"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

An ninh công cộng tại Đông Dương - Nguyễn An Ninh

An ninh ấy ra sao?

Vấn đề được đặt ra, bởi vì, từ ít lâu nay, những đồng bào nào của chúng ta mà dính líu vào những chuyện gì đó có ít nhiều tính chất chính trị liên quan đến nền công lý thuộc địa, liền bị tố cáo giống nhau là âm mưu làm rối loạn trật tự công cộng và tạo ra những xáo trộn chính trị nặng nề. Đó là một công thức đã thành lệ rồi.

Chúng tôi không bàn đến những sự tố cáo đó, mà theo chúng tôi chẳng đáng bàn cãi, chúng tôi chỉ nhận định rằng những tố cáo ấy tỏ ra là một dấu hiệu của thời buổi này.

Thật vậy, đó không phải là cùng tình trạng tinh thần giống mười lăm năm về trước. Đã có những cuộc nổi dậy như vụ Đề Thám, vụ Thái Nguyên, vụ Duy Tân, ấy là chỉ kể những vụ việc quan trọng nhất. Những cuộc nổi dậy đó là do những sáng kiến cá nhân. Những vụ đó bất quá chỉ là một sự vùng dậy có tính cách nghị lực tự nhiên của một Lê Lợi, một sự hồi tưởng của hào khí anh hùng thời xưa, một hành động nổi loạn của tinh thần dân tộc bị xúc phạm nặng nề.

Ngày nay thì là một chuyện khác. Đó chính là lòng ái quốc theo đúng nghĩa cao đẹp nhất của nó, lòng ái quốc của 20 triệu con người đã hiểu thấu ý nghĩa đích thực của chế độ thực dân.

Những nguyên nhân của sự tiến hóa này?

Những nguyên nhân ấy thì nhiều và phức tạp. Nhưng như là những biến cố dẫn tới những tư tưởng mới, mà chế độ thuộc địa không sao bưng bít được mặc dầu là họ đã làm đủ cách để cố bưng bít. Trong những biến cố ấy phải kể đến sự thăng tiến kỳ diệu của nước Nhật và cuộc cách mạng Trung Hoa.

Trạng thái tinh thần mới ấy đã lộ rõ qua những cuộc biểu tình khá ấn tượng, chẳng hạn như những cuộc biểu tình xảy ra ủng hộ Phân Bội Châu – nhà ái quốc vĩ đại, bất ngờ bị bắt cóc trên lãnh thổ Trung Hoa và đưa về quê quán, toàn dân nổi dậy để phản đối và đòi trả tự do cho ông, trong khi 10 năm về trước, sự hy sinh vì lý tưởng của ông có lẽ đã bị những tên An Nam bán mình cho chính quyền Pháp chửi bới rồi.

Ý tưởng được hình thành và rõ nét dựa trên nguyên tắc về quyền được thành lập nước của các dân tộc mà đặt ra quyền dân tộc tự quyết.

Chính tình cảm cao thượng và rất đáng tôn trọng này đối với tất cả các dân tộc là cái mà các nhà bảo hộ chúng tôi tìm loại bỏ bằng mọi biện pháp hà khắc nhất. Giam tù, đày ải, lao động khổ sai chỉ vì một vài câu nói hay một vài bài viết gọi là khích động gây rối loạn. Hãy nghĩ tới Phạm Tất Đắc, tới Đồng Sĩ Bình. Hãy nghĩ tới những cuốn sách bị cấm. tới “Việt Nam hồn”, tới “Phục Quốc”, tới “L’Âme Annamite” (Hồn Việt), tới “Tân Thế Kỷ”.

Từ tất cả những chuyện đó ta rút ra được hai sự kiện: một đàng là sự thức tỉnh của cả dân tộc đi tìm thực hiện giấc mơ của mình; đàng khác là cố gắng của nhà cầm quyền tìm cách ngăn cản sự thức tỉnh này.

