"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Bạn được lập trình sẵn sự tầm thường?

Theo học khoa Tâm lý từ những năm 1960, một người bạn của tôi tham gia vào một cuộc nghiên cứu, trong đó họ chích điện vào lũ chuột thí nghiệm mỗi khi chúng cố lấy thức ăn từ trong khay. Chẳng bao lâu sau, chúng không còn dám xớ rớ đến gần khay thức ăn nữa vì sợ bị điện giật. Sau đó, người ta ngắt nguồn điện và đặt nhiều thức ăn hấp dẫn hơn vào khay. Nhưng lũ chuột tuyệt nhiên không dám đến gần. Thời gian trôi qua, chúng thà chết đói chứ không dám liều mạng đến gần khay kiếm chút thức ăn vì sợ bị chích điện.

Tương tự như vậy, bạn có thể hình dung con người chúng ta, nhìn chung, cũng bị “lập trình” bởi những sự việc trong quá khứ để đi đến chỗ chấp nhận cái đói, thậm chí cái chết chứ không dám đối đầu với nỗi sợ hãi một lần nữa? Đó chính là điều đã xảy ra với những chú chuột ở trên. Bất cứ lúc nào, chúng cũng có thể quay lại khay thức ăn để thưởng thức những món ăn ngon lành, để lại béo tốt và trở về với cuộc sống bình thường. Nhưng mà chúng, thà chết đói, chứ không dám thử lấy một lần. Ghê gớm thay sức mạnh của những chương trình tiêu cực!

Lần đầu tiên tôi được nghe Zig Ziglar nói chuyện là cách đây 20 năm, ông kể cho tôi nghe hai câu chuyện. Câu chuyện thứ nhất là về những con bọ chét và câu chuyện thứ hai là về loài voi. Ông nói rằng, nếu bạn cho những con bọ chét vào một cái lọ cổ thấp thì chúng sẽ lập tức nhảy ra ngoài. Tuy vậy, khi bạn đậy nắp lọ lại, lúc đầu chúng sẽ nhảy điên cuồng, nhưng chẳng mấy chốc chúng sẽ bỏ cuộc. Sau đó, khi bạn mở nắp ra, bạn nghĩ lũ bọ lập tức nhảy ra ngoài ư? Không đâu, chúng sẽ ở lỳ dưới đáy lọ… và không bao giờ cố gắng thoát khỏi lọ nữa. Giống như loài chuột, chúng bị lập trình bởi những giới hạn trong quá khứ để chấp nhận rằng những giới hạn ấy sẽ tồn tại mãi trong tương lai.

Phải, ngu ngốc làm sao những loài vật bé nhỏ. Một con voi có bộ não lớn hơn và chắc chắn thông minh hơn nhiều so một con bọ chét hay một con chuột. Vậy mà các đoàn xiếc vẫn huấn luyện voi con bằng cách xích chúng vào một cái cột được cắm chặt xuống đất. Chú voi con nhanh chóng hiểu rằng, mỗi khi nó cảm nhận được sợi dây thừng quấn quanh cổ mình và bị sợi dây kéo giật lại thì nó không đi xa được nữa. Lớn lên một chút, chú voi có thể dễ dàng nhổ bật cái cột, tựa như ta bứng một cây con, nhưng chẳng bao giờ nó thử làm chuyện này, bởi vì nó đã yên trí rằng, mỗi khi có sợi dây thừng quấn vào cổ và bị kéo giật lại thì nó phải dừng lại thôi.

Nghe những câu chuyện trên tôi không khỏi thấy buồn cho loài bọ chét và những chú voi, tôi còn buồn hơn cho những con chuột khốn khổ. “Chương trình” mà chúng tự lập ra kia đã dẫn chúng đến chỗ bị bỏ đói, bị chết và bị tước đoạt tự do một cách ngớ ngẩn. Tuy vậy, những câu chuyện này cũng không thể nào so sánh được với tấn bi kịch giáng xuống đầu hàng trăm triệu học sinh Mỹ đã phải trải qua hệ thống giáo dục lạc hậu già cỗi từ những năm 1940, mà tôi là một trong số đó. Giống như loài bọ chét, chuột và voi, bạn được lập trình sẵn bởi các thầy cô giáo, huấn luyện viên, bạn bè và thậm chí các bậc cha mẹ để đi đến chỗ tin rằng bạn chỉ là một kẻ thường thường bậc trung. Và khi là một đứa trẻ chẳng có gì đặc biệt, bạn dần dần tin rằng mình chỉ có thể làm được những việc xoàng xĩnh. Mặc dù những người góp phần vào việc lập trình bạn không hề có chủ ý, tiếc thay nó lại có sức mạnh vô cùng to lớn.

Vào lúc bạn tốt nghiệp phổ thông thì não của bạn đã “chạy” trơn tru và thông suốt một chương trình toàn diện cho sự tầm thường, và từ lúc ấy hầu như ai trong chúng ta cũng có khuynh hướng không thể thay đổi là chấp nhận cái tầm thường, cái xoàng xĩnh là điều tốt nhất mà chúng ta có thể đạt được trong tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống. Chúng ta chấp nhận một cuộc hôn nhân tàm tạm và những mối quan hệ hời hợt mà không phấn đấu để có đời sống tình cảm phong phú, chất lượng hơn. Chúng ta chỉ thực hiện những yêu cầu tối thiểu trong công việc mà không một lần thử phá kỷ lục của người đi trước. Chúng ta không dám mạo hiểm, không dám đưa các ý tưởng vào kinh doanh bởi vì chúng ta thật sự tin rằng mình không có khả năng vượt qua những thách thức lớn để đạt được những thành tích nổi bật, phi thường.

Trong khi cái chương trình mà tôi gọi là “tầm thường hóa” này không khiến ai bị chết đói, nó lại gây ra những hậu quả tồi tệ cho hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu người với kiểu “sống mòn”. Thử hỏi, mỗi ngày có bao nhiêu cặp vợ chồng lôi nhau ra tòa ly dị bởi họ không có một tầm nhìn xa, không có sự tự tin và không biết cách biến việc góp gạo thổi cơm chung tầm thường hay tệ hại thành một cuộc sống lứa đôi đầy ắp tiếng cười. Bi thảm không kém, nhiều đôi uyên ương “cơm không lành canh không ngọt” nhưng vẫn phải cắn răng chịu đựng nhau trong nhiều năm hoặc cả đời người, chỉ vì họ không nghĩ rằng mình có thể làm điều gì đó để chuyển mối quan hệ mệt mỏi, đầy mâu thuẫn này thành một cuộc sống tràn đầy tình thương yêu như họ hằng mong muốn.

Còn về học vấn thì sao? Hơn nửa số sinh viên ghi danh vào đại học nhưng không bao giờ tốt nghiệp nổi. Họ cũng bắt đầu với bao mơ ước dạt dào của tuổi trẻ, nhưng lại sớm bỏ cuộc vì đã quen với cách nghĩ rằng họ chẳng có tài cán gì để vươn tới những đỉnh cao. Nhiều người kiếm được mảnh bằng đại học ở một lĩnh vực mà họ không ưa thích, chỉ vì họ không nghĩ rằng mình đủ giỏi để học ngành khác.

Trên đời có biết bao nhiêu người ngừng theo đuổi công việc mơ ước của mình, không phải vì họ thích một công việc khác, mà vì họ nghĩ đó là công việc tốt nhất mà họ làm được, xét trên các yếu tố khả năng, điều kiện và hoàn cảnh. Các cuộc khảo sát cho biết có đến 85% người lao động muốn đổi sang công việc khác hoặc ngành nghề khác nhưng cũng giống như loài bọ chét, chuột hay voi, họ không thể thoát khỏi một nơi mà những sự việc trong quá khứ đã “ấn” họ vào đấy.

Nguồn: Những Bước Đơn Giản Đến Ước Mơ

Ánh sáng và đôi mắt

Thông Luận: Bài này được viết mùa hè 2003 nhưng không có tính thời sự vì là một bài viết về triết, chính xác hơn là về tri thức học. Chi tiết thời sự duy nhất là về vụ án Phạm Hồng Sơn, nhưng cũng chỉ là một thí dụ về như cầu chính xác trong khái niệm và ngôn ngữ. Phạm Hồng Sơn bị kết tội gián điệp vì liên lạc với Nguyễn Gia Kiểng. Trước tòa Phạm Hồng Sơn không nhận tội mà còn phủ nhận tư cách của tòa án và yêu cầu được dùng quyền ra khỏi phòng xử vì không muốn chứng kiến một trò hề công lý. Phạm Hồng Sơn bị xử 8 năm tù sau giảm xuống còn 5 năm. Thái độ dũng cảm này cần được nhắc lại.

***

Bạn tôi từ Mỹ sang chơi đem cho hai cuốn sách triết. Tác giả là một trong những nhân vật rất có uy tín. Khi ông qua đời, có nhà bình luận coi ông đã là bộ óc vĩ đại nhất trong thế kỷ 20. Uy tín của tác giả bảo đảm giá trị của tác phẩm. Tôi không biết lý do tại sao anh bạn cho tôi hai cuốn sách này. Điều tôi biết chắc chắn là mình được hai cuốn sách quí.

Anh bạn về Mỹ thì Paris bị một cơn nóng chưa từng có. Nóng liên tục trên 40°C trong hai tuần lễ. Không phải là cái nóng nung người như một nhà thơ (Nguyễn Khuyến?) nói mà là cái nóng chết người. Nước Pháp đã có hơn 10.000 người chết vì nóng. Cách tự vệ của tôi là uống thật nhiều nước, tắm thật nhiều lần mỗi ngày và không làm gì cả. Không làm gì, tôi bèn đem hai cuốn sách mới được tặng ra đọc. Kết quả cụ thể là điều trước đó tôi biết chắc một trăm phần trăm (được hai cuốn sách) trở thành không chắc chắn chút nào.

Hai cuốn sách đó bàn về sự hiểu biết, đặt những vấn đề như ta thực sự biết cái gì và có thể chắc chắn về những gì. Kết luận là không có gì hoàn toàn chắc chắn. Tất cả đều chỉ là qui ước, giả thuyết, thói quen và xác xuất. Tất cả đều đáng ngờ vực.

Descartes chắc chắn một điều là ông ta quả có thực, bằng cớ là ông đang suy nghĩ. Ông đã nổi tiếng với câu "Je pense, donc j'existe" (tôi đang suy nghĩ vậy chắc chắn là có tôi). Nhưng cũng không thiếu những triết gia phê phán Descartes là kết luận vội vã. Cái gì bảo đảm là ông không đang mơ ngủ, tưởng rằng mình có thực và suy nghĩ. Trong giấc mơ thiếu gì lần ta mơ ta là một nhân vật nào đó hoàn toàn không có thực. Trang Tử mơ thấy mình là một con bươm buớm. Con bướm đó cũng suy nghĩ, nhưng nó không có thực. Vậy cuốn sách tôi đang đọc đây đã có gì là bảo đảm là có? Và cả chính tôi nữa. Dù tôi đang đọc và cố theo dõi những lý luận của tác giả. Tất cả có thể chỉ là mộng mị. Giác quan cho ta một số cảm nhận, như ta đang cầm một cuốn sách, trước một cái bàn, trên đó có một ly nước và ta tin là cuốn sách, cái bàn và ly nước có thực bởi vì ta không có lý do gì để phản bác sự hiện hữu của chúng. Nhiều khi ta có lý do cụ thể để phải hành động như là một cái gì đó có thực. Như khi bà xã nổi giận cầm cán chổi đập ta thì ta phải chạy, mặc dầu động tác chạy này không có cơ sở triết học vì không có lý do nào hoàn toàn chắc chắn để bảo đảm về mặt triết lý rằng vợ ta và cây chổi có thực. Tất cả vẫn có thể chỉ là hoang tưởng, là mộng mị, như Trịnh Công Sơn "gọi tên em mãi suốt cơn mê này".

Tôi không có thiên khiếu về môn siêu hình học nên đối với những vấn đề loại này tôi chỉ đọc để biết và giải khuây mà thôi. Cứ cho rằng thế giới chung quanh, và chính tôi, chỉ là giả thuyết thì tôi cũng chấp nhận sống trong giả thuyết đó và coi là có thực. Và trong cái thế giới tôi coi là có thực nhưng có thể chỉ là hoang tưởng này tôi vẫn tin là có những điều ta có thể coi là chắc chắn, như 2 cộng với 2 là 4.

Tuy nhiên, ngay cả sự thật rất hiển nhiên là "2 cộng với 2 là 4" cũng đã là một đề tài tranh cãi chưa thực sự ngã ngũ trong hàng chục thế kỷ nay giữa các triết gia, dù đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực và chất xám. Thực ra nó không hiển nhiên như ta tưởng. Nhiều triết gia coi đó chỉ là kết quả của thực nghiệm. Ta thấy hai con gà và hai con gà là bốn con gà, hai con vịt và hai con vịt cũng là bốn con vịt, v.v. rồi kết luận 2 cộng với 2 là 4 trong mọi trường hợp. Trong trường hợp của cá nhân tôi thì đây quả là một điều được áp đặt một cách thô bạo, tôi phải học thuộc lòng bảng cộng và bảng nhân chứ chưa có thầy cô nào chứng minh cho tôi cả. Không thuộc thì ăn đòn, thế thôi.

Rốt cuộc thì sau hơn một tuần lễ vật lộn với những ý kiến rất mạch lạc của tác giả - trời nóng quá làm trí óc cũng chậm lại - tôi chỉ học được vài điều. Một trong những điều đó là không có gì hoàn toàn chắc chắn, chúng ta chỉ có thể cố gắng để tới thật gần sự chính xác, càng gần càng hay nhưng không bao giờ nắm được, và đây là một cố gắng cực kỳ cam go. Có lẽ vì thế mà đa số chúng ta không thích triết. Khó khăn mà lại ít kết quả. Số ít ỏi kiến thức học được lại chẳng có công dụng cụ thể nào cho cuộc sống.

Tuy nhiên, có một điều hơi yên tâm là triết gia đầy uy tín này cũng nhìn nhận là trong một vài trường hợp ta có thể coi là đúng những kết luận rút ra từ quan sát và lý luận. Trong tinh thần ấy tôi cũng tự cho phép mình một kết luận, đó là triết không đến nỗi vô ích và có thể còn cần thiết, thậm chí rất cần thiết, cho mọi xã hội và mọi dân tộc.

Chúng ta quan sát thấy rằng mọi tiến bộ ngoạn mục trong các xã hội đều đi đôi với sự phát triển của triết, ngược lại sự thiếu vắng hay trì trệ của triết cũng đi đôi với sự trì trệ hay tụt hậu của xã hội. Xã hội cổ Hy Lạp đã có một nền văn minh rực rỡ cùng với các triết gia lớn và các tư tưởng lớn. Khi các tư tưởng này lan sang La Mã, chúng cũng đã khiến La Mã trở thành văn minh và bá chủ thế giới phương Tây. Chúng ta quan sát thấy xã hội Trung Hoa đã dẫm chân tại chỗ hơn hai nghìn năm sau khi đợt trăm hoa đua nở về tư tưởng của thời Xuân Thu Chiến Quốc chấm dứt, với Khổng Giáo trở thành khuôn mẫu độc tôn. Chúng ta cũng quan sát rằng tại Châu Âu, các nước anglo-saxon đã phát triển hơn hẳn, bắt kịp và vượt qua các nước la-tinh từ thế kỷ 17 khi hai khối văn hóa này đi theo hai trường phái triết khác nhau. Một bên, khối anglo-saxon, theo trường phái thực nghiệm, chấp nhận và lấy thực tại của thế giới chung quanh làm khởi điểm suy tư để nhận diện rõ ràng hơn và cải thiện cuộc sống; trong khi khối văn hóa la-tinh, đi theo trường phái thuần lý, mê mải đào sâu những lý luận siêu hình và trừu tượng rất ít liên hệ với thực tại. Chúng ta có thể có những quan sát khác tại Ai Cập, Ấn Độ, v.v. với cùng liên hệ nhân quả tương tự.

Chúng ta cũng có thể lý luận rằng triết là một cố gắng để vượt lên trên và đào sâu những vấn đề trước mắt. Một dân tộc thiếu triết không thể hiểu rõ các vấn đề của mình, do đó không nhìn thấy hướng đi và luôn luôn thụ động, để cho thực tại xô đẩy. Không thể có tiến bộ trong trường hợp này.

Nếu kết luận trên - triết rất cần cho xã hội - là đúng thì ta có thể giải thích được số phận bi đát của nước ta. Chúng ta là một dân tộc không có tư tưởng. Trong suốt dòng lịch sử, mà ta hơi cường điệu khi nói là dài hơn bốn nghìn năm, ta không có được một triết gia, một nhà tư tưởng và một tác phẩm nào có tầm vóc tư tưởng cả. Như thế làm sao ta có thể nhận diện được những gì đã xảy ra, đang diễn ra và có thể sẽ tới? Trước những biến cố quan trọng làm sao chúng ta tránh được bi kịch của một con tàu không phương hướng giữa đêm đen và bão tố? Chúng ta cũng có thể giết nhau nhân danh một sai lầm mà chúng ta tưởng là chân lý. Ông Hồ Chí Minh, theo chính lời kể của ông, sau khi đọc được một tài liệu của phong trào cộng sản đã sung sướng như người mê sảng và dành của cuộc đời để thực hiện cho bằng được chủ nghĩa Mác-Lênin tại Việt Nam, bất chấp mọi tổn thất xương máu, dù cho "sông có thể cạn, núi có thể mòn". Tố Hữu được "mặt trời chân lý chiếu qua tim" và kêu gọi "Giết, giết nữa ! Bàn tay không chút nghỉ". Sự cuồng tín đã là hậu quả của tăm tối, và dẫn đến tội ác. Không nên trách những người như Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Cũng có những người chống cộng rất sắt máu. Nếu không có họ thì cũng sẽ có những người khác làm những việc họ làm. Khi người ta không biết suy nghĩ thì tất cả đều có thể xảy ra. Con tàu đụng vào mỏm đá và vỡ tan chỉ vì nó trôi dạt trong cơn bão. Một dân tộc cần tư tưởng và các triết gia như một người cần ánh sáng và đôi mắt.

Nhưng một cách cụ thể, triết đem lại cho ta những gì?

Điều không quan trọng là những kết luận của các triết gia. Chúng ta có thể tin hay không tin là có thượng đế; vật chất chế ngự tinh thần, hay ngược lại; cuộc đời là bể khổ, một thoáng phù du, hay là một hạnh phúc, hay một giai đoạn cho một cuộc sống vĩnh cửu sau này; kiến thức do học hỏi hay chỉ do nhớ lại như Socrates nghĩ, v.v. Tất cả những kết luận đó chỉ quan trọng, nếu quả nhiên chúng có tầm quan trọng, đối với một cá nhân, chứ không quan trọng đối với một dân tộc hay một xã hội. Thật là mê muội khi người ta xung đột với nhau về những kết luận đó. Điều thực sự quan trọng mà triết mang lại là sự sáng tỏ về khái niệm và ngôn ngữ. Nói một cách khác, triết giúp cho chúng ta biết chúng ta đang nói về cái gì.

Khi chúng ta đọc một cuốn sách triết, chúng ta có thể lưu ý là tác giả dùng một phần rất lớn số trang và chữ để định nghĩa các từ ngữ và khái niệm và chỉ dành một phần rất nhỏ để trình bày quan điểm của mính. Đôi khi chính sự phát minh ra một khái niệm mới, hay những nghĩa mới cho những từ quen thuộc, là đóng góp chính. Những người chỉ muốn tìm kết luận không thể thưởng thức thú đọc sách triết và không thể nào hiểu được kết luận, và nếu lại tưởng mình đã hiểu thì càng tệ hơn. Nói ngôn ngữ và khái niệm nhưng thực ra chỉ có ngôn ngữ. Khái niệm cũng chỉ là ngôn ngữ. Ngôn ngữ quan trọng đến nỗi nhiều trường phái triết mới coi triết chỉ có mục đích làm sáng tỏ ngôn ngữ. Họ cũng có lý nếu ta nhận xét một số trường hợp.

Thí dụ như khi một số người lên án lập trường "hòa giải và hòa hợp dân tộc" là "hòa hợp hòa giải với cộng sản". Hãy khoan bàn vấn đề "hòa hợp hòa giải với cộng sản" có phải là điều đáng và cần lên án hay không để chỉ thảo luận về ngôn ngữ và khái niệm. Trong cụm từ "hòa giải và hòa hợp dân tộc" có bốn khái niệm : hòa giải, hòa hợp, thứ tự trước sau giữa hòa giải và hòa hợp, và dân tộc. Nó muốn đề nghị thực hiện hòa giải dân tộc trước hết để sau đó thực hiện hòa hợp dân tộc. Hòa giải là gì, hòa hợp là gì là những khái niệm mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã giải thích trong dự án chính trị của nó. Trong cụm từ "hòa hợp hòa giải với cộng sản" chỉ còn lại hai khái niệm, một là khái niệm "hòa hợp hòa giải" không được định nghĩa nhưng có ngụ ý là xấu, hai là cộng sản, cũng không được định nghĩa, là chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản hay là một khối người? Cứ thử dịch cụm từ "hòa hợp hòa giải với cộng sản" sang tiếng Pháp hay tiếng Anh, hay bất cứ một ngôn ngữ chích xác nào khác sẽ thấy nó rất ngây ngô và khó dịch. Nó là một sản phẩm của cách nói tiếng Việt bừa bãi.

Cũng có những người lên án lập trường này là "thỏa hiệp với cộng sản". Có lẽ đây cũng là điều mà những người sử dụng cụm từ luộm thuộm "hòa hợp hòa giải với cộng sản" muốn nói. Nhưng nếu vậy thì vẫn còn hai câu hỏi khác. Tại sao "dân tộc" lại trở thành "cộng sản"? Và tại sao "hòa giải và hòa hợp" lại đồng nghĩa với "thỏa hiệp"? Hòa giải, hòa hợp, và thỏa hiệp là những khái niệm rất khác nhau. Mỹ và Nhật hòa giải sau thế chiến II nhưng không hòa hợp. Còn thỏa hiệp thì hoàn toàn khác. Trong chiến tranh hai bên lâm chiến có thể thỏa hiệp ngừng bắn trong vài giờ để thu lượm thương binh rồi sau đó tiếp tục đánh nhau, nghĩa là thỏa hiệp mà không hề hòa giải. Ngược lại, cũng có thể có hòa giải mà không có thỏa hiệp, như khi bà xã sau khi xách chổi chà rượt chồng nhận ra là mình đã ghen không đúng bèn ôm hôn anh chồng bị nghi oan để làm lành. Ngoài ra, trong khẩu hiệu lên án "bọn chủ trương thỏa hiệp với cộng sản", thỏa hiệp được hiểu ngầm là xấu. Nhưng tại sao thỏa hiệp lại xấu? Nếu đảng cộng sản đề nghị với đối lập dân chủ một thỏa hiệp theo đó Việt Nam sẽ có dân chủ thực sự trong một thời gian ngắn thì thỏa hiệp này có gì đáng lên án?

Đây là một thí dụ về việc sử dụng ngôn ngữ và khái niệm một cách cẩu thả và vô ý thức. Nhưng cũng có những trường hợp người ta cố tình dùng từ ngữ một cách mơ hồ với dụng ý gian trá. Như trường hợp phiên tòa xử Phạm Hồng Sơn về tội "gián điệp" trong tuần qua. Điều 80 khoản 1, điểm c, bộ luật hình sự tố tụng qui định phạm tội gián điệp những ai "thu thập cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam". "Tài liệu khác" là gì? Thế nào là "thu thập cung cấp"? Chúng ta biết thu thập là gì, chúng ta cũng biết cung cấp là gì, nhưng "thu thập cung cấp" là một cụm từ lộn xộn vô nghĩa. Thu thập và cung cấp tin tức và tài liệu là những việc mà bất cứ một người nào sống trong một xã hội không bán khai cũng đều làm cả. "Nước ngoài" thì chúng ta đều hiểu là một quốc gia khác với Việt Nam, nhưng trong trường hợp Phạm Hồng Sơn thì nước ngoài là chính tôi, Nguyễn Gia Kiểng, một người Việt Nam đang sinh sống ở Pháp chứ không phải là một quốc gia. Nếu tôi là "nước ngoài" thì các ông đại sứ Việt Nam cũng đều là nước ngoài cả. Và thế nào là "chống nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam"? Và làm sao biết được là đương sự quả nhiên có "nhằm mục đích"? Một câu luộm thuộm và tối nghĩa như vậy mà cũng được đưa vào luật pháp để kết tội, bỏ tù, gây thảm kịch cho biết bao nhiêu người vô tội!

Một thí dụ khác, điều 4 của hiến pháp của chế độ cộng sản nói : "Đảng Cộng Sản Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, là lực lượng lãnh đạo xã hội và nhà nước". Chữ "theo" có hai nghĩa, một là "đi theo", hai là "theo như". Với nghĩa thứ nhất thì Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là lực lượng lãnh đạo xã hội và nhà nước nếu còn theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng hiện nay nó đã đi theo chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường rồi. Với nghĩa thứ hai thì điều 4 lại càng vô nghĩa tại Việt Nam. Có thể theo như chủ nghĩa Mác-Lênin thì Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội và nhà nước (đây là một điều cần kiểm chứng vì tôi không thấy một tài liệu nào của Marx và Lenin nói về vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam cả) nhưng theo đa số người Việt Nam thì khác.

Chúng ta là một dân tộc có lịch sử sống chung rất dài nhưng lại không có tư tưởng, sự kiện này có hậu quả trên ngôn ngữ. Một mặt chúng ta có khá nhiều từ để chỉ cùng một điều cụ thể, thí dụ như để chỉ màu đen chúng ta phân biệt con chó mực, con ngựa ô, con mèo mun, mái tóc huyền, cái áo thâm, và dĩ nhiên mực đen. Mặt khác chúng ta lại rất thiếu những từ trừu tượng cần dùng cho tư tưởng và triết học. Thảo luận ý kiến giữa chúng ta tự nó đã rất khó khăn, nếu thêm vào đó chúng ta lại lợi dụng sự thiếu chính xác của từ ngữ để xuyên tạc và ăn gian thì thảo luận chỉ là cãi lộn, muốn có lý phải có súng.

Tại sao chúng ta cần triết?

Bởi vì triết chủ yếu là ngôn ngữ và khái niệm, và chúng ta cần một ngôn ngữ chính xác và những khái niệm minh bạch để có thể hiểu nhau và làm việc với nhau. Sự lẫn lộn khái niệm đưa đến những hiểu lầm lớn. Một thí dụ là chúng ta thường phân biệt, đạo đức và chính trị. Chúng ta coi những khái niệm này là mâu thuẫn với nhau, và rất nhiều người tuyên bố một cách tự nhiên, và hãnh diện, là "không làm chính trị" với dụng ý để người nghe hiểu rằng mình là người đạo đức và lương thiện. Đó là vì chúng ta thiếu triết và do đó không hiểu bản chất của chính trị và đạo đức.

Trong triết, đạo đức học là cố gắng để trả lời hai câu hỏi "thế nào là một cuộc sống thực sự hạnh phúc?" và "phải sống thế nào để có hạnh phúc?" trong khi chính trị học cố gắng để trả lời hai câu hỏi "thế nào là một xã hội hạnh phúc?" và "làm thế nào để đem lại hạnh phúc tối đa cho thật nhiều người?". Như thế không hề có mâu thuẫn, đạo đức và chính trị nhắm cùng một mục đích trên những qui mô khác nhau. Đạo đức là chính trị trong phạm vi cá nhân trong khi chính trị là đạo đức trên qui mô quốc gia. Sự kiện có những người làm chính trị lưu manh không chứng tỏ chính trị mâu thuẫn với đạo đức. Cũng không thiếu những tu sĩ bê bối, nhưng có ai cho rằng tôn giáo mâu thuẫn với đạo đức? Và cũng không thiếu những người không làm chính trị mà cũng rất thiếu đạo đức.

Một trí thức trong nước mà tôi ngưỡng mộ vì thiện chí, can đảm và kiến thức, từ chối tham gia cuộc đấu tranh cho dân chủ không phải vì sợ mà vì muốn dành trọn sự tận tụy cho tôn giáo. Lại một sự hiểu lầm. Tôn giáo và chính trị còn liên hệ với nhau một cách mật thiết hơn cả giữa chính trị và đạo đức. Các tôn giáo lớn đều xuất phát từ những dự án chính trị. Trừ trường hợp của Hồi giáo, các dự án chính trị này đã không thành công trong sinh thời của người sáng lập, nhưng vì sự đúng đắn của chúng những tư tưởng chính của người sáng lập đã được thừa kế và tiếp tục được thực hiện một cách khác. Nhưng đây là một cuộc thảo luận rất lớn, vượt xa khuôn khổ của bài này.

Tại sao gần ba mươi năm dưới một chế độ mà hầu như mọi người đều đánh giá là tham nhũng và bạo ngược chúng ta vi chưa có được một kết hợp dân chủ có tầm vóc? Chắc chắn là vì chúng ta thiều văn hóa tổ chức, nghĩa là thiếu một cách suy nghĩ và hành động khiến chúng ta thấy cần phải tham gia một tổ chức, chấp nhận những hệ lụy của sinh hoạt tổ chức, biểu lộ phản xạ tổ chức trong mọi ứng xử và không thể hình dung là có một việc lớn nào có thể thực hiện mà không cần có tổ chức.

Nhưng cũng có một nguyên nhân khác là chúng ta thiếu triết, do đó ngôn ngữ không chính xác và các khái niệm chỉ được hiểu một cách mơ hồ và lộn xộn, thậm chí sai và nghịch nghĩa. Những người hoạt động chính trị vì không thể hiểu nhau, đồng ý với nhau và hoạt động với nhau. Nhưng đồng thời họ cũng làm cho quần chúng hoang mang, không biết thế nào là đúng, là sai và không hưởng ứng một lời kêu gọi nào cả để khỏi bị sai lầm bởi vì, như triết gia mà tôi đang đọc khẳng định, vấn đề đúng hay sai chỉ đặt ra khi người ta chọn một lập trường, và không ai muốn sai lầm. Sự hỗn loạn, phân tán và bất lực có nguyên nhân chính ngay trong đầu chúng ta.

Cả hai cuốn sách triết mà anh bạn tặng tôi đều có cùng một mục đích là cảnh cáo người đọc rằng không có gì là hoàn toàn chắc chắn trên trái đất này. Tôi không có gì để phản bác. Tác giả viết hay quá. Nhưng tại sao tôi vẫn tin chắc một điều là muốn đưa đất nước ra khỏi bế tắc chúng ta cần một trật tự trí tuệ xây dựng trên một ngôn ngữ chính xác và những khái niệm được hiểu rõ? Có lẽ vì tôi không có căn triết.

Nguyễn Gia Kiểng (Thông Luận)

Mỹ - một quốc gia ngu ngốc và lạc hậu

“Hoa Kỳ thực ra chỉ là một làng quê khổng lồ và kém phát triển” – một tiểu luận ẩn danh trên trang web Trung Quốc

Tôi từng ở Mỹ một thời gian dài và giờ đây thì thấy hối hận vì sự lựa chọn này. Chúng ta đã bị mụ mẫm bởi truyền thông phương Tây luôn luôn làm cho ta nghĩ rằng Hoa Kỳ là một đất nước hiện đại. Nuôi hy vọng học tập khoa học tân kỳ của Mỹ để về phục vụ quê hương, tôi đã bằng mọi nỗ lực để theo đuổi “siêu cường” đó, thế nhưng kết quả lại thật đáng thất vọng!

(1) Hoa Kỳ thực ra chỉ là một cái làng nông nghiệp khổng lồ kém phát triển. Ở trường trung học các thầy giáo vẫn dạy rằng công nghiệp càng phát triển thì môi trường lại càng bị xâm hại. Ví dụ như trong một thành phố công nghiệp bạn phải thấy ống khói khắp nơi, các xí nghiệp to khắp nơi và bụi cũng khắp nơi. Đó mới là biểu tượng của công nghiệp hóa! Thế còn Hoa Kỳ thì sao? Đố bạn tìm ra các ống khói, thảng hoặc mới thấy một vài cái nho nhỏ nhưng lại là thứ để trang điểm cho nhà dân. Thay vào đó là những dòng sông và hồ nước sạch khắp nơi nơi và chẳng có các nhà máy giấy và luyện thép nơi bờ sông. Không khí trong lành và sạch là biểu tượng của một xã hội thô sơ và đó không thể là dấu tích của công nghiệp hóa !

(2) Người Mỹ chẳng hiểu gì về kinh tế. Các tuyến đường cao tốc tỏa đi mọi phương, có lẽ là đến mọi làng xóm, tuy nhiên khó tìm ra nổi một trạm thu phí! Thật là một sự phung phí khủng khiếp cơ hội kinh doanh! Khó có thể cưỡng nổi ý định của bản thân là xúc một ít xi măng để xây vài trạm thu phí và chắc chắn là chỉ trong vòng một tháng tôi sẽ có đủ tiền để mua một căn nhà trông ra Đại Tây Dương. Ngoài ra, bên lề đường cao tốc bạn có thể thấy những mặt hồ tĩnh lặng còn hoang dã. Chính quyền để mặc cho lũ chim cư ngụ và vẫy vùng thỏa sức mà không nghĩ tới việc thiết lập vườn cảnh quan trông ra hồ để kiếm bộn tiền. Rõ là người Mỹ không có cái đầu làm kinh tế.

(3) Ngành xây dựng Hoa Kỳ quả là quá thô sơ. Ngoài một số lượng nhỏ các thành phố lớn (mà bạn đã biết) thì không có những tòa tháp bê tông và gạch chọc trời… Tôi sợ rằng hình như Mỹ không có các tòa nhà bằng gạch. Hầu hết nhà cửa làm bằng gỗ và vài thứ vật liệu lạ khác. Sử dụng gỗ thô sơ để xây nhà thì dường như những kiến trúc ngoại bang này còn chưa qua thời phong kiến trước khi có nhà Thanh!

(4) Lối tư duy của người Mỹ ngây ngô và lạc hậu. Khi mới tới Mỹ tôi thuê một cái xe kéo chở hành lý giá 3 đôla, nhưng lại không có tiền lẻ. Một người Mỹ thấy tôi có nhiều đồ nên đã trả 3 đồng đó và thuê xe cho tôi. Người Mỹ thường cởi mở và hỏi xem tôi có cần giúp đỡ gì không. Ở nước tôi, đã qua thời của Lôi Phong vào những năm 50 và 60 thế kỷ trước cho nên bây giờ thì cái lối cư xử đó quả là quá lạc hậu! (Lôi Phong là thanh niên thời phong trào thi đua cộng sản Mao, người từng được nêu gương sáng về đạo đức hy sinh bản thân). Trở lại thời kỳ đó, con người ta rất đạo đức giả, nhưng bây giờ thì chúng ta không theo lối mòn đó nữa. Chúng ta tiến hành mọi việc giờ đây một cách trần trụi và đó mới là hiện đại hóa! Bởi vậy lối tư duy của Mỹ lạc hậu hơn chúng ta vài thập kỷ và không có dấu hiệu nào cho thấy rằng họ có khả năng đuổi kịp chúng ta.

(5) Người Mỹ không biết ăn thịt thú rừng. Có một đêm tôi lái xe đi cùng một bạn học đến thành phố khác và bất thình lình mấy con nai Sika (một giống nai đốm có nguồn gốc từ Nhật Bản – ND) nhảy xổ ra. Anh bạn cùng lớp lập tức phanh gấp và đổi hướng để tránh tai nạn. Hình như là trường hợp kiểu này thường xảy ra khi mà sự va chạm với một con nai cũng đủ để làm vỡ tan chiếc ô tô. Chính phủ Mỹ không biết quản lý chuyện này như thế nào… Và người Mỹ quả thực không biết ăn thịt thú rừng, họ cũng không có cả quán ăn chuyên thịt thú rừng, rất ít khẩu vị đối với thú rừng thơm ngon bị giết thịt như hươu, nai và kém hứng thú bán sừng hươu nai để kiếm những khoản tiền lớn! Người Mỹ sống cùng động vật hoang dã hàng ngày và còn đưa ra những biện pháp để bảo vệ chúng. Đó quả thật là một xã hội sơ khai.

(6) Người Mỹ không biết tự trọng. Các giáo sư ở trường đại học Mỹ không có bộ dạng hoành tráng; họ không hề có cái phong thái của những giáo sư đạo mạo. Nghe nói rằng vị giáo sư D… là một giáo sư về tâm lý học nổi tiếng, thế nhưng trong giờ giải lao thì ông ta lại ăn bánh quy trong phòng làm việc với các sinh viên của mình, bàn luận về bộ phim “21” và nữ nghệ sĩ Trung Quốc Trương Tử Di (Ziyi Zhang). Ông ta không hề có cái vẻ đường bệ của một nhà khoa học, cho nên tôi thực sự cảm thấy thất vọng. Ngoài ra, các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ chẳng bao giờ đưa học vị “PhD” lên danh thiếp của họ và họ không biết cách thể hiện ra ngoài vị thế của mình. Những người được đào tạo bởi các giáo sư kiểu như vậy sẽ chẳng thể nào biết cách đi đứng, nói năng nếu như họ trở thành những quan chức chính phủ… Có vẻ như các công chức Trung Quốc còn biết cách thu hút sự kính trọng của người dân; ngay cả một vị thủ trưởng một văn phòng không mấy quan trọng ở nước tôi còn tỏ ra đường bệ hơn cả Tổng thống Hoa Kỳ. Không có gì phải ngạc nhiên khi người ta nói công dân hạng nhất ở Trung Quốc chỉ xứng với công dân hạng ba ở Mỹ.

(7) Học sinh tiểu học Hoa Kỳ không có những hoài bão cao cả.Ngay từ thuở ban đầu các học sinh tiểu học không hề có ý định để trở thành quan chức…Chẳng hề có lớp học của các Tổng thống, các Bí thư tương lai hoặc các Ủy viên hội đồng mà tôi từng tham dự khi còn nhỏ. Sau giờ học thường là không có bài tập về nhà và bạn không có cách nào ngay cả việc nhắc tới chuyện đó khi liên hệ tới bài tập về nhà của học sinh tiểu học Trung Quốc. Trường học (Mỹ – ND) quan tâm quá nhiều đến dạy dỗ đạo đức cho trẻ em, làm cho những đứa nhỏ hướng tới để trước tiên là trở thành những công dân đủ tư cách thực thụ, sau đó mới là tiếp thu những lý tưởng có ý nghĩa dài lâu. Trở thành người công dân đủ tư cách ư ? Quả là một quan niệm cổ lỗ sĩ.

(8) Người Mỹ hay làm ầm ĩ mỗi khi phát hiện ra một bệnh tật nho nhỏ. Đầu tiên là họ hẹn gặp bác sĩ, sau đó bác sĩ kê đơn. Một số người lại còn phải theo lời khuyên của một dược sĩ có bằng cấp nữa. Khi mua thuốc họ lại phải tự mình tới hiệu thuốc để lấy chúng mà mọi việc diễn ra không chóng vánh như ở Trung Quốc… Tôi không hiểu tại sao lại phải tách bạch riêng việc khám bệnh với việc mua thuốc… thay vì tách riêng lợi nhuận khỏi trách nhiệm. Rõ ràng là các bệnh viện Hoa Kỳ không có khái niệm về phương pháp kiếm tiền! Sao không nói cho bệnh nhân tên thuốc luôn đi? …Như thế họ sẽ độc quyền việc bán thuốc và tăng giá thuốc lên 8 hay 10 lần. Có biết bao nhiêu cơ hội kinh doanh tốt mà họ không biết tận dụng. Rõ ràng là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là thứ đã chết rồi.

(9) Ý kiến công chúng Mỹ là thứ dở hơi. Nhiều lúc tôi đã mất kiên nhẫn vì sự ngu dốt và xuẩn ngốc của họ. Chẳng hạn như khi họ biết là Trung Quốc có các đài truyền hình và báo chí thì họ đã hỏi tôi một cách ngu dốt rằng: “Trung Quốc cũng có báo chí cơ à?!”. Đó quả thực là một sự sỉ nhục; chúng ta không chỉ có các tờ báo bằng tiếng Trung được Bộ Tuyên truyền cho phát hành một cách tỷ mỉ, kỹ lưỡng; khi nhìn vào các tờ báo của chúng ta cũng chẳng khác gì nghe quốc ca, không hề giống với các tờ báo của Hoa Kỳ chứa một mớ lộn xộn ý kiến quần chúng, thậm chí dám lăng mạ đích danh Tổng thống.. (ở Trung Quốc) chúng tôi không bao giờ đăng tin các vụ sì –căng- đan liên quan tới các lãnh đạo; bởi vì sau đó ai sẽ còn muốn làm lãnh đạo nữa ?…

(10) Người Mỹ về phương diện tinh thần là trống rỗng. Điều mà tôi không thể chịu nổi đó là: đa số người Mỹ nói câu cảm tạ trước mỗi bữa ăn và họ nguyện cầu một cách ngây thơ “Chúa phù hộ cho nước Mỹ”. Thật là buồn cười; nếu như Chúa phù hộ cho nước Mỹ thì tại sao nước Mỹ lại bị lạc hậu, thô sơ và đơn giản đến như vậy? Cầu Chúa Trời phỏng có ích lợi gì không? Thực tế hơn là nên dành thời gian cầu nguyện đó mà đi lễ thủ trưởng của bạn! Đó mới là cái cách thời thượng…

(11) Người Mỹ không có khái niệm thời gian. Với bất kể thứ gì, họ đều đứng vào hàng để chờ đợi… Người Trung Quốc chúng ta thông minh hơn, các bạn hẳn đã thấy đấy. Không quan trọng đám đông như thế nào,chúng ta vẫn có kỹ năng chen vào đâu đấy, và điều đó giúp cắt giảm khối thời gian mà lại tránh mệt mỏi do phải đứng chồn chân! Nếu ai đó biết cách đi cổng sau thì còn tiết kiệm nhiều thời gian hơn nữa. Những người Mỹ cổ hủ hoàn toàn không biết làm điều này.

(12) Cửa hàng ở Mỹ thật vô nghĩa: bạn vẫn có thể trả lại hàng sau khi mua vài tuần mà không có lý do gì. Sao lại có thể trả lại hàng hóa cơ chứ khi mà không cần thuyết phục tôi dù chỉ trong chốc lát?…

(13) Nước Mỹ không an toàn, 95% nhà dân quên lắp đặt lưới, cửa ra vào, cửa sổ chống trộm; điều kỳ lạ nữa là tất cả lũ trộm cắp móc túi đi đâu mất tiêu rồi?

(14) Người Mỹ vốn nhút nhát và yếu đuối. 95% lái xe đều không dám vượt đèn đỏ… mặc dù 99% người lớn ở Hoa Kỳ đều sở hữu xe ô tô và phương pháp lái xe của họ thì rất lạ: có bao nhiêu là xe trên đường thế nhưng bạn không thể nghe thấy một tiếng còi xe, phố xá thật im lìm tĩnh lặng như thể không phải là phố nữa. Không thấy sự năng động ồn ào của một thành phố thủ phủ cấp tỉnh ở Trung Quốc.

(15) Người Mỹ thiếu xúc cảm. 95% nhân viên không nghĩ về việc phải làm gì cho tiệc cưới của cấp trên cho nên họ chẳng bao giờ tìm cớ để quan tâm, chăm sóc lãnh đạo của mình; ở Trung Quốc liệu có chuyện quần chúng bỏ qua cơ hội chăm sóc thủ trưởng của mình không? Nói theo cách khác, ai ở Trung Quốc lại dám làm điều này? Hãy nhìn xem chúng tôi có bao nhiêu là tình cảm.

(16) Người Mỹ không nhạy cảm. 99% dân Mỹ đi học rồi kiếm việc làm, thăng tiến và hoạt động mà không biết về sự cần thiết phải đưa “hồng bao” (phong bì chứa đầy tiền mặt) để đi lối sau…

(17) Hãy nhìn vào bức hình ở trên, điều này là đủ lý do để chúng ta coi thường nước Mỹ! Trong khi đang săn đuổi Bin Laden thì Obama và các thuộc cấp của ông ta đang chăm chú vào màn hình truyền hình ảnh trực tiếp do vệ tinh đưa về trong phòng Tình huống của Nhà Trắng. Cảm tưởng của tôi là:

Các thuộc cấp Hoa Kỳ không tôn trọng lãnh đạo của họ một cách đúng mức và thậm chi còn dồn ép vị Tổng thống đáng trân trọng của họ phải nép mình ngồi trong góc nhà. Obama đáng thương, thật không bằng cả anh trưởng thôn của Thiên triều Trung Hoa.

Căn phòng Tình huống của Nhà trắng đúng là một thứ huênh hoang khoác lác. Nó vừa bé lại không được trang trí nội thất khác thường, đúng là không tương xứng với phong cách của một cường quốc. Một căn phòng cơ quan cấp thị trấn của Thiên triều (Trung Quốc- ND) có lẽ còn to hơn, sang trọng hơn rất nhiều.

Không có các đĩa hoa quả hoặc nước giải khát, không có… thuốc lá đắt tiền… và đó mà lại là nền kinh tế số một của thế giới ư? Hahaha…!


Phạm Gia Minh dịch từ Tea Leaf Nation

Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2013

Những điều tuyệt vời của một số quốc gia

1. Bầu cử Tổng thống như Mĩ

a. Minh bạch về xuất thân, quá trình rèn luyện từ bé, gia cảnh của các ứng viên
b. Cương lĩnh tranh cử rành mạnh, mang tính cạnh tranh và buộc phải khả thi
c. Tranh luận quan điểm công khai, cần có trình độ rất cao về kinh bang tế thế
d. Phản ánh được vai trò của cường quốc số 1 trong các vai trò và quan hệ quốc tế
e. Từng người dân có vai trò thực sự, thể hiện ở lá phiếu của họ rất có ý nghĩa

2. Nền hành chính công tận tụy như Singapore

a. Sự trong sạch và cơ chế thanh liêm hiệu quả từ Trung ương tới cấp cơ sở
b. Tư cách tối cao cũng là tiêu chuẩn hàng đầu cho bất cứ vị trí nào là liêm chính
c. Nền hành chính công hoạt động định hướng phục vụ nhân dân và xã hội
d. Thực thi các công vụ không được sản sinh ra các chi phí ngoài quy định luật pháp
e. Từng người dân hợp tác và giám sát tính minh bạch và hiệu quả của công chức

3. Phúc lợi xã hội như Thụy Điển

a. Mọi lao động có thu nhập , không ngoại lệ đều đóng thuế vì ý thức phúc lợi xã hội
b. Chính phủ cam kết dùng 100% thuế của nhân dân để tạo các phúc lợi xã hội toàn dân
c. Người dân không sợ hãi mọi điều bởi được tiếp cận phúc lợi toàn diện và suốt đời
d. Phúc lợi, bản thân nó có tác dụng hoàn thiện giống nòi, thanh lọc nhập cư
e. Sản sinh phúc lợi gắn với đạo đức hành chính, trách nhiệm xã hội, ý thức công dân

4. Trật tự và thanh bình như Thụy Sĩ

 
a. Đồng tiền vận hành trơn tru, an toàn, dễ kiểm soát nhất trong điều kiện thanh bình
b. Không có những xung đột nhóm người có tính chính trị, xã hội, kinh tế, hay ẩu loạn
c. Cảnh sát, lực lượng đường phố duy nhất, thực hiện chức năng chủ đạo là hướng dẫn
d. Ý nghĩ của người dân : ở đất nước này có thể tim đươc cách hòa bình cho mọi xung đột
e. Thanh bình và đẹp đẽ đến mức thay đổi được ý xấu của kẻ càn quấy và phá hoại

5. Danh dự quan chức như Nhật Bản

a. Chỉ tuốt gươm, tưới máu mình trong hai trường hợp : vì đất nước, vì danh dự
b. Khi bị dính một điều tiếng xấu , nếu biết xin lỗi và rút lui thì không ai phải rút kiếm
c. Khi bị vu một điều xấu , hãy bảo vệ bằng hành động tốt, nếu không thể, tự xử bằng kiếm
d. Luôn mang tinh thân kiếm sĩ để thể hiện và khẳng định đẳng cấp hàng đầu: tu thân
e. Hình thể, phong cách khác nhau..nhưng ánh mắt là nước kiếm, khuôn mặt là đạo kiếm

6. Nhiêu tài nguyên như Liên bang Nga

a. Đất nước có tất cả các loại tài nguyên từ thông thường đến quý hiếm và chiến lược
b. Đại đa số có trữ lượng lớn khai thác tốt ở quy mô công nghiệp, tính kinh tế quy mô
c. Quá rộng lớn, lại được thiên nhiên ban tặng nước này phong phú cả bao nhiêu sản vật
d. Phân bổ nhân chủng và chất lượng dân số đa dạng cũng là tài nguyên cho mọi lĩnh vực
e. Vành đai cận bắc cực mênh mông, lại chứa đừng vô vàn nguyên nhiên liệu tương lai

7. Chính trị ổn định như Canada

a. Thuộc Liên hiệp Anh, kết tựu được trong thể chế tinh hoa hiến pháp Pháp và Anh Quốc
b. Tuy là một thành viên của G7 nhưng rất ít bị xáo động, dính sâu vào các khủng hoảng
c. Đặc điểm hình thành quốc gia cho thấy hình thành các dân cư tích cực, nỗ lực và ôn hòa
d. Trách nhiệm quốc tế nhưng không can dự sâu rộng trong các vấn đề chính trị nước khác
e. Chính phủ tạo lập, phát triển Tam dân bình đẳng về nhân chủng, cân bằng về kinh tế

8. Cảnh đẹp và lãng mạn như Italia

a. Từ Nam đến Bắc đều có những thành phố đẹp về thiên nhiên và công trình kiến trúc
b. Những cảnh quan hội tụ được lịch sử lâu đời, xã hội hiện đại và Thiên Chúa Giáo
c. Đất nước có bốn Mùa rất rõ ràng và điển hình nhất trong các nước thuộc Châu Âu
d. Phía Nam có địa Trung Hải hội đủ các nét đặc trưng của Biển về du lịch, kinh tế
e. Giữ được dấu tích và sự tích xa xưa về địa lý, ngành nghề gắn với các vị Thần thánh

9. Xã hội dân chủ, tiến bộ như Anh Quốc

a. Nơi này là chôn rau cắt rốn của tất cả những cải cách tinh hoa nhất của loài người
b. Sau khi thể chế thành Nữ Hoàng lập Hiến, chứng tỏ sức hấp dẫn và an thái chính trị
c. Mô hình mẫu về: tiến bộ dân sinh gắn với xã hội công dân và Nhà nước pháp quyền
d. Triết lý : Lợi ích chính đáng người dân không được bảo vệ là Nhà nước không chính danh
e. ‘Mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh’ bởi lao động của người Anh với giá trị đó

10. Tự hào văn hóa như nước Pháp

a. Được gọi là ‘Thủ đô ánh sáng’, vì ánh sáng có ở mọi nơi, mọi điều, kể cả trong cống ngầm
b. Người Pháp chính hiệu ý thức tự thân : máu của họ cũng có hàm lượng văn hóa cao
c. Không công trình công cộng nào mà không nổi bật ý nghĩa văn hóa : khai sáng và lan tỏa
d. Tháp Effel mỗi năm thu hút hơn 40 triệu khách du lịch : văn hóa phải thu được tiền thiên hạ
e. Đội Larous với nguyên tắc hành xử hàng đầu, xuyên suốt và cuối cùng : văn hóa chính thống.

Nguồn: Nguyễn Tất Thịnh

Phân chia quyền lực: Tam quyền phân lập

Phân chia quyền lực là nền tảng của một bản Hiến Pháp tiến bộ với mục đính kiểm soát quyền lực của chính phủ và đảm bảo quyền lợi của công dân. [3]
Về cơ bản, việc tâp trung nhiều hoặc toàn bộ quyền lực vào một người hoặc cơ quan sẽ dẫn đến độc tài. Quyền lực phải được chia đều giữa nhiều cơ quan, nhiều người. Mỗi cơ quan có một giới hạn quyền lực nhất định và bị kiểm soát qua lại bởi những cơ quan khác.

Hệ quả tất yếu của việc phân chia quyền lực là tốn thời gian và đòi hỏi sự đồng thuận cao để thông qua một quyết định, đạo luật. Tuy nhiên, điều này giúp quyền lợi của người dân được đảm bảo. Những chế độ độc tài thường thiết lập các thể chế chính trị rất đơn giản và ngược lại, đặc điểm của một nền dân chủ là tạo ra những hệ thống phức tạp. [3]

Có 2 dạng phân chia quyền lực:

• Theo chiều dọc: quyền lực được phân chia theo cấp độ, từ cao đến thấp. Ví dụ: những cấp bậc ở Đức gồm có Liên minh châu Âu, Chính quyền liên bang, chính quyền địa phương, chính quyền thành phố. 

• Theo chiều ngang: quyền lực được phân chia đều giữa các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp (Tam quyền phân lập)

----------------------------------

PHẦN 1: Tam quyền phân lập – phân chia quyền lực theo chiều ngang (Horizontal separation)

Ý tưởng về tam quyền phân lập được hình thành từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển trong thời kỳ Khai Sáng tại châu Âu. Vào thế kỷ 17, nước Anh đã hình thành được một thể chế gồm ba nhánh [1]

• Quốc hội (Parliament) giữ quyền lập pháp, gồm 2 viện là House of Commons (Hạ viện, chức năng gần tương đương với quốc hội của Việt Nam) và House of Lords (Thượng viện). Thành viên của Hạ viện được bầu trực tiếp từ nhân dân trong khi đa số ghế của Thượng viện là được kế thừa.

• Quốc vương (vua hoặc nữ hoàng) thừa kế quyền lực, giữ quyền hành pháp. Một chuỗi những thoả thuận giữa quốc hội và quốc vương đã được thông qua giúp quốc hội có thể kiểm soát quyền lực của quốc vương.

• Toà án nắm quyền tư pháp. Cho đến thế kỷ 17, quan toà tại Anh vẫn phục vụ quốc vương và quốc vương có quyền sa thải thẩm phán. Vào năm 1710, quốc vương đã đống ý yêu cầu của quốc hội về việc bảo đảm tính độc lập của toà án. Quan toà sẽ được giữ chức vụ suốt đời nếu làm tốt việc xét xử. Tiền lương cho nhánh lập pháp sẽ luôn được đảm bảo và một thẩm phán chỉ có thể bị sa thải khi cả hai Viện đều đồng ý.


MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC MỸ

Tại Mỹ, phân chia quyền lực được đề cập trong Hiến Pháp như một trong những điều cơ bản để xây dựng chính quyền. Ba nhánh được phân chia quyền lực đồng đều là quốc hội, tổng thống và toà án. [1]

Quốc hội

Hiến pháp Mỹ quy định chỉ duy nhất quốc hội có quyền lập pháp (tại Đức quyền lập pháp được chia ra cho 4 cơ quan khác nhau). Quốc hội Mỹ theo chế độ lưỡng viện bao gồm Hạ viện (the House of Representatives) và thượng viện (the Senate). Một dự thảo luật được thông qua chỉ khi có sự đồng ý của cả hai viện. 

• Quốc hội -> Tổng thống: Quốc hội kiểm soát ngân sách chi tiêu của nội các, có quyền thông qua một đạo luật mà không cần thông qua tổng thống (yêu cầu 2/3 số phiếu). Có quyền tố cáo và bãi nhiệm tổng thống. Danh sách các ứng cử viên cho việc bầu cử tổng thống phải có sự đồng ý của quốc hội.

• Quốc hội -> Toà án: Việc đề cử các chứ danh cho toà án phải được thông qua bởi thượng viện. Quốc hội có quyền tố cáo và cách chức thẩm phán.

Trong lịch sử Mỹ, quốc hội đã tố cáo 17 thẩm phán, nghị sỹ và 2 tổng thống. Gần đây nhất là vụ buộc tội thẩm phán Thomas Porteous vào năm 2010 vì nhận hối lộ. Kết quả ông bị cách chức và không được nhận khoản lương hưu $174000.

 Tổng thống và nội các

Quyền điều hành đất nước được trao cho tổng thống. Nhiệm vụ là phải đảm bảo luật pháp được thực thi một cách minh bạch và chính xác. Tổng thống có quyền bổ nhiệm các vị trí trong chính phủ. Tổng thống đồng thời cũng là tổng tư lệnh của quân đội quốc gia.

• Tổng thống -> Quốc hội: Tổng thống có quyền phủ quyết những dự thảo luật do quốc hội thông qua nếu nếu cho rằng luật này vi phạm hiến pháp. Franklin Roosevelt là tổng thống sử dụng quyền phủ quyết nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ, 635 lần (Bill Clinton 37 lần, George W.Bush 12 lần). Nguyên nhân là do ông tại vị suốt 4 nhiệm kỳ (1933-1945), và trong khoảng thời gian này, quốc hội có rất nhiều cải cách sau cuộc Đại suy thoái và Chiến tranh thế giới thứ 2. [4]

• Tổng thống -> Toà án: Tổng thống có quyền đề cử các vị trí trong toà án.
 
Toà án

Toà án Tối cao là cấp cao nhất trong nhánh tư pháp, đảm nhận nhiệm vụ kiểm tra Hiến pháp và các bộ luật liên bang. Hiến pháp bảo vệ sự độc lập của Toà án bằng việc đảm bảo chức vụ trọn đời của thẩm phán và không thể bị cách chức nếu không phạm sai lầm. 

• Toà án -> Quốc hội: Toà án có quyền phán quyết một đạo luật là vi hiến và bị bãi bỏ. Trong năm 2013, Toà án tối cao Mỹ đã tuyên bố đạo luật về bảo vệ hôn nhân (Defense of Marriage Act) là vi hiến. Đạo luật được thông qua vào năm 1996, nội dung về việc không công nhận hôn nhân đồng giới. [5]

• Toà án -> Tổng thống: Toà án có quyền phán quyết những việc làm của tổng thống là vi hiến.

Hạn chế của ngành tư pháp Mỹ là ngân sách được quyết định bởi quốc hội. Tại Đức và Ý, Toà án Hiến pháp được quyền tự quyết ngân sách của mình một cách hợp lý [2]. Quốc hội Mỹ còn có quyền phủ nhận phán quyết vi hiến của toà án, mặc dù việc này rất khó khăn, đòi hỏi 2/3 số phiếu của quốc hội và 3/4 số phiếu từ các chính quyền địa phương.

KẾT

Có thể thấy việc phân chia quyền lực theo chiều ngang tạo nên một cơ chế kiểm soát qua lại rất chặt chẽ giữa các nhánh trong nhà nước. Dù điều này sẽ tạo nên sự phức tạp trong việc điều hành quốc gia nhưng giúp hạn chế tối đa việc lạm quyền, độc tài, đảm bảo tính độc lập và minh bạch trong từng nhánh của chính phủ.

Nhà nước Việt Nam hiện nay không theo cơ chế tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước là thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Theo lời Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại Vĩnh Phúc ngày 25/2/2013, việc ủng hộ tam quyền phân lập tại Việt Nam được xem là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức. [6]

Nguồn: Wegreen Vietnam
___________________________________________________
Tài liệu tham khảo:

1/ Separation of Powers: The role of an Independent – Judiciarry in Sustaining our Democracy
2/ Judicial Independence in Europe, The Swedish, Italian and German Perspective – John Adenitire
3/ Teaching the German Way of Separating Powers – Joachim Detjen
4/ The American Presidency Project – Presidential Vetoes
5/ DOMA: US Supreme Court Declares Law Defending Traditional Marrige Unconstitutional – Watching America – Matteo Winkler
6/ Chương trình Thời sự VTV1, 19h ngày 25/2/201

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Elie Wiesel: Những bài học rút ra từ một thế kỷ đầy bạo động

Elie Wiesel được giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1986 qua những hoạt động chống lại bạo lực, đàn áp, và kỳ thị chủng tộc. Wiesel sinh năm 1928 tại  Romania; ông là người gốc Do Thái. Năm 1940, Đức Quốc Xã chia một phần lãnh thổ Romania cho Hungary. Thành phố Sighet nơi gia đình ông sinh sống bị chuyển sang cho Hungary, và năm 1944, Hungary cho phép quân đội Đức trục xuất những người Do Thái tại đây và giam họ trong trại tập trung Auschwitz. Mẹ và hai em của Wiesel bị đầy đọa và chết trong trại tập trung này. Wiesel và cha bị đưa sang trại Buchenwald, và người cha bị chết vì kiệt sức tại đây, chỉ vài ngày trước khi trại này được Quân Đoàn III của Mỹ giải phóng. Sau chiến tranh, Wiesel hành nghề ký giả, dạy học, và viết văn. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, cuốn "Đêm Tối" khi phát hành lần đầu tiên không được dư luận chú ý. Xuất bản năm 1960, cuốn sách chỉ bán được hơn một ngàn ấn bản, nhưng sau đó đã được tái bản nhiều lần và in ra hàng triệu ấn bản. Năm 2006 cuốn "Đêm Tối" bán được sáu triệu cuốn chỉ riêng tại Hoa Kỳ. Tác phẩm này đã được dịch ra 30 thứ tiếng. Di cư sang Mỹ năm 1955, Wiesel đã viết hơn 40 cuốn sách gồm cả tiểu thuyết lẫn ký sự. Ông được tặng thưởng Huy chương Vàng của Quốc hội Mỹ và Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ năm 1985. Đây là bài phát biểu của Wiesel tại Tòa Bạch Ốc trong buổi tiệc đánh dấu một thiên niên kỷ sắp qua đi, ngày 12 tháng 4, 1999.
 ***

Ngày này, năm mươi bốn năm trước đây, một thiếu niên Do Thái thức giấc trong một thành phố nhỏ miền Cao nguyên Carpathian, một thành phố cách thành phố Weimar yêu dấu của Goethe[1] không xa lắm, trong một nơi mà cái tên của nó đã bị nguyền rủa muôn đời: trại tập trung Buchenwald. Cuối cùng cậu đã được tự do, nhưng sao trong tim cậu không có một niềm vui. Cậu nghĩ rằng có lẽ sẽ chẳng bao giờ vui được nữa. Được quân đội Mỹ giải thoát một ngày trước đó, cậu đã thấy những quân nhân này nổi điên lên trước những cảnh tượng mà họ chứng kiến trong trại tập trung. Và nếu cậu sống được cho đến khi thành một ông lão, cậu sẽ suốt đời cám ơn cơn điên đó của lính Mỹ, cũng như cám ơn lòng nhân hậu của họ. Dù cậu không hiểu được họ nói gì, nhưng ánh mắt của họ đã nói cho cậu rõ là chính họ sẽ mãi mãi ghi nhớ những hình ảnh này và là những nhân chứng sống.

Và ngày hôm nay, tôi đứng đây, trước mặt Tổng thống, người Tổng Tư lệnh của quân đội đã giải phóng cho tôi và hàng chục ngàn người khác, trong lòng tôi tràn ngập sự biết ơn sâu xa đến nhân dân Hoa Kỳ. "Lòng tri ân" là chữ mà tôi trân trọng. Lòng tri ân là điều xác định nhân tính trong con người. Và tôi xin ngỏ lời biết ơn tới bà Hillary, Phu nhân tổng thống Mỹ, về những điều bà đã nói và những điều bà đã làm cho trẻ con trên thế giới, cho những kẻ vô gia cư, cho những nạn nhân của bất công, cho những nạn nhân của số mệnh và xã hội. Và tôi xin cám ơn tất cả quý vị có mặt nơi đây.

Chúng ta đang đứng trước thềm một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới. Di sản của thế kỷ đang qua là gì? Ta sẽ nhớ đến thế kỷ đã qua như thế nào trong thiên niên kỷ mới? Một điều chắc chắn là nó sẽ bị phán xét, một cách nghiêm khắc, cả về phương diện đạo đức và siêu hình. Những sự thất bại này đã che phủ một bóng đen trên nhân loại: hai cuộc Đại Chiến, vô số cuộc nội chiến, một chuỗi những cuộc ám sát vô nghĩa lý (Gandhi, anh em Kennedy, Mục sư Martin Luther King, Tổng thống Sadat, Thủ tướng Rabin), những cuộc tắm máu ở Cambodia và Alegria, Ấn Độ và Pakistan, Ireland và Rwanda, Eritrea và Ethiopia, Sarajevo và Kosovo; sự phi nhân của trại tập trung Xô-viết và thảm kịch Hiroshima. Và, trên một bình diện khác, dĩ nhiên, còn có trại tập trung Auschwitz và trại Treblinka.[2] Có quá nhiều bạo động; có quá nhiều sự vô cảm.

Sự vô cảm là gì? Theo từ nguyên, nó có nghĩa là "không có cảm xúc." Đó là một trạng thái lạ lùng và trái tự nhiên, một trạng thái mà trong đó đường ranh giữa sáng và tối, bình minh và hoàng hôn, tội ác và hình phạt, tàn bạo và nhân đạo, tốt và xấu bị mờ đi. Tiến trình của vô cảm và những hậu quả không thể tránh được của nó là gì? Vô cảm có phải là một triết lý sống hay không? Có cái gọi là triết lý vô cảm hay không? Liệu ta có thể xem vô cảm là một đức tính không? Có phải đôi lúc chúng ta cũng cần áp dụng vô cảm để giữ cho mình không bị hóa điên, để sống một cách bình thường, để thưởng thức một bữa ăn và cốc rượu ngon, khi thế giới quanh ta đang trải qua những biến động tang thương?

Dĩ nhiên, vô cảm có thể trở nên hấp dẫn, hơn thế nữa, còn có sức mê hoặc. Tránh đừng nhìn nạn nhân thì vẫn dễ hơn. Tránh đi đừng để những cảnh tượng đó làm cản trở công việc của ta, giấc mơ và hy vọng của ta thì vẫn dễ hơn. Vì, thực ra, dính vào nỗi đau và sự tuyệt vọng của người khác vẫn là điều gây nên rắc rối và làm cho ta ngượng nghịu. Thế nhưng, đối với người vô cảm, hàng xóm của họ đâu có nghĩa gì đâu, cho nên, sự sống của họ cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nỗi đau ngấm ngầm hay lộ liễu của họ chẳng ăn thua gì đến kẻ vô cảm. Sự vô cảm biến tha nhân trở thành một khái niệm trừu tượng.

Ở đó, đằng sau những cánh cổng đen của trại tập trung Auschwitz, cảnh tượng thê thảm nhất là cảnh của những tù nhân vẫn thường được gọi là "người Hồi giáo." Quấn mình trong những tấm chăn rách nát, họ ngồi hay nằm trên mặt đất, mắt nhìn trừng trừng vào cõi không, họ không biết họ là ai và đang ở đâu, họ là những người xa lạ với môi trường chung quanh. Họ không còn cảm thấy đau đớn, đói, khát nữa. Họ không sợ gì nữa. Họ không cảm gì nữa. Họ đã chết rồi mà chưa biết đó thôi.

Được nuôi dưỡng trong truyền thống Do Thái giáo, một số người trong chúng tôi cảm thấy rằng bị nhân loại từ bỏ chưa phải là điều chung cục. Chúng tôi cảm thấy rằng bị Chúa từ bỏ còn đáng sợ hơn là bị hình phạt của Ngài. Thà là chịu hình phạt của một Thượng Đế bất công còn hơn là có một Đấng Tối cao vô cảm. Đối với chúng tôi, bị Chúa chối từ là một hình phạt nặng nề hơn là trở thành nạn nhân của cơn thịnh nộ của Ngài. Người ta có thể sống xa Thượng Đế, nhưng không thể sống ở bên ngoài Thượng Đế. Thượng Đế ở cùng với chúng ta ở bất cứ nơi đâu. Ngay cả trong cơn khốn khổ. Ngay cả trong khi đau đớn.

Nói cách khác, vô cảm trước sự đau khổ của đồng loại chính là điều làm cho con người trở nên bất nhân. Vô cảm, thực ra, còn nguy hiểm hơn là thù hận và giận dữ. Sự giận dữ có khi cũng là nguồn cảm hứng của sáng tạo. Trong cơn giận, ta có thể viết lên những vần thơ tuyệt bút hay những bản hòa tấu tuyệt hảo. Ta đang tạo ra một điều gì đó đặc biệt cho nhân loại vì ta đang nổi giận trước những bất công mà ta đang chứng kiến. Nhưng sự vô cảm không bao giờ tạo nên sự sáng tạo. Ngay cả cơn thù ghét cũng có lúc tạo ra tác động. Vì thù ghét, ta chống lại nó. Ta phản đối nó. Ta vô hiệu hóa nó.

Sự vô cảm không gợi ra được một sự đáp ứng nào từ người khác. Sự vô cảm không phải là một sự đáp ứng. Sự vô cảm không phải là sự khởi đầu; nó là sự kết liễu. Và, vì vậy, sự vô cảm luôn luôn là bạn hữu của kẻ thù, vì nó làm lợi cho kẻ áp bức hung hăng, chứ không phải cho nạn nhân của những kẻ này; những kẻ mà nỗi đau được phóng đại lên nhiều lần khi họ cảm thấy bị quên lãng. Người tù chính trị ở trong xà-lim, những trẻ em đói khát, những người tị nạn vô tổ quốc, những người mà nếu ta không ngó ngàng gì đến cảnh ngộ của họ, nếu ta không cất đi nỗi cô đơn của họ chỉ bằng họ một tia hy vọng thôi, thì chính ta đã  xua đuổi họ ra khỏi ký ức của nhân loại. Và khi khước từ nhân tính của họ, ta đã phản bội nhân tính của chính mình.

Sự vô cảm, vì thế, không những là một tội lỗi, nó chính là một hình phạt.

Và đây chính là một trong những bài học quan trọng nhất của thế kỷ đang qua đi, một thế kỷ gồm vô số những thí nghiệm cả xấu lẫn tốt.

Ở chốn mà tôi đã ra đi, xã hội chỉ gồm có ba loại người: những kẻ sát nhân, nạn nhân, và những kẻ bàng quan. Trong những giờ phút đen tối nhất, bên trong những khu tập trung người Do Thái và trong những trại tử thần, chúng tôi đã cảm thấy bị bỏ rơi, và quên lãng. Hôm nay tôi rất vui khi thấy bà Clinton nói rằng chúng ta đang tưởng niệm lại cái biến cố đó, cái thời kỳ đó, và bây giờ ta có Ngày Tưởng Niệm Nạn nhân của Trại Tập trung Quốc Xã.

Trong những ngày đen tối đó, niềm an ủi khốn khổ của chúng tôi là niềm tin rằng trại Auschwitz và Treblinka là những bí mật được Quốc Xã bảo vệ chặt chẽ, rằng những nhà lãnh đạo của thế giới tự do không biết có những gì đang xảy ra sau những cánh cổng sơn đen và hàng rào kẽm gai, và rằng họ không biết gì về cuộc chiến chống lại người Do Thái của quân đội Hitler và đồng lõa của chúng gây ra chính là một phần của cuộc chiến chống quân Đồng Minh. Nếu những vị lãnh đạo này mà biết được, chúng tôi nghĩ như thế, chắc họ sẽ can thiệp dù phải nghiêng trời lấp biển. Họ sẽ dõng dạc lên án những hành động sát nhân đó. Họ sẽ ném bom xuống những đường xe hỏa dẫn đến nhà tù Birkenau[3], chỉ cần ném bom đường xe hỏa, một lần thôi.

Và bây giờ chúng tôi biết được, học được, khám phá ra được là Ngũ giác Đài và Bộ Ngoại giao biết.[4] Và nhân vật nổi tiếng cư ngụ trong Nhà Trắng lúc ấy, và cũng là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, tôi nói điều này với sự xót xa và đau khổ, vì, ngày hôm nay, đúng là ngày giỗ thứ 54 của ông, tổng thống Franklin Delano Roosevelt chết vào ngày 12 tháng 4, 1945. Cho nên ngày hôm nay ông vẫn còn hiện diện đối với tôi và với chúng ta. Ta không thể phủ nhận ông là một nhà lãnh đạo xuất chúng. Ông đã động viên nhân dân Mỹ và cả thế giới để tham chiến, đã đưa hàng trăm ngàn những chiến sĩ can trường của Mỹ vào cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Phát-xít, chống chế độ độc tài, chống Hitler. Và cũng đã có rất nhiều thanh niên ngã xuống trên chiến trường. Thế nhưng, chân dung của ông trong lịch sử của dân Do Thái-tôi phải nói điều này-chân dung đó có khuyết điểm.

Câu chuyện não lòng của chiếc tàu St. Louis là một câu chuyện điển hình. Sáu mươi năm trước đây, hàng hóa chở trên chiếc tàu đó là những con người, gần một ngàn người Do Thái, và con tàu này đã bị buộc quay trở lại nước Đức Quốc Xã của Hitler. Và [đáng lưu ý là] chuyện này xảy ra sau khi đã có những cuộc bách hại người Do Thái, sau những cuộc tàn sát người Do Thái do nhà nước chủ trương với hàng trăm cửa tiệm của người Do Thái bị phá hủy, đền thờ bị đốt phá, hàng ngàn người bị nhốt vào trại tập trung. Và con tàu đó, đã cặp được vào bờ của nước Mỹ rồi, đã bị buộc quay trở lại. Tôi thật không hiểu nổi. Roosevelt là một người tốt, có trái tim nhân lành. Ông hiểu được những ai là ngưởi cần được giúp đỡ. Thế thì tại sao ông không cho phép những người tị nạn này được xuống tàu? Một ngàn người, có thấm vào đâu so với nước Mỹ vĩ đại, một quốc gia dân chủ và rộng lượng vào bậc nhất trong lịch sử hiện đại. Tại sao? Tôi không hiểu nổi. Tại sao lại lãnh đạm, vô cảm ngay tại thượng tầng quyền lực, trước những đau khổ của nạn nhân?

Nhưng cũng có những người cảm động trước thảm trạng của chúng tôi. Những người không phải là Do Thái; họ là những người theo Thiên Chúa giáo, những người mà chúng tôi gọi là "Những Dân Ngoại đạo Công chính," những người mà hành động quên mình và anh hùng của họ đã làm vinh danh cho đức tin của họ. Tại sao lại chỉ có ít người như thế? Tại sao lại có những nỗ lực lớn lao hơn để cứu những tên sát nhân SS[5] sau khi chiến tranh chấm dứt thay vì cứu những nạn nhân trong chiến tranh? Tại sao lại có những đại công ty của Mỹ tiếp tục giao thương với nước Đức của Hitler mãi cho tới năm 1942? Đã có những tin tức, và những tin tức này đã được chứng minh bằng tài liệu, là quân đội của Đức không có khả năng tấn công nước Pháp nếu không có xăng dầu do Mỹ bán. Ta giải thích sự vô cảm của họ như thế nào đây?

Thế nhưng, thưa quý vị, cũng có những điều tốt lành xảy ra trong thế kỷ tang thương này: sự bại trận của chủ nghĩa Quốc Xã; sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản; sự hồi sinh của nước Do Thái trên mảnh đất của cha ông họ; sự tiêu vong của chủ nghĩa Phân Chủng; hiệp ước hòa bình giữa Do Thái và Ai Cập; hiệp ước hòa bình tại Ireland. Và ta hãy nhớ lại một phiên họp, đầy kịch tính và cảm động giữa thủ tướng Rabin và lãnh tụ Arafat mà chính Tổng thống Clinton đã triệu tập ngay tại phòng họp này. Tôi đã có mặt trong phiên họp đó và sẽ không bao giờ tôi quên được.

Và dĩ nhiên chúng ta phải nhớ tới quyết định chung giữa Hoa Kỳ và NATO để can thiệp vào Kosovo và cứu những nạn nhân, những người tị nạn, đã xua đuổi khỏi quê hương của họ bởi một người, một người mà vì những tội ác của y, phải bị buộc tội chống lại nhân loại.

Nhưng lần này, thế giới không im lặng nữa. Lần này, chúng ta đã trả lời. Lần này, chúng ta can thiệp.

Liệu điều này có nghĩa là ta đã học được bài học từ quá khứ chăng? Liệu điều này có nghĩa là xã hội đã thay đổi không? Có phải nhân loại đã trở nên bớt vô cảm và có tình người hơn không? Chúng ta đã có thực sự học được từ kinh nghiệm của chính mình chưa? Chúng ta đã bớt chai lì trước cảnh ngộ của những nạn nhân của sự tẩy rửa sắc tộc và những hình thức bất công khác đang diễn ra ở những nơi xa và ngay cả ở những nơi gần gũi với chúng ta không? Có phải sự can thiệp có chính nghĩa vào Kosovo ngày hôm nay, sự can thiệp do chính Tổng thống lãnh đạo, là một sự cảnh báo có tính cách trường kỳ, rằng sẽ không bao giờ những sự trục xuất, khủng bố trẻ con và cha mẹ của chúng, được dung túng ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới không? Liệu điều này có làm cho những kẻ độc tài ở những nơi khác trên thế giới phải chùn tay không?

Thế rồi còn những đứa trẻ con thì sao? Ôi, ta thấy chúng trên truyền hình, ta đọc về chúng trên báo chí, với tấm lòng tan nát. Số phận của chúng là số phận thê thảm nhất, một số phận không thể tránh được. Khi người lớn gây chiến, trẻ con bị héo úa và tàn lụi. Ta thấy những gương mặt và đôi mắt của trẻ thơ. Ta có nghe thấy tiếng cầu xin của chúng không? Ta có cảm được nỗi thống khổ và sự đau đớn của chúng không? Mỗi phút lại có một trẻ thơ chết vì bệnh tật, bạo lực và đói khát.

Một số trẻ thơ này, ôi, có quá nhiều trẻ thơ, có thể được chúng ta cứu vớt.

Và do đó, một lần nữa, tôi nghĩ về cậu bé Do Thái từ phố núi Carpathian. Cậu đã cùng bước đi với tôi, người mà năm tháng đã biến thành một ông lão, đi qua những năm dài đấu tranh và kiếm tìm chân lý. Và cùng nhau, chúng tôi và chúng ta bước về thiên niên kỷ mới, mang theo một nỗi lo sợ sâu xa cùng một niềm hy vọng phi thường.
 
Nguồn:  Học Viện Công Dân
________________________________________________________-
Chú thích:

[1] Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một đại văn hào và nhà bác học của nước Đức thời hiện đại (cuối thế kỷ 18 sang đầu thế kỷ 19). Tác phẩm nổi tiếng nhất của Goethe là vở kịch thơ trường ca Faust, một bi kịch của kẻ bán linh hồn cho quỷ Satan.

[2] Treblinka là trại diệt chủng do Đức Quốc Xã thành lập trên đất Ba Lan. 850 ngàn người Do Thái và Romania đã bị giết bằng hơi ngạt tại trại này.

[3] Birkenau là khu trại dành để giết tù nhân hàng loạt bằng hơi ngạt, nơi được Himmler mệnh danh là nơi thực hiện "giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái." Ba triệu người Do Thái bị giết trong trại này (hai triệu rưỡi bị giết vì hơi ngạt, 500 ngàn chết vì đói và bịnh tật).

[4] Ngũ Giác Đài (Pentagon): Bộ Quốc Phòng Mỹ.

[5] SS, chữ viết tắt của chữ Schutzstaffel, lúc đầu là lực lượng vũ trang bán quân sự để bảo vệ đảng Quốc Xã và Hitler, do Himmler chỉ huy, nhưng sau đã phát triển thành cấp sư đoàn. Đồng phục của SS là màu đen, và huy hiệu là Sọ người. Quân số của SS lên đến trên một triệu người vào năm 1945.

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Kỹ năng nói dối

Sử cũ chép lại: Năm 1438, vua Lê Thánh Tông đã tự vấn mình rằng: Phải chăng những bất thường xảy ra liên tiếp trong mấy năm có nguyên nhân ở việc Vua không lo sửa đức để mọi việc bê trễ?! Do quan tể phụ bất tài, xếp đặt chính sự không điều hoà!? Do làm nhiều công trình thổ mộc để sức dân mệt mỏi, do thuế má nặng nề mà dân túng thiếu!? Ngài tự mình đại xá cho thiên hạ rồi hạ chiếu: Tất cả các đại thần văn võ các ngươi nên chỉ ra những lỗi lầm kể trên, cứ thẳng thắn nói hết, đừng kiêng nể gì. Nếu có điều gì tiếp thu được, nhất định Trẫm sẽ khen thưởng, cất nhắc, dẫu có ngu đần, vu khoát cũng không bắt tội. Ngõ hầu có thể xoay chuyển được lòng trời, chấm dứt được tai biến, để nước nhà mãi mãi hưởng phúc lớn vô cùng vậy.

Sau đó mấy trăm năm, dưới thời vua Cảnh Thịnh, danh sĩ Ngô Thì Nhậm đã soạn "Chiếu cầu lời nói thẳng" công bố trong thiên hạ: "Nay phải nghĩ kế bổ cứu tình trệ, việc đáng trước, việc đáng sau, việc gì hoãn, việc gì gấp, trẫm cùng với đại thần hỏi han đạo phải, cho tìm đến chỗ đúng, xưa kia "bậc thánh đế còn hư tâm hỏi đến hạ dân", huống chi trẫm đây còn ít tuổi, lại chưa có đức tính thông sáng, cung kính, mong rằng thần dân trong ngoài khuyên bảo cho trẫm đức hạnh tốt. Kinh Thư có câu: "Dân không có vua thì đội ai? Vua không có dân thì cùng ai mà giữ nước?". Tất cả mọi người có lương tâm phải hiểu rõ cái nghĩa trên dưới cùng giúp ích…".

Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, muốn cho quốc thái dân an thì những bậc trị quốc đều phải hiểu lòng dân bằng cách nghe dân nói. Để cho dân nói thẳng, nói thật, chấp nhận dù đó là lời "vu khoát", nghe cả những điều nhân dân nói thẳng về chính nhà vua để thấy lỗi sửa mình, đó chính là biểu hiện rõ nhất của tư tưởng "dĩ nhân vi bản". Tất nhiên, để có được lời nói thẳng thì nhà vua phải có tâm để nghe, thần dân phải có gan để nói.

Nhà nghiên cứu Vũ Đắc Liễn viết: Đọc "Chiếu cầu lời nói thẳng" của triều Tây Sơn, chúng ta cảm động nhất là từ đầu đến cuối nhà vua bằng một thái độ rất mực khiêm nhường, trình bày cặn kẽ mọi thực trạng xã hội cho dân chúng biết, không hề che đậy, giấu giếm. Cũng phải vậy thôi, muốn cầu lời nói thẳng mà nhà vua lại không dám nói thẳng, nói thật thì ai tin mà cầu. Và trước khi hạ chiếu, ít nhất vua Cảnh Thịnh đã biết được rằng "Than ôi, chơi bời là cái điều nguy ngập, khoe khoang là cái cớ diệt vong... đất rộng mà lắm chỗ bỏ hoang, dân nhiều mà nhiều nơi ta thán..trong thì triều đình, ngoài thì châu quận, xa thì nơi biên tái, kỷ cương chưa được thiết lập, chấn chỉnh nhiều chỗ sai lầm, việc quan lại cai trị, việc binh cơ dân chính, còn nhiều thiếu sót, lấp chỗ này thì hở chỗ khác..Tóm lại cái tệ trễ biếng là do cái lòng tự mãn tự túc sinh ra, tích tụ chất chứa đã lâu, không sao kể xiết".

Dù sử sách cũng chép lại nhiều câu chuyện người nói thẳng, nói thật thường là gặp những oan khuất, tai ương bởi "trung ngôn thì nghịch nhĩ": Ngũ Tử bị giết, Tỷ Can bị moi tim, Quản Di Ngô bị trói, Thương Ưởng bị phanh thây... Tất cả đều là người hiền tài và tất cả đều bị hại vì nói thật. Chính Ngô Thì Nhậm, tác giả của "Chiếu cầu lời nói thẳng" dường như cũng là một nạn nhân của những lời nói thẳng khi ông không nề hà từ khước việc xin được tiến cử của Đặng Trần Thường. Nhưng một đất nước sẽ ra sao nếu chỉ toàn Hòa Thân mà không có những Lưu gù? Nhưng một quốc gia sẽ thịnh hay suy nếu như ai cũng "chỉ lừa gọi ngựa", ai cũng nói dối, nói cong, nói dựa?

Với tinh thần "Nước Việt ta lấy văn hiến dựng nước", Ngô Thì Nhậm cho rằng việc "Lập giáo hoá, đặt khoa cử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị" và đạo trị nước có ba "cái mấu chốt” luôn hỗ trợ lẫn nhau, có vai trò quan trọng như nhau là "giáo' (giáo dục), “pháp” (hình pháp) và "chính" (chính trị). Từ đó "Dân không cần phải dắt bảo từng người mà vẫn tốt, tục không phải thay đổi hàng loạt mà vẫn hay, nhân tài không phải tìm ở nội cỏ mà tự nhiên đến, quan không cần phải đặt nhiều mà tự nhiên trị, nước không cần phải lấy của dân mà vẫn giàu, binh không phải xua ra trận mà vẫn mạnh".

Trong sáu công việc phải quan tâm "Hóa dân, thành tục, cầu hiền, thẩm quan, phú quốc, cường binh" vị tiến sĩ Tam giáp cho rằng: Cả sáu việc ấy đồng thời cử hành, không cản trở nhau nhưng và giáo dục phải được đặt lên hàng đầu.

Câu chuyện "Hóa dân" giáo dục cho dân trở thành người nói thẳng, biết nghe lời nói thật mấy hôm nay bỗng trở thành thời sự từ một lá thư của một người cha băn khoăn chuyện cô giáo dạy con "kỹ năng sống", dạy cho trẻ "võ" để đối xử với đồng bào mình.

"Kỹ năng gì vậy?". Cháu trả lời: "Cô dạy chúng con là, đôi khi nói dối cũng tốt nếu việc nói dối bảo vệ được bạn bè và mọi người". Thế nào là kỹ năng nói dối: "Cô nói với chúng con là: Nếu có ai hỏi các con có đi học thêm không thì các con không được giơ tay, hoặc trả lời không biết".

Từ câu chuyện "đáng bi hơn hài" này, nhiều người đã nói tới chuyện trẻ em như trang giấy trắng, những điều người lớn đang làm hôm nay sẽ được viết, hoặc gạch xóa bôi bẩn lên những trang giấy tâm hồn đó vào ngày mai. Nhưng câu chuyện cô giáo dạy học trò "kỹ năng nói dối" thì quả thực chưa từng thấy. Tai hại nhất là bọn trẻ tin rằng: Nói dối cũng tốt khi bảo vệ được mọi người, dù họ làm đúng hay sai. Nguy hiểm nhất là từ tấm bé chúng đã được cô giáo, một đấng thiêng liêng, dạy cho kỹ năng đồng lõa, bao che cho cái không trung thực, cái xấu, cái ác.

Và, với cách "giáo dục dối trá" thì nói không ngoa rằng chúng ta sẽ có những thế hệ công dân chỉ biết nói dối, nói cong. Tất nhiên, có lẽ và hy vọng chỉ là "những con sâu" trong nồi canh giáo dục, dù nồi canh giáo dục bây giờ nhiều sâu quá. Thầy giáo bắt học sinh "thụt dầu". Cô giáo yêu cầu nữ sinh viết về kinh nghiệm làm cave. Và bây giờ thì là chuyện "kỹ năng nói dối".

Cách đây chưa lâu, có người đã bức xúc đặt một câu hỏi cho vấn đề tưởng là "bé xíu" rằng: Tại sao người Việt mình ra nước ngoài luôn mặc cảm, luôn luôn cảm thấy xấu hổ, thậm chí vỗ tay cũng không dám vỗ to?

Nguyên nhân phải chăng cũng là từ những bài giáo dục kỹ năng mà chúng ta đã phải học theo kiểu nhồi sọ từ tấm bé? Học mà không được phân tích, không được hỏi thẳng lại cô giáo những câu hỏi "tại sao" đối với những bài kiểu "nói dối đôi khi cũng tốt". Khi cô giáo đã nói dối với học sinh trong bài học về kỹ năng sống thì phải chăng là bởi bệnh nói dối đã trở nên quá phổ biến trong xã hội? Phải chăng là ai cũng sợ nghe sự thật cho nên cũng không dám nói thật?

Và sẽ ra sao một thế hệ học sinh: Lớp mầm đã bị cô Lê Vi dán băng keo vào miệng. Mẫu giáo bị bảo mẫu Kim Hoa cho ăn tát thay cơm. Tiểu học tập thể dục bằng "thụt dầu". Trung học gặp thầy Sầm Đức Xương. Đại học thì bị thầy Đỗ Tư Đông buộc đổi tình lấy điểm? Và từ lớn đến bé đã được giáo dục và ứng xử với nhau bằng những lời nói cong?

Đào Tuấn
Nguồn: Blog Đào Tuấn

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More