng là lợi phi thường vậy. Mất hơn mười năm phí tổn mà có được một châu lớn như thế, dời được nghìn vạn dân đến ở, tốn hơn 10 trăm triệu đồng mà chuyển được bao nhiêu hàng hóa từ biển Đông sang biển Tây. Con đường vận chuyển đó, tuy rằng đó là sự hi vọng lợi ích của một vài nước, nhưng cái lợi đã được thỏa nguyện. Mong người nước ta ai cũng đều làm được điều lợi.

    Cơ bản mà nói thì danh một ngày với danh muôn đời, danh nào hơn? Có cái lợi riêng của mình với cái lợi của cả nước thì lợi nào lớn hơn? Chọn lấy cái danh hay thì dù muốn chết cũng chẳng từ; vứt đi nghìn vàng cũng không tiếc để cầu cho được cái danh dự cũng cứ phải mua, đó mới là làm theo cái danh thực. Chọn được cái lợi lớn thì dù cái quyền lợi của nước phải lấy sắt và máu để giành lại, văn minh phải lấy thân mình, nhà mình ra mua đề cầu cho được cái lợi ích cũng cứ phải hợp lại, đó mới là làm theo cái lợi ích chân chính vậy. Người nước ta đều có hi vọng về danh dự và lợi ích thì nước Việt Nam ta lại không giàu không cường thịnh được sao? Đó là điều duy tân tiên phong thứ sáu.

    Có làm được sáu điều mong muốn ấy thì mới có được mười điều sung sướng. Thực hiện được sáu điều mong muốn ấy thì tất cả mọi quyền hành tự ta ta cầm, khuôn phép tự ta ta đúc. Trời không thể đoạt được cái mong muốn đó của ta, đất không thể giữ được cái then chốt đó của ta. Nếu người trong nước ta đều đồng lòng thì việc dời đất trời, xoay sông núi đều làm dư sức. Người nước ta há lẽ nào lại tụt lùi mà không làm được hay sao? Gom chí khí của muôn người để xây nên thành cao ngút trời, góp trí tuệ lớn rung chuyển cả núi cao thì biển nào mà không lấp nổi. Xin cúi đầu lạy, xin cúi đầu chào nước Việt Nam mới muôn muôn năm! Đồng bào nước Việt Nam mới muôn muôn năm!

    Nguồn: Phan Bội Châu, Tân Việt Nam, Cục Lưu trữ Nhà nước, Hà Nội, 1989, tr. 37-46



    [i] Nhiếp Chính, Kinh Kha: hai người kiếm khách đời Chiến Quốc. Nhiếp Chính đâm Hàn Tường, Kinh Kha mưu sát Tần Thủy Hoàng. Sau người ta thường gọi chung hai người là Nhiếp Kinh. (Các chú thích trong bài đều của người dịch.)
    [ii] Tử Phòng: tên tự của Trương Lương người nước Hàn. Sau khi Hàn bị Tần diệt, để báo thù, Trương Lương đã giúp nhà Hán diệt Tần, nhưng sau đó đã trả ấn phong hầu mà đi tu tiến. Lỗ Túc: tự là Tử Kinh, người nước Ngô thời Tam Quốc, là người có tráng tiết và hảo tâm, được Chu Du tiến cử lên Tôn Quyền. Có công giúp Chu Du đại phá Tào Tháo trong trận Xích Bích.
    [iii] Tần là tên một nước mạnh đời Chiến Quốc ở vào đầu địa phận tỉnh Thiểm Tây bây giờ. Theo Sử kí, vua Tần tin vua Triệu có ngọc bích quý, muốn đoạt viên ngọc đó, bèn sai đưa thư vờ xin đổi 15 thành. Nhưng nhờ có mưu thần Lạn Tương Như mà vua Triệu vẫn giữ được viên ngọc quý đó mà không bị mất vào tay vua Tần.
    [iv] Sở là một nước lớn đời Xuân Thu ở vào vùng Hồ Bắc – Hồ Nam bây giờ, nổi tiếng về giỏi săn bắn. Vua nước Sở đi săn bị mất cung, có người nói rằng cung đó lại do người nước Sở bắt được, không lạc đi đâu cả. Ý nói của ai thuộc người đó, không xâm phạm đến đất đai, tài sản của người khác.
    [v] Hoa Thịnh Đốn: George Washington (1732-1799) là tổng tư lệnh trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho nước Mỹ. Năm 1789 được cử làm Tổng thống đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
    [vi] Tây Hương Long Thịnh: Saigo Takamori (1828-1877) là người có công đầu trong cuộc Duy Tân của Nhật Bản, từng giữ chức vụ tham mưu đại đô đốc từ năm Minh Trị và từng làm đại tướng lạc quân, có nhiều công lao trong việc xây dựng nước Nhật hùng cường.
    [vii] Kênh Tô Di Sĩ: kênh Suez nối liền Địa Trung Hải với Hồng Hải, chiều dài 161 Km từ Port Said đến Cảng Suez. Việc đào kênh để rút ngắn con đường biển nối liến Âu Á do kĩ sư Ferdinand de Lesseps đế xuất thực hiện và khánh thành vào năm 1869.

    Phiên tòa lịch sử xét xử Phan Bội Châu



     Ngày 30.6.1925, trên đường từ Hàng Châu về tới Quảng Châu sau khi viếng mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái (nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du và là người đặt bom ám sát toàn quyền Đông Dương Martial Merlin vào năm 1924 khi tên này trên đường quay về sau công du Nhật, ghé qua Quảng Châu), cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp-Anh tại ga Bắc Trạm, đưa vào tô giới Thượng Hải, bị giải về Hương Cảng rồi về Hải Phòng, sau cùng bị giam tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Ðể tránh việc làm cho dư luận quá xôn xao về tin Phan Bội Châu bị bắt, thực dân Pháp gắn cho ông tên tù quốc phạm là Trần Văn Ðức.
     
    Thực dân Pháp âm mưu bí mật thủ tiêu Phan Bội Châu, nhưng việc bị bại lộ, nên phải đưa ra xử ở Tòa đề hình Hà Nội.

    Trước đó, cụ đã bị kết án tử hình vắng mặt năm 1913 (trong một phiên tòa xử 3 ngày), sau hai vụ thành viên Việt Nam quang phục hội ném bom ở Thái Bình và Hà nội Hôtel. (13/4/1913 - Phạm Văn Tráng liệng tạc đạn giết chết tuần phủ tỉnh lỵ Thái Bình; 26/4/2913 - Nguyễn Khắc CầnNguyễn Văn Túy dùng tạc đạn giết chết hai trung tá Pháp và sáu tên khác bị thương tại Hà nội Hôtel)

    Hay tin Phan Bội Châu có thể bị án tử hình, phong trào vận động ân xá cho ông nổi lên rầm rộ. Đơn cử vài hoạt động:
    - Hội Thanh Niên Việt Nam in ra bốn ngàn lá đơn gửi đến các cơ quan chính phủ Pháp, các sứ thần liệt quốc ở Ba Lê, các tổ chức quốc tế yêu cầu can thiệp. Việt kiều ở Pháp họp đại hội bênh vực Phan Bội Châu, gởi điện tín kháng nghị hoặc yêu cầu tới những cơ quan có liên hệ đến vụ án Phan Bội Châu.

    - Để tranh thủ dư luận người Pháp ở Đông Dương cũng như ở chính nước Pháp, Phạm Quỳnh đã cho đăng trên tờIndochine Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8).

    - Tháng 9/1925, trong dịp Varenne (Va-ren) sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền… Nguyễn Ái Quốc đã viết bài “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” nhằm mục đích cổ động phong trào đòi trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu, vạch trần chủ trương bịp bợm, xảo trá của chủ nghĩa thực dân Pháp, làm cho người Pháp tiến bộ thấy rõ tinh thần yêu nước của dân Việt Nam.

    - Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước, mức độ chưa từng thấy ở Việt Nam đòi thả Phan Bội Châu.

    Sáu tháng sau ngày bị bắt, 8 giờ 30 phút ngày 23/11/1925, Tòa Ðề hình nhóm xử dưới sự chủ tọa của viên giám đốc Brida, Ðốc lý Hà Nội là Dupuy và đại úy Bollie làm phụ thẩm, Boyer làm bồi thẩm và Arnoux Patrick làm lục sự. Hội đồng Đề hình cử luật sư Bona ở Hà Nội và luật sư Larre ở Hải Phòng biện hộ cho Phan Bội Châu. "Tội danh Hội đồng Đề hình Pháp buộc tội Phan Bội Châu là: trong 8 tội đó có 6 tội đáng phạt đi đầy, 1 tội đáng khổ sai chung thân và một tội đáng tử hình" là các tội bạo động, phá hoại chính phủ bảo hộ và phá rối trị an (theo Bùi Đình: Vụ án Phan Bội Châu, NXB Tiếng Việt, Hà Nội, 1950).

    Từ sáng sớm dân chúng đã lũ lượt kéo đến tòa án để theo dõi vụ xử công khai. Tòa án đầy người từ ngoài sân đến trong phòng xử.

    Sau khi viên biện lý đứng lên buộc tội cụ Phan và yêu cầu kết án tử hình, thì nhà nho Nguyễn Khắc Doanh - một người thân hình nhỏ bé, mặt gân guốc len ra khỏi đám đông, xông thẳng ra trước vành móng ngựa, ngay trước mặt quan tòa, đòi chịu tù thay nhà chí sĩ, làm náo động phiên tòa và nói một câu: "Xin được chết thay cho ông".
    Trước những lời lẽ buộc tội gắt gao của Hội Ðồng Ðề Hình, Phan Bội Châu ung dung và chậm rãi đối đáp một cách rõ ràng khúc chiết. Ðể bênh vực cho hành động hợp lý và quang minh chính đại của mình.

    Nước Nam cũng là một nước xưa nay chịu ở dưới quyền chuyên chế, dân tình khổ cực đã lâu. Vua quan đối với dân xa cách nhau, ức chế nhau, lại tệ dân tình không có cách gì thượng đạt. Nhờ có chính phủ bảo hộ là một nước văn minh, nói rằng sang khai hóa cho, tôi đã chắc rằng dân Giao Chỉ mấy ngàn năm đã đến kỳ mở mày mở mặt.

    Chẳng ngờ, chính phủ sang cai trị 20 năm mà chính sách không có điều gì thay đổi. Đến năm 1904 mà Trung, Bắc Kỳ chỉ có hai trường, trường Hà Nội và trường Huế, mà là trường chỉ dạy làm thông ngôn. Người du học không cho, lối thi cũ vẫn để, hình luật không chịu thi hành hình luật Pháp, quan tham, lại nhũng hối lộ công hành. Tôi là người Nam, tôi muốn đánh thức cho dân tộc Việt Nam. Tôi thấy thế sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu mà tôi, trong tay có mấy trăm vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh, lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến có, tàu bay có, thì có lẽ tôi hạ chiến thư, đường đường chính chính đánh lại với chính phủ thực. 
     
    Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng tiền, tay không có một tấc sắt, không thể lấy vũ lực mà phản đối được. Vậy tôi chỉ dụng văn hóa, nghĩa là trước thư lập ngôn để cổ đng nhân dân, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị. Chẳng ngờ chính phủ ngờ vực bắt bớ, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đoạt cái mục đích của tôi.

    Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền góp sức để phái người đi du học, và làm sách gửi về cho nhân dân. Việc làm của tôi chỉ là dụng cái lưỡi và ngòi viết, mục đích của tôi chỉ là cải lương chính trị, cử động của tôi rất là chính đại quang minh.
     
    Nếu tôi là người có tội thì tôi chỉ có 4 tội như sau:

    1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không có ai phản đối, mà mình tôi phản đối, muốn cho nước Nam độc lập.

    2. Nước Nam xưa nay là chính thể chuyên chế mà tôi muốn cho nước Nam thành một dân quốc.

    3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.

    4. Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái thiên chức khai hóa của mình.
    (Phan Bội Châu -Thân thế và thơ văn - của Thế Nguyên)
     
    Tới đây tòa lại hỏi:

    - Ông phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ hay là chính trị của nước Nam?

    Cụ Phan đáp:

    - Tôi phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ, chứ nước Nam có nước đâu và có chính trị đâu mà tôi phản đối. Ấy, tội tôi chỉ có thế, chính phủ chiếu luật gia hình bắt tội thế nào tôi cũng chịu.

    Phan Bội Châu khẳng định ông chỉ đấu tranh bằng vũ khí văn hóa, và văn hóa cũng chỉ đơn thuần là sách, những bài luận và thơ văn. Mục tiêu đấu tranh cũng chỉ là cải lương về phương diện chính trị thuộc chế độ thống trị của Pháp: “Tôi phản đối là phản đối chính trị mà thôi, còn về chủng tộc, về tôn giáo, tôi không hề phản đối. Ai ai cũng là con Thượng Đế, người Nam, người Pháp vẫn là anh em một nhà. Tôi muốn rằng người Pháp, người Nam dìu dắt nhau mà cùng mưu lợi chung, miễn là chính thể cải lương cho được công bằng, cho có nhân đạo” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)

    Tôi phản đối là phản đối chính thể mà thôi, sao lại gọi là phá hoại chính phủ Bảo hộ được!
    Dân Việt Nam mất nước, như đàn con mất mẹ, chính phủ Bảo hộ tự nhận làm người mẹ nuôi ôm lấy mà trông nom dạy bảo cho. Tôi cũng là người trong nhà, trông thấy anh em mồ côi mồ cút cũng thương, lẽ đâu muốn cho anh em mất người mẹ nuôi ấy! Tôi cổ động là cổ động cho đồng bào biết hợp quần, biết ái quốc, biết yêu cầu cải lương chính trị, chớ có cổ động cho nhân dân làm loạn đâu?... Vả, nếu là kẻ có ý muốn làm loạn, thì tôi cứ ở ngay trong nước theo với Đề Thám cũng có thể làm được, có cần gì phải bỏ vợ, bỏ con, bỏ nhà, bỏ nước mà trốn đi ngoại quốc làm gì? Năm 1913, tôi nghe tin buộc tôi vào tội tử hình thì tôi vẫn đi lại ở Thượng Hải, có sợ gì đâu, vì tôi tự biết là vô tội”
    (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu) 
    Để phản bác sự buộc tội của Pháp, chúng cho rằng Phan Bội Châu đã “phản đối” chúng vì động cơ chức quyền phú quý: “… cuốn “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” là tôi làm từ trước, có đưa cho ông Phan Chu Trinh và cụ thượng Cao Xuân Dục xem, như vậy có phải là vì bất đắc chí với khoa cử rồi muốn tiếng ái quốc để cầu lợi lộc gì đâu?”.

    Nước Nam mà không thành được dân quốc, tôi nhận cái danh tổng thống thời quý hóa gì, ví như một nhà, ông Cường Để là người chủ mà tôi chỉ là người giúp việc; việc chưa nên cơ ngũ gì, tôi viết báo, làm sách lấy tiền nuôi thân và nuôi các đồng chí; trong các sách đó, cũng có cuốn tôi viết, cũng có cuốn người khác mượn tên tôi mà viết. Trong các sách tự tay tôi viết, có chỗ ví người Pháp như thần thánh, ví dân Nam như gà như lợn. Tôi khuyên người Nam nên cố học cho bằng người Pháp để yêu cầu quyền độc lập, chớ tôi có xui ai làm việc bạo động bao giờ! Những kẻ bạo động chắc là không ai đọc sách tôi, không đọc sách tôi nên mới lấy gà lợn mà chống lại thần thánh. Vả chăng những việc ấy là việc vô nhân đạo, nước Nam mà độc lập, tôi mà có quyền thế, quyết nhiên cũng không dung túng những kẻ làm việc bạo động như vậy, vì làm thế là làm hại cho người Nam” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu).

    Quan tòa thực dân Pháp lại buộc tội và hạ bệ Phan Bội Châu: “Ông Phan Chu Trinh là bạn của ông, cũng là người phản đối chính trị, song cách của ông Trinh là cách hòa bình, không như cách của ông là cách kịch liệt. Bao nhiêu sách viết ra truyền bá cái tư tưởng cừu thị người Pháp, bao nhiêu lần chủ trương việc bạo động, đó là cái tang chứng rõ ràng. Vì ông mà bao nhiêu người sa lạc vào con đường tội lỗi. Khi đem ra các tòa án xét mỗi một việc này, hỏi mỗi người một lúc, thế mà chúng khẩu đồng từ, đều nói tại ông xúi giục chủ trương. Bao nhiêu công việc họ làm đều là tội ở ông cả. Những người ấy vì ông sai khiến quyến rũ mà đến nỗi thế. Thế mà hỏi thì ông chối. Nhiều việc khác trong khi dự thẩm, khi thì ông đổ lỗi cho ông Nguyễn Thượng Hiền, khi thì ông đổ lỗi choCường Để. Xem đấy đủ biết cái cách chống chế của ông không khéo, không có can đảm, không phải là người anh hùng…” (Lời của quan tòa người Pháp)

    Quan tòa thực dân Pháp cho rằng Phan Bội Châu không phải là một anh hùng khi ông ngụy biện, chối tội –, Phan Bội Châu đã thú nhận về “chiêu bài phù Nguyễn”, cụ thể là phù Cường Để của mình:

    Tôi phản đối chính trị cố nhiên là phải cần có người, cần có của, và phải lợi dụng ông Cường Để, cho người trong nước, đã in sâu cái óc quân chủ, vui lòng giúp rập. Điều đó tôi không chối.

    Đến như hội “Duy Tân” thì là một học hội. Tôi có chiêu tập hàng thiếu niên anh tuấn trong nước ra ngoài cầu học. ÔngCường Để làm hiệu trưởng mà tôi thì làm giám đốc. Một hội như thế, có việc gì đáng tội đâu. Chẳng may chính phủ Nhật Bản cấm cách, chúng tôi phải trở về Tàu. Cái hội “Việt Nam Quang Phục” là người Tàu thương chúng tôi mà dung cho, trong đó có cả người Tàu, song nói rằng có ông Nguyễn Thượng Hiền thì thật là oan cho ông ấy quá. Điều đó tôi không chịu. Bấy giờ ông Nguyễn Thượng Hiền ở Sơn Tây chớ có ở Quảng Đông đâu! Vả chăng mục đích hội cũng chỉ là cầu học. Tôi định cổ động cho trong nước có nhiều người du học; khi có nhiều tay trí thức, bấy giờ mới yêu cầu chính phủ Bảo hộ trả lại quyền tự trị, lập thành một nước dân quốc. Trước sau tôi vẫn chủ trương dùng văn hóa mà phản đối chính trị, văn hóa không xong thì tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày bất lương, tôi còn một ngày phản đối. Chính trị mà có một ngày cải lương thì lập tức tôi đình chỉ sự phản đối ấy ngay” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
    Trong những đoạn tranh luận khá đanh thép với quan tòa thực dân Pháp, Phan Bội Châu vẫn tiếp tục khẳng định “chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề” của mình:

    Cái tên Phạm Văn Tráng về đây tôi mới biết. Trong hội “Việt Nam Quang Phục” không có tên người ấy. Một người không quen biết bao giờ khi nào lại có thể lấy cái quan tước, cái phú quý mười phần chưa chắc chắn phần nào mà dụ người ta làm những việc như việc ném bom, là sự mười phần chắc chết cả mười được. Họ đổ cho tôi là chủ sự, chẳng qua là họ nghe tiếng tôi ra nước ngoài viết báo làm sách, ai ai cũng biết, và nếu những người ấy có quả thật là người trong đảng tôi nữa, thì đầu đảng tôi là ông Cường Để, chủ sự tất tự ông Cường Để chớ sao lại tự tôi? Còn những việc mà tôi nói tự ông Cường Để, tự ôngNguyễn Thượng Hiền là sự thật.

    Tôi chối làm gì?

    Ngay từ lúc tôi làm việc phản đối chính trị, tôi đã cầm chắc hai phần: một là nước Nam được độc lập, hai là tôi phải mất đầu. Về đây, chắc chết rồi, đổ tội cho ai nữa mà mong cho nhẹ tội? Hội đảng chúng tôi dựng lên là cần có tiền, cần có người, song nhờ có ông Cường Để có thế lực với dân trong Nam, ông Thuật, ông Nguyễn Thượng Hiền có thế lực với dân ngoài Bắc, có các ông ấy thì mới có đủ thu được nhân vọng Nam, Bắc; còn tôi, tôi chỉ có thế lực ở tỉnh Nghệ, cùng mấy tỉnh Trung Kỳ mà thôi. Sự đó là sự thật, không phải tôi chối. Chúng tôi dắt nhau ra ngoài, trước hết là cần phải tìm cách để nuôi được nhau đã, vì thế nên có nhờ người Tàu giúp tiền của thật […].

    Những tội lỗi của những kẻ bạo động kia mà cho là tội lỗi của tôi cả, điều đó chi phải một nửa, nghĩa là chỉ phải về một phương diện mà thôi. […] chớ về phương diện pháp luật thì khi nào tội người em lại có thể là tội người anh, tội người con có thể là tội người bố được. […] Tôi phản đối chính trị, nhưng chỉ dùng cách hòa bình, chớ không dùng cách kịch liệt. Thân tôi thì chẳng qua như con muỗi, mà nhà nước thì binh lực như trời như biển, tôi chống sao cho lại mà tính chuyện bạo động? Đến nay hơn 20 năm trời, chiếc thân cơ khổ, một việc không nên, như thế tôi sao có thể là kẻ anh hùng cứu quốc được. Nước Nam mà ra nước Nam, thời có hàng ngàn người hơn tôi đứng ra lo toan việc nước, chớ như tôi, sao có đáng là bậc anh hùng. Tôi tuy là kẻ không anh hùng, song tôi thật không phải là kẻ tiểu nhân, chỉ tham đồ phú quý…”
    (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)

    Sau cụ Phan, hai luật sư Larre va Bona, Luật sư do Pháp chỉ định làm nhiệm vụ bênh vực bị cáo, đã thay nhau cãi, chống đỡ cho cụ Phan.

    Sau đây là lời bào chữa của luật sư Bona, người Pháp, về động cơ hoạt động của Phan Bội Châu: "Cụ đem cái ý tưởng ấy bàn với các đại thần, thì bọn này lại dọa nạt cụ bằng câu xử tử. Cái máu nóng gặp phải những phản đối như vậy lại càng như sôi như đốt…” (lời bào chữa của trạng sư Bona)

    Bona bào chữa tiếp cho bị cáo Phan Bội Châu: “Cụ có dự định dùng võ lực thật, nhưng chỉ dùng trong trường hợp vận dụng văn hóa không thành công mà thôi. Vả lại võ lực có chính đáng thì cụ mới làm, nghĩa là luyện tập lấy lục quân, hải quân, đại bác, phi cơ, khi nào đầy đủ mới đường đường chính chính đem quân ra khai chiến.

    Nhưng đó là tư tưởng cụ về trước. Còn gần đây thời cụ là người thế nào? Ngay khi vẫn còn tự do, tự chủ, được tha hồ vùng vẫy nơi hải ngoại, cụ cũng đã soạn ra hai bộ sách mới. Cuốn thứ nhất là “Dư cửu niên lai, sở trì chi chủ nghiã”, trong đó cụ khuyên đồng bào nên từ bỏ hẳn lối bạo động, lối võ lực, theo gương Arabie và Phi Luật Tân, có tiến lên bằng văn hóa thì người Pháp phải cho tự trị. Cuốn thứ hai là “Pháp - Việt đề huề luận”, trong đó cụ khuyên người Nam nên đồng lao cộng tác với người Pháp.

    Trong cuốn sách này cụ có đoán rồi sau này thế nào cũng có một cuộc Pháp – Nhật chiến tranh, và khi đó người Việt Nam phải thế nào? Cụ khuyên đồng bào nên đi đôi với Pháp mà chống lại Nhật, không phải về võ bị Nhật có kém gì người Pháp, nhưng cụ viện ra bốn lẽ sau đây…
    ”. […]

    Bởi vậy cụ Phan khuyên người Việt nam phải đồng tâm với Pháp vì họ đãi mình được công bằng nhân đạo hơn. […]

    Như thế chẳng phải là một bằng chứng xác thực là cụ đã biến cải cái ý tưởng trước kia của cụ đấy hay sao? […]

    Như vậy thời lúc này chẳng phải là lúc nên đem cái ý kiến Pháp - Việt đề huề của cụ Phan đã khuyên người đồng bang ra mà thực hành hay sao?" 
    Bona còn nói thẳng, việc tha bổng cho Phan Bội Châu là một “hành động chính trị khôn khéo”:

    Thưa các Ngài, các Ngài nên dung thứ cho cụ Phan Bội Châu, vì như vậy, chẳng những các Ngài đã làm được một hành động quảng đại đối với lương tâm, mà các Ngài còn làm được một hành động chính trị khôn khéo nữa, và do đó, người Pháp chúng ta, ai là kẻ thức giả cũng phải đem lòng mến phục các Ngài” (lời bào chữa của trạng sư Bona)

    Luật sư Bona (người Pháp) cũng đã xưng tụng cụ như sau: “Cụ Phan là người quả không hổ là kẻ ái quốc chân chính. Dù tôi là người Pháp, đối với cụ Phan tôi cũng phải ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế quang minh, cái tinh thần cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm của cụ”.

    Phiên tòa xử đã kéo dài từ 8 giờ 25 sáng đến 8 giờ tối, tòa mới nghe xong lời bị cáo và lời biện hộ của luật sư.

    Cuối cùng, sau một ngày xét xử, Hội Đồng Đề Hình vào trong nghị án. Do lo sợ hậu quả của vụ án nếu xét xử tử hình nên Hội đồng ra tuyên án: Khổ sai chung thân. (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).

    Trước bản án khổ sai chung thân của cụ Phan, một phong trào đòi ân xá cụ Phan đã bộc phát khắp nơi. Xin ghi tóm tắt một số cá nhân và đoàn thể:
    1. Điện văn của luật sư Bona và Larre cùng ông Clement, chủ nhiệm báo Argus Indochinois gửi toàn quyền Varenne. Phần đầu điện văn viết: ‘Với tư cách ký giả báo chí, tôi đã theo dõi các diễn tiến phiên tòa đặc biệt xử án nhà ái quốc Phan Bội Châu ... Rất xúc động trước phán quyết của tòa án. Phần lớn người Pháp và An Nam hiện diện tại phiên tòa cũng xúc động như tôi. Hầu nâng cao thời đại của ngài và dư luận được trấn tĩnh, dám xin ngài gia ân cho nạn nhân của chế độ thuộc địa này’.

    2. Ban Trị Sự hội Trung Kỳ Tương Tế ở Hà Nội gửi điện văn xin ân xá cụ Phan và toàn quyền Varenne đã trả lời, đại ý là sẽ xét lại hồ sơ vụ án và sẽ thi hành một chế độ khoan hồng.

    3. Nữ giáo viên và nữ sinh Đồng Khánh Huế đã gửi điện văn cho toàn quyền Varenne với nội dung: ‘Chúng tôi, tất cả nữ giáo viên và nữ sinh trường Đồng Khánh, xin ngài vì lòng khoan dung, ân xá cho nhà ái quốc Phan Bội Châu’.

    4. Điện văn của sinh viên trường Cao Đẳng Hà Nội: ‘Chúng tôi, sinh viên Trường Cao Đẳng Đông Dương, bị kích thích mạnh mẽ vì cách buộc tội nhà đại ái quốc và duy tân Phan Bội Châu, dám xin ngài rộng lòng ân xá cho cụ. Thi hành một việc khoan dung như vậy, ngài sẽ chứng tỏ được lòng trung thành với lý tưởng và thiên chức khai hóa nhân đạo của nước Pháp. Nhân dân An Nam sẽ không bao giờ quên ơn ngài’.

    5. Hội Việt Nam Thanh Niên tại Hà Nội đã gửi truyền đơn tới nhiều cơ quan quốc tế yêu cầu lên tiếng đòi ân xá cụ Phan. Trong đó có thể kể:

    - Hội Vạn Quốc
    - Tòa Án Quốc Tế ở La Haye.
    - Nghị Viện Pháp.
    - Giám Quốc Pháp.
    - Bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp.
    - Toàn Quyền Đông Pháp.
    - Sứ Thần Trung Hoa.
    - Sứ Thần các nước tại Paris.

    6. Trong phong trào đòi ân xá cụ Phan, tại Hà nội đã có 2 vụ đạo đạt thỉnh nguyện thư đặc biệt nhân dịp toàn quyền Varenne từ Sài Gòn ra Hà Nội:

    - Khi xe Varenne tới cuối phố Hàng Đường, một nhóm hàng trăm phụ nữ, người đứng đầu là một bà cụ 70 tuổi, tóc bạc phơ, đã qùy nghiêm chỉnh ở giữa đường, đưa bức thư xin ân xá cụ Phan.

    - Ở một địa điểm gần nhà ga, trên đường tới phủ Toàn Quyền, có hơn 200 học sinh, chia làm 3 nhóm, đứng ở 3 chỗ, đón đường Varenne. Mỗi toán cầm một lá cờ, trên nền cờ viết 3 dòng chữ:
    * Chúc nhà xã hội Varenne trường thọ.(Chữ đỏ, biểu hiệu cho đảng xã hội).
    * Xin xá thứ cho cụ Phan Bội Châu. (Chữ đen, màu tang chế, nói lên nỗi đau của thiếu niên Việt Nam trước cái án của cụ Phan).
    * Chấm dứt chủ nghĩa thuộc địa áp chế.(Chữ đỏ, nói lên tinh thần tranh đấu).
     
    Khi Varenne đi qua, các toán học sinh đã nâng cao lá cờ và hô lớn các khẩu hiệu đó.
    Trước sự công phẫn của nhân dân, ngày 24/12/1925, một tháng một ngày sau hôm xử án tại Hà Nội kết án khổ sai chung thân, Toàn quyền Varenne – Đảng viên Đảng Xã hội Pháp, sau khi điện về Pháp đề nghị, đã ký quyết định “ân xá” cho nhà chí sĩ yêu nước. Sau khi được ân xá, Toàn quyền Varenne đưa Phan Bội Châu về an trí ở miền sông Hương núi Ngự (Huế) gọi là đi dưỡng già nhưng kỳ thật là giam lỏng ông, kiềm chế và theo dõi mọi hoạt động.

    Ông dựng một túp lều ở bến Ngự và sống ở đấy suốt 15 năm cuối đời. Nơi đây biến thành nơi tập trung của thanh thiếu niên và học sinh Huế, tới để yết kiến, chiêm ngưỡng vị anh hùng dân tộc. Nơi đây cũng thường lui tới một số công chức còn nặng tình dân tộc, sùng bái các vị anh hùng, vĩ nhân đã hiến trọn cuộc đời cho đất nước (theo Nguyễn Quang Tô, sách đã dẫn).

    Để giao lưu tâm tình với bạn hữu và những người đồng chí hướng, Phan Bội Châu mở ra Mộng Du thi xã, kêu gọi mọi người gửi thơ văn đến xướng họa. Lời kêu gọi của nhà yêu nước được hưởng ứng sôi nổi. Thơ từ các nơi gửi về cho Mộng Du thi xã rất nhiều.
    Mặc dù sống tiếp cuộc đời "cá chậu chim lồng" nhưng cụ vẫn tự làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân đối với nước... Đó là các tác phẩm: Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên... Phan Bội Châu niên biểu, Lịch sử Việt Nam diễn ca. Đó còn là các công trình biên khảo hết sức đồ sộ như Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội chủ nghĩa, Chu dịch, Nhân sinh triết học, cùng với trên 800 bài thơ Nôm các loại, mấy chục bài phú, văn tế, tạp văn khác.

    Trong những ngày đầu, có tư liệu cho rằng Pháp gửi Phan Bội Châu vào tạm sống tại nhà một người đồng chí cũ của ông, từ khá lâu y đã về đầu thú và nhận chức sắc của Pháp. Đó là Nguyễn Bá Trác, người mà theo tương truyền, là tác giả của bài thơ “Hồ trường” bi tráng nổi tiếng. Thậm chí, hơn thế nữa, Phan Bội Châu còn đóng phim, một loại phim có lẽ để tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề!

    Tuy vậy, bốn năm sau (1929), khi đã ổn định tinh thần, Phan Bội Châu lại viết hồi kí. Đó là công việc ông đã từng làm, và bỏ dở nửa chừng. Cuốn sách bị bỏ dở ấy có tên là “Ngục trung thư”. Nay, trong túp nhà ở Bến Ngự (Huế), Phan Bội Châu lại viết tiếp, đồng thời chỉnh sửa lại những trang đã viết. Đó là cuốn “Tự phán” (tự xét định về mình) hay “Phan Bội Châu niên biểu”.

    Phan Bội Châu mất ngày 29.10.1940, thọ 74 tuổi. Mai táng ngay trong chiều hôm sau tại phía trước ngôi nhà cụ ở Bến Ngự - Huế, theo đúng di chúc của Cụ. Trước giờ lâm chung, ông đã cố gắng đọc lên một bài khẩu chiến có những lời lẽ thống thiết như sau :
    Nay đang lúc tử thần chờ trước cửa
    Có vài lời ghi nhớ về sau
    Chúc phường hậu tử tiến mau.

    Phan Bội Châu để lại Bản di chúc có tên gọi là “Mấy lời vĩnh quyết” với những lời ngẫm ngợi với hậu thế:

    “Phan Bội Châu, một tên dân Việt Nam, trước lúc gần chết mà chưa tắt hơi, kính có mấy lời thành thực từ biệt cùng anh em đồng bào.

    Trước kia không kể, kể từ năm 1906… khiến cho người nước kẻ ở người đi, kẻ còn người mất và bị lụy rất nhiều, toàn là tội ác về tay tôi gây nên. Mà may quá! Từ 1925 tôi mang cái sống thừa về nước đến giờ, anh em đồng bào đã không ai trách tội tôi mà lại quá thương yêu tôi, tôi thực là hổ thẹn với đồng bào ta và cảm ơn vô cùng. Trải mười lăm năm nay, nằm co trong túp lều ở Bến Ngự cùng chiếc đò trên sông Hương, đoạn đời sống thừa của tôi, không việc gì đáng nói và đồng bào đã rõ thừa. Bây giờ tôi đã đến lúc lâm biệt, xin có lời từ biệt.

    Bội Châu từ xưa tới nay, đối với đồng bào đã không chút gì là công, mà lại tội ác quá nặng. Bây giờ tôi chết, thiệt là một tên dân trốn nợ và vỗ nợ, đồng bào có thứ lượng cho tôi thì xác tôi tuy chết mà tinh thần tôi vẫn cảm ơn đồng bào luôn luôn.

    “Người đến khi gần chết, lời nói hẳn lành”. Nay tôi đã đến lúc “gần chết” đó, xin có mấy lời gan phổi tỏ lời hy vọng cuối cùng với đồng bào:

    Đồng bào Việt Nam ta có trên hai mươi triệu, bấy nhiêu đầu óc, bấy nhiêu tai mắt, bấy nhiêu chân tay, nếu không biết thân yêu nhau, đồng lòng hợp sức làm cái bổn phận quốc dân đối với Tổ quốc… Không thế, trên mặt địa cầu sau này sẽ không có hình bóng dân tộc Việt Nam nữa, thì Bội Châu này dầu có trốn nợ, vỗ nợ cũng may mà được chết trước anh em, tôi lấy làm một điều hạnh phúc.

    Mấy lời trên, tôi xin từ biệt mà cảm ơn đồng bào…

    Kính,
    Phan Bội Châu quyết biệt”


    Bùi Quang Minh (tổng hợp)

    Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

    Tiểu sử Phan Khôi

    Các bài đã đăng:

        Các nhà nghiên cứu cho rằng: ông thuộc số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng khác với họ, ông thể hiện mình ở vai trò phản biện, và sự phản biện đó đem lại chiều sâu mới cho tri thức.

        - Phan Khôi sinh ngày 6/10/1887 tại làng Bảo An, xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là con trai của Phó bảng Phan Trần, Tri phủ Diên Khánh và là cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu, ngay từ nhỏ, Phan Khôi đã nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và hay… lý sự!

        - Thiếu thời Phan Khôi học chữ Hán, năm 18 tuổi đi thi, đỗ tú tài (1905), sau đó bỏ lối học khoa cử, tìm học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp; ông là một trong những người đầu tiên cắt tóc ngắn, hưởng ứng vận động duy tân.

        - Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia công việc của Đông Kinh nghĩa thục. Nghĩa thục bị đóng cửa, ông đi Nam Định học chữ Pháp với Nguyễn Bá Học, vì nhà nho này bị mật thám Pháp theo dõi, ông phải trở về quê.

        - Năm 1909 Phan Khôi ra Huế xin vào học trường dòng Pellerin (của nhà thờ Ki-tô giáo), được vài tháng lại phải trở về quê vì ở nhà có đại tang. Lúc này ở Quảng Nam nổ ra phong trào “xin xâu” (biểu tình đòi giảm sưu thuế), Phan Khôi tham gia (có làm bài vè Dân quạ đình công), bị bắt và cầm tù tại nhà lao Hội An cùng Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhân sĩ khác. Trong tù tiếp tục tự học tiếng Pháp.

        - Năm 1913, được ra tù, Phan Khôi về nhà cưới vợ và mở lớp dạy chữ Hán tại nhà mình. Khi triều đình Huế bãi bỏ chế độ khoa cử chữ Hán, ông thôi dạy và khuyên học trò đi học chữ Quốc ngữ.

        - Năm 1916 Phan Khôi ra Hải Phòng làm thư ký cho Công ty vận tải đường thuỷ của Bạch Thái Bưởi, nhận thấy công việc ở đây chỉ để kiếm sống chứ không hợp chí hướng riêng nên đã xin thôi việc.

        - Năm 1918, do Nguyễn Bá Trác giới thiệu, Phan Khôi lên Hà Nội tham gia viết bài cho tờ Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Được một thời gian, ông bỏ tờ báo này, vào Sài Gòn viết cho báo Lục tỉnh tân văn; vì có một bài có giọng “kịch liệt quá”, ông thôi việc ở tờ này.

        - Năm 1920, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho các tờ Thực nghiệp dân báo và Hữu thanh tạp chí; đồng thời cộng tác với vợ chồng mục sư người Mỹ W.C. Cadman để dịch Kinh Thánh (Bible) của Cơ Đốc giáo ra chữ Quốc ngữ (tiếng Việt) bằng cách đối chiếu bản chữ Hán với bản chữ Pháp.

        - Khoảng năm 1925 Phan Khôi vào Sài Gòn, sau đó nhân một vụ việc gì đó, vì bị chính quyền Pháp tình nghi và đe dọa, ông chạy xuống Cà Mau tá túc tại nhà một người bạn là chủ đồn điền; ban đầu chỉ dùng thời giờ học tiếng Pháp qua thư từ với nhà báo người Pháp là Dejean de la Bâtie ở Sài Gòn, sau đó cộng tác gửi bài cho các báo ở Sài Gòn.

        - Những năm 1928-1933 tại Sài Gòn, Phan Khôi viết cho các tờ Đông Pháp thời báo (1928), Thần chung (1929-1930), Phụ nữ tân văn (1929-1934), Trung lập (1930-1933), Quần báo (báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn,1928-30), gửi bài cộng tác với Đông Tây tuần báo (1929-1932) ở Hà Nội. Đây là những năm ông làm nên “tên tuổi Phan Khôi”.

        * Năm 1928 Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo) tranh luận bác bỏ “cái thuyết nước Pháp giúp nước Nam về hồi thế kỷ XVIII”, nói rõ việc hiệp ước Pháp-Việt 1787 đã không được phía Pháp thực hiện.

        * Năm 1929 Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) mở cuộc trưng cầu ý kiến các nhân vật nổi tiếng trong nước về vấn đề phụ nữ.

        * Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung) mở cuộc thi về quốc sử.

        * Năm 1929-31 Phan Khôi (trên Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn) mở ra tranh luận về việc viết đúng chữ quốc ngữ.

        * Năm 1930 Phan Khôi (trên Trung lập) mở ra cuộc bút chiến với Nguyễn Phan Long và đảng Lập hiến Nam Kỳ về trách nhiệm của người làm chính trị trước thời cuộc và vận mệnh người dân.

        * Năm 1929-30 Phan Khôi (trên Thần chung, Phụ nữ tân văn, Trung lập) nêu vấn đề về di sản Nho giáo trong thời “Âu hoá” của Á Đông; thảo luận các vấn đề Nho giáo với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng.

        * Năm 1931- 32 Phan Khôi (trên Đông tây, Trung lập, Phụ nữ tân văn) tham gia tranh luận về “quốc học”, đánh giá di sản học thuật Việt Nam trong quá khứ.

        * Năm 1932, Phan Khôi (trên Phụ nữ tân văn) công bố bài thơ Tình già, kêu gọi đổi mới thơ ca, khởi đầu cho phong trào Thơ mới tiếng Việt.

        * Từ 1928 đến 1933, Phan Khôi (trên Đông Pháp thời báo, Thần chung, Trung lập) thực nghiệm lối văn hài đàm với các “mặt nạ tác giả”, xây dựng một loại văn tiểu phẩm học từ báo chí Pháp nhưng vẫn đậm phong vị tản văn Á Đông, là tác giả trên dưới 1000 bài hài đàm với các bút danh Tân Việt, Tha Sơn, Thông Reo, để lại một bách khoa thư văn hoá về cái hằng ngày của đời sống.

        - Năm 1933, Phan Khôi ra Hà Nội, viết cho Thực nghiệp dân báo, sau đó nhận lời với chủ báo Phụ nữ thời đàm, cùng Tế Xuyên đổi tờ này sang thể tài tuần báo, tiếp tục đề cập vấn đề phụ nữ với dư luận ngoài Bắc vốn bảo thủ hơn; tham gia tranh luận “duy tâm − duy vật”; duy trì tờ báo này được 26 tuần lễ.

        - Năm 1935 Phan Khôi vào Huế làm chủ bút tờ Tràng An. Tháng 8.1936 được phép xuất bản tờ Sông Hương do chính ông sáng lập, duy trì tờ này được 37 số, sau đó bán lại cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu.

        - Năm 1937, ông vào lại Sài Gòn, dạy quốc văn và chữ Hán tại trường Chấn Thanh; đồng thời cộng tác gửi bài cho các báo ở Hà Nội: Hà Nội báo (1936-37), Đông Dương tạp chí (1937-38); Dư luận (1938), Thời vụ (1938-39), Tao đàn (1939), Phổ thông bán nguyệt san (1939)… Năm 1941, trường Chấn Thanh từ Sài Gòn chuyển về Đà Nẵng; Phan Khôi về làng Bảo An sống với gia đình.

        - Trong năm 1945, Phan Khôi từ chối khi được Nguyễn Bá Trác đến vận động tham gia chính phủ thân Nhật mà Trần Trọng Kim đang thành lập; ông cũng không mặn mà với đại diện tổ chức phản đế là Hoàng Phê đến vận động; ông chỉ nhận lời một cách hờ hững với tổ chức Quốc dân đảng (do Phan Bá Lân đến vận động nhiều lần), nhưng không hoạt động gì.

        Sự kiện Việt Minh cướp chính quyền ở Quảng Nam và trong cả nước là bất ngờ đối với Phan Khôi, ông ngạc nhiên khi biết ngay trong gia đình có người của Việt Minh (em trai ông là Phan Bôi, con trai ông là Phan Thao…). Được mời dự mít tinh mừng thàmh lập nước ở tỉnh Quảng Nam, ông lên diễn đàn tỏ ý tán thành độc lập dân tộc nhưng không đồng tình đi con đường cộng sản vì theo ông nó sẽ khiến kinh tế lạc hậu, dân trí thấp kém.

        - Tháng 10.1945, chính quyền mới ở tỉnh Quảng Nam mời ông ra Hà Nội, theo chỉ thị triệu tập của Chính phủ. Khi cuộc kháng chiến nổ ra trong cả nước, từ Hà Nội ông tản cư lên Việt Bắc, làm công tác nghiên cứu và dịch thuật trong cơ quan hội Văn nghệ Việt Nam.

        - Năm 1955 trở về Hà Nội, ông làm việc trong hội Văn nghệ Việt Nam.

        - Năm 1956, ông được bộ Văn hoá và hội Văn nghệ Việt Nam cử đi Trung Quốc dự kỷ niệm 20 năm (1936-56) ngày mất Lỗ Tấn (1881-1936); ông có bài phát biểu tại lễ kỷ niệm.

        - Năm 1957 Phan Khôi tham gia đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam, từng làm giám khảo trong các giải văn học của Hội nhà văn Việt Nam.

        - Trong năm 1956 - 1957 Phan Khôi có một số bài viết đăng trên các tập Giai phẩm (nhất là bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ) của Nxb Minh Đức. Ông đứng tên làm chủ nhiệm báo Nhân văn (1956) và đăng một số bài trên báo này. Khi tờ Nhân văn bị đóng cửa, ông có một số bài đăng tuần báo Văn (của Hội Nhà văn Việt Nam, 1957-58) bị đương thời xem như những biểu hiện tư tưởng tiêu cực và có tính phá hoại (do báo Nhân Văn có phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc đó và phỏng vấn nhiều kỳ về mở rộng tự do, dân chủ). Sau khi các văn nghệ sĩ tham gia Nhân Văn - Giai Phẩm bị đưa đi cải tạo, Phan Khôi bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời.

        - Ông qua đời tại Hà Nội ngày 16/1/1959, thọ 73 tuổi.

        - Năm 2007, kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông, Một tọa đàm về ông đã được Tạp chí Xưa và Nay, Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức. Loạt sách Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo, do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm, cũng được xuất bản.

        Quan điểm viết bài


        Khoảng thời gian hoạt động rực rỡ nhất trong đời Phan Khôi, "làm cho Phan Khôi trở thành Phan Khôi", kéo dài từ năm 1928 đến năm 1939. Trong khoảng thời gian này, toàn bộ các bài viết của ông đều được đăng trên báo chí với các đề tài rất đa dạng: cổ học Trung Quốc và Việt Nam; văn hóa, văn học và chính trị Trung Quốc đương đại; khảo cứu lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và văn học Việt Nam, phê phán chính sự đương thời,…

        Đặc biệt Phan Khôi là người khởi động hoặc tham gia hàng loạt các cuộc tranh luận trên báo chí về khá nhiều vấn đề học thuật có tính cơ bản và lâu dài, gắn với sự phát triển của tư tưởng, văn học và xã hội Việt Nam thế kỷ XX.

        ... Qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề : phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lí thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.

        Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức. (Lại Nguyên Ân)

        Nói về ông ngày hôm nay

        - Ông là người có tính cách quyết liệt và tư tưởng duy tân. Sống trong thời kỳ lịch sử đầy biến cố, bi hùng, mỗi con người trước vận mệnh của Tổ quốc có nhiều lựa chọn khác nhau. Vì sự lựa chọn là gắn bó với dân tộc và cũng gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc, chúng ta đã chứng kiến toàn bộ cuộc đời của cụ, kể cả những ngày khó khăn nhất, gai góc nhất cũng thấy đó là cuộc đấu tranh lựa chọn con đường. Nếu con đường đi theo cách mạng để giải phóng dân tộc là một dấu chấm than khẳng định, thì con đường phấn đấu để xây dựng một đất nước Việt Nam mới vẫn có thể đối với các cụ là một dấu hỏi. Hôm nay tưởng niệm Phan Khôi chúng ta nhấn mạnh đến dấu chấm than ấy! (Dương Trung Quốc)

        - Ngoài cụ Huỳnh Thúc Kháng, nếu chỉ chọn lấy một nhà báo tiêu biểu nhất của xứ Quảng trong thế kỷ 20, tôi sẽ chọn lấy Phan Khôi. Đó là một hình ảnh kỳ lạ nhất, cô độc nhất, bản lĩnh nhất của lịch sử báo chí Việt Nam hiện đại. Ngay trong cõi nhân sinh ta bà bụi bặm, Phan Khôi đã chọn thái độ sống như một cây thông. Ông đứng sừng sững, không bè phái, băng nhóm, dù đơn độc nhưng lại dám… “gây sự” từ Nam chí Bắc trên trường văn trận bút. (Lê Minh Quốc)

        - Ông là một trong những nhà văn hóa nổi bật của thế kỷ 20. Ông vừa viết văn chương, vừa vận động yêu nước. Phan Khôi cũng chính là người đầu tiên dịch Kinh thánh Tin lành từ tiếng Pháp sang tiếng Việt (năm 1920) và dịch một số tác phẩm từ tiếng Hán. Bản dịch của Phan Khôi hay và chính xác hơn nhiều bản dịch của những dịch giả khác. (Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn)

        - Giáo sư Đinh Xuân Lâm dù đã 83 tuổi nhưng vẫn nhớ như in những câu trong bài thơ “Tình già” của Phan Khôi, tác phẩm được cho là một trong những bài thơ mở đường Thơ mới, mà ông đã đọc cách đây gần 70 năm. Giáo sư còn nhắc đến cuốn tiểu thuyết “Trở vỏ lửa ra” của Phan Khôi để chứng minh rằng, Phan Khôi là một người toàn diện, không chỉ dịch văn, thơ, viết thơ, viết báo mà còn viết cả tiểu thuyết. “Muốn dùng được Phan Khôi phải là người cực giỏi, cực tài. Chắc chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam)

        - Nếu nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, không thể phủ nhận những đóng góp của Phan Khôi bằng cả tâm huyết, trách nhiệm, trí tuệ đối với quá trình bảo vệ và phát triển ngôn ngữ quốc gia tiếng Việt, “làm cho tiếng Việt nước ta tiến dần lên đến bậc hoàn mỹ”. (Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang)

        - Phan Khôi, người đi trước thời đại. (Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn)

        - Một trí thức trẻ mới ngoài 20 tuổi đã bị thực dân Pháp bắt bỏ tù 2 lần, một lần 18 tháng, một lần 3 năm, chỉ vì theo chân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh để hoạt động yêu nước. Một nhà báo suốt thời tráng niên của mình lăn lộn trên văn đàn chỉ nhằm một mục đích cho hai tiếng nhân dân. Một nhân sĩ bỏ lại tất cả ở phía sau để dấn thân cho cuộc kháng chiến 9 năm và cuối cùng, một học giả sức cùng lực kiệt vẫn gắng gượng đóng góp sức mình, mong có được một vườn hoa văn nghệ đầy hương sắc của dân tộc. Một người như vậy không bao giờ đi ngược lại quyền lợi của đồng bào mình. (Phan An Sa, con trai út của Phan Khôi)

        Theo: Chungta.com

        Facebook Digg Stumbleupon Favorites More