Để làm việc ấy, có thể nói chính quyền có nhiều ngón đòn dự trữ trong túi xách. Và đây là một: các tòa án với kiểu buộc tội tố cáo cổ điển: “Âm mưu có bản chất nguy hại đến an ninh công cộng và tạo ra những xáo trộn chính trị nghiêm trọng”.

Chúng ta hãy tìm hiểu.

An ninh nào vậy?

 
Có phải là an ninh ở lãnh thổ Đông Dương, mà theo định nghĩa của Seignobos, là “bảo đảm không bị một dân tộc khác tấn công”? Dĩ nhiên là không. Hay phải chăng là an ninh của 20 triệu con người, “bảo đảm thực tế không ai có thể xâm hại đến sự sống và tài sản của họ”?

Phải! Các nhà bảo hộ chúng tôi sẽ nói như vậy.

Hãy xem xem có đúng vậy không. Nhưng sự an ninh này, đó là chín phần mười dân chúng làm việc cực nhọc cả năm mà không bao giờ chắc chắn được trả giá để có quyền sống trên đất của tổ tiên họ. Sự an ninh này, đó là lụt lội xảy ra định kỳ do sông Hồng gây ra, và dịch tả làm chết vô số người. Sự an ninh này, là thuốc phiện và rượu đầu độc giống nòi. Đó là sự bóc lột cả một dân tộc bởi một nắm người tư bản và bọn lưu manh tứ chiếng.

An ninh đó, là sự khốn khổ của đám đông quần chúng, là sự phẫn nộ của giới trẻ năng động và thông minh, mà chính quyền làm tất cả để ngăn không cho học hành; đó là sự bất mãn của thành phần ưu tú bị giới hạn trong vai trò hoàn toàn là vai trò hạ cấp thường là bị hạ nhục và mất phẩm giá.

Như thế có nghĩa là an ninh mà các ông quan tâm tới, không phải là an ninh cho chúng tôi, mà đúng hơn là cho các ông. Đó là an ninh của các xí nghiệp thuộc địa, an ninh của các hầm mỏ mà các ông đã chiếm đoạt, an ninh của đất đai mà các ông đã cướp khỏi tay dân chúng bản địa, an ninh của các nhà máy và nhà buôn làm thiệt thòi chúng tôi. Một thí dụ nhỏ để soi sáng con mắt ngu muội của đồng bào chúng tôi. Không có tiền thuế quá cao do hệ thống nhà đoạn của các ông, chúng tôi sẽ được mua vải Nhật hay của các nước khác với giá rẻ hơn, và các nhà máy sợi của các ông sẽ không thể bắt chúng tôi phải bỏ ra hàng năm hơn hai trăm triệu quan (francs) để mua vải chúc bâu của các ông.

Vậy là người ta đã hiểu tại sao các ông kiên quyết truy tố những ai dám lên tiếng tố cáo các âm mưu của các ông, là chính những âm mưu mà bản chất nguy hại đến an ninh công cộng, trong khi mà chúng tôi làm việc một cách hòa bình để phục hưng giống nòi chúng tôi qua mọi thứ trở ngại mà các ông gieo rắc trên con đường của chúng tôi.

Chính quyền thì có sức mạnh; dân chúng thì có ý tưởng. Theo Gustave Le Bon, sức mạnh có thể áp bức tư tưởng, nhưng không được bao lâu, “bởi vì một tư tưởng bị áp bức sẽ sớm trở thành động lực tạo ra sức mạnh”.
  
Nguyễn An Ninh ("L' Annam", số 180 ngày 16/1/1928)
__________________________
 Cùng tác giả:

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Hồ Quý Ly và Mạc Đăng Dung

Trong một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ, nước ta đã có hai trường hợp cướp ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai trường hợp khởi đầu trong một kịch bản tương đối giống nhau: một dòng họ hư đốn làm cho đất nước suy đồi, rồi một đại thần phế bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả hai trường hợp, các triều thần của dòng vua cũ được mời ở lại giúp vua mới. Nhưng kết quả đã khác nhau, và sự phán xét của lịch sử đã rất lạ lùng.

Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài thì không giữ được bờ cõi. Quân Chiêm Thành ra vào cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao gì với đất nước nhưng Hồ Quí Ly cũng đã trấn áp được vua Trần rồi cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc biệt bội bạc với đất nước Việt nam đã cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự coi là người Tàu dù tổ tiên đã lập nghiệp tại Việt nam từ bốn đời. Cướp được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang họ Lê theo bố nuôi, đã lấy lại họ Hồ theo họ cũ của mình và đổi tên nước ta từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố quốc của mình, rồi thi hành một chính sách cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên Trãi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ vì chính sách phiền hà làm cho lòng người oán giận. Kết quả là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại rơi vào vòng Bắc thuộc sau gần năm trăm năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly đối với Việt nam thực là lớn. Thế nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa phải thôi, không những thế còn được khen là con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu việt và sáng tạo.

Mạc Đăng Dung, hơn một trăm năm sau, có công giúp vua dẹp loạn rồi được tin dùng và lợi dụng cơ hội để cướp ngôi. Cũng như trường hợp Hồ Quí Ly, đám con cháu của triều đình cũ sang Tàu cầu cứu và quân Tàu rục rịch đánh nước ta. Mạc Đăng Dung tự trói mình xin thần phục Trung Quốc và giữ được nước. Nhà Mạc sau đó không tỏ ra dấu hiệu hà khắc nào, không gặp giặc giã nào đáng kể, dân tình không đến nỗi khổ sở. Nhưng nhà Mạc đã gặp cuộc chiến tranh qui mô để tái lập nhà Lê do Nguyễn Kim, rồi Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng lãnh đạo, rồi bị tiêu diệt sau sáu mươi lăm năm. Mạc Đăng Dung đã bị tất cả các sử gia và trí thức mạt sát thậm tệ. Cách phán xét nhà Hồ và nhà Mạc cho tới nay ít làm ai ngạc nhiên. Cũng cùng thoán nghịch mà sao người làm mất nước lại không bị lên án gay gắt bằng người không làm mất nước? Đối với người lãnh đạo quốc gia có tội nào lớn hơn tội làm mất nước? Người ta lên án Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đã phản bội vua và cướp ngôi. Điều này vào thời đại đó và với khuôn mẫu đạo lý đó là đúng. Nhưng ngày nay nhìn lại thì sao? Nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng Giáo vẫn còn là tốt cho đất nước và cần được duy trì thì cả Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đều đáng lên án. Ngược lại nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng Giáo là khuôn mẫu cỗ hủ đáng lẽ không được duy trì quá lâu như vậy, thì hành động thoán nghịch của Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung phải được coi là đáng khen vì nó là một thách thức đối với khuôn mẫu Khổng Giáo. Còn nếu chúng ta không có ý kiến dứt khoát thì hành động thoán nghịch chẳng là công mà cũng chẳng là tội. Nó chỉ là một biến cố chính trị. Vậy thì ngoại trừ đối với một số người thủ cựu một cách mê muội, cái tội thoán nghịch không nên đặt ra nữa. Cái gì bắt một dân tộc phải tiếp tục chịu đựng những ông vua tồi tệ như cuối đời Trần hay cuối đời Hậu Lê? Đạo lý nào bắt buộc như vậy chỉ là một đạo lý tồi tệ. Xét công, tội của Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung phải dựa vào những gì họ để lại sau đó.

Hồ Quí Ly không làm được gì cho đất nước, chỉ làm khổ dân và rồi làm mất nước. Người ta ca tụng Hồ Quí Ly là có nhiều ý kiến sáng tạo: đổi lại hệ thống giáo dục một cách thực dụng hơn, đem toán học, địa lý và nông nghiệp vào giáo dục, lập các trạm y tế ở khắp nơi. Nhưng câu hỏi đặt ra là nếu quả thực đó là những ý kiến mà Hồ Quí Ly cho là ích quốc lợi dân thì tại sao trong mấy chục năm làm thái sư, có tất cả mọi quyền trong tay, kể cả quyền giết vua mà Hồ Quí Ly đã sử dụng một cách thường xuyên, Hồ Quí Ly không đem áp dụng? Đó là một câu hỏi lớn mà sẽ không bao giờ la tìm được câu trả lời chính xác. Một trong những giải thích có thể là Hồ Quí Ly cũng chẳng thực sự coi trọng nhưng biện pháp canh tân sau đó Quí Ly cũng coi trọng cái học từ chương như mọi người thời đó, những biện pháp mà Quí Ly đưa ra chỉ là để đánh đổ các giá trị cũ để đào thải lớp nho sĩ thời đó, được quí trọng vì cái học từ chương và trong đại đa số không ủng hộ Quí Ly.

Người ta cũng ca tụng Quí Ly đã biết phát minh ra tiền giấy. Có người còn nói Quí Ly dáng được coi là thủy tổ của ngành ngân hàng! Những điều này hoàn toàn sai và chứng tỏ rằng những người nói như vậy chỉ phát ngôn bừa bãi chứ họ không biết gì về ngân hàng và tiền tệ. Tiền giấy của Quí Ly không khác gì tiền mã đã có từ lâu rồi để cúng tế người chết mà thôi, nó hoàn toàn không có một giá trị thanh toán nào cả. Hành động của Quí Ly chỉ là một hành động của kẻ tham lam muốn cướp hết vàng bạc trong nước cho mình và những đồng tiền giấy chỉ là những chứng nhận đã nộp vàng để được yên thân mà thôi.

Nếu quả thực những điều Quí Ly làm là những biện pháp canh tân thực sự, thì một trí tuệ đủ khả năng nhìn ra những biện pháp đó cũng phải ý thức được, ít nhất một phần nào, những khó khăn của việc thực hiện và đã không thi hành một cách vội vã, cẩu thả như Quí Ly đã làm. Trên thực tế, ngoại trừ việc cướp bóc vàng bạc, Quí Ly chẳng làm được gì cả. Nhà Hồ cung chỉ kéo dài được bảy năm. Người ta trách Mạc Đăng Dung là làm nhục quốc thể, quì lạy tướng Trung Hoa và cắt đất dâng cho Trung Quốc. Việc quì lạy tướng Tàu là tồi thực, nhưng đó là điều mà các vua Việt nam ngày trước vẫn thường làm trước sứ giả Trung Quốc, không phải riêng gì Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung đã quỵ luỵ hơn các vua khác vì lúc đó ông ta không đứng trước một sứ giả mà trước một đạo quân hùng mạnh sắp tràn vào Việt nam xâm chiếm. Hành động hèn nhát của Đăng Dung đã cứu được đất nước khỏi chiến tranh và ngoại thuộc. Hèn thực, nhưng cũng may thay cho nước ta. Người ta lên án Mạc Đăng Dung đã dâng đất cho Trung Hoa. Nhưng sự dâng đất này chỉ là hình thức và không đáng kể. Mạc Đăng Dung chỉ dâng năm động ở Cao Bằng. Năm cái động đó có đáng gì đâu so với ngay cả những đất đai mà nhà Lý, được coi là oanh liệt, đã phải nhượng cho Trung Quốc để cầu hòa, sau nhiều cố gắng chiến dấu. Vả lại, người Trung Hoa chẳng bao giờ sang tiếp thu năm cái hang núi này cả, cho nên trên thực tế, Mạc Đăng Dung không làm mất một tấc đất nào.

Người ta coi Hồ Quí Ly hơn Mạc Đăng Dung, ở chỗ Hồ Quý Ly đã dám đánh lại quân Tàu, dù là đánh để rồi thua và mất nước. Người ta sỉ vả Mạc Đăng Dung là đã hèn nhát xin hàng tướng Tàu, dù nhờ đó mà Việt nam tránh được chiến tranh và không mất nước. Mà thực sự Hồ Quí Ly có đánh được gì đâu, quân Minh đi đến đâu, quân Hồ bỏ chạy đến đó, như ngày trước quân Chiêm liến đến đâu, Hồ Quí Ly chạy đến đó, chỉ trong vài tháng cả vua quan bị bắt trói giải về Tàu.

Tại sao lại có việc trọng Hồ Quí Ly, khinh Mạc Đăng Dung? Có hai lý do. Lý do thứ nhất là tinh thần quốc gia chúng ta không cao. Ta không coi trọng những gì có lợi cho đất nước mà chỉ để ý xem cái gì là độc đáo trong một con người; chúng ta vẫn suy luận như những cá nhân chứ không phải như một dân tộc. Lý do thứ hai là óc tôn thờ chiến tranh đã nói ở một phần trước trong sách này. Đánh bao giờ cũng có sức quyến rũ hơn hòa, dù là đánh ngu xuẩn như Hồ Quí Ly. Cho đến ngày nay, lập trường trọng Hồ khinh Mạc vẫn còn ngự trị, điều đó chứng tỏ trí tuệ tập thẻ chúng ta vẫn còn mê muội, tâm lý của chúng ta vẫn chưa được khai thông.

Nguyễn Gia Kiểng

Albert Einstein - Thế giới như tôi thấy

Tiểu luận này được Einstein viết tại Berlin năm 1930 khi ông 51 tuổi. Năm 1931, nó được dịch ra tiếng Anh và in trong tập thứ 13 của bộ sách Living Philosophiers, NXB New York, Mỹ...

Lạ thường biết bao loài hữu tử chúng ta! Mỗi chúng ta đã ghé thăm nơi đây trong một kiếp ngắn ngủi; cho một mục đích ta không hay biết, dù đôi khi ta nghĩ là ta cảm nhận được nó. Nhưng khi nhìn từ cuộc sống đời thường, mà không đi sâu hơn, lẽ tồn tại của chúng ta nằm ở những người anh em – trước hết là những người mà ta đặt niềm vui của mình vào nụ cười và hạnh phúc của kẻ đó, kế đến là những người không quen nhưng vận mệnh của họ đã nối với ta bằng mối dây đồng cảm. Hàng trăm lần mỗi ngày tôi tự nhắc mình rằng cuộc sống bên trong và bên ngoài của tôi đều nhờ vào công sức lao động của những người khác, dù họ còn sống hay đã chết, và tôi phải tận hiến chính mình để trao đi đúng mức tôi đã nhận và đang nhận. Tôi có nhu cầu sống giản tiện và có những lúc thấy dằn vặt bởi cảm giác mình đang chiếm giữ một lượng dư thừa công sức lao động của những người anh em. Với tôi, sự khác biệt đẳng cấp là bất công và luôn phải dựa trên cường quyền. Đồng thời tôi cũng cho rằng một lối sống giản dị là tốt cho tất cả mọi người, cả về vật chất lẫn tinh thần.

Tôi không tin vào tự do của con người theo nghĩa triết học. Mọi người hành xử không chỉ dưới sức ép ngoại lực mà còn phải thuận theo những nhu cầu nội tại. Câu nói của Schopenhauer, “một người có thể làm như anh ta muốn, nhưng không thể cứ muốn “muốn” là được” (a man can do as he will, but not will as he will) đã luôn là nguồn cảm hứng của tôi từ thời trẻ, nó cũng là sự an ủi vô hạn và dòng suối bất tận của lòng kiên nhẫn, để từ đó đối mặt với những thử thách của cuộc đời, của tôi, và của những người khác. Cảm xúc này đã nhân từ xoa dịu đi ý thức trách nhiệm, vốn rất dễ khiến ta tê liệt; nó giúp ta không quá khắt khe với chính mình và người khác; nó đưa ta đến một góc nhìn cuộc sống mà tại đó, trên tất cả, sự hài hước có vị trí xứng đáng của nó.

Từ góc nhìn khách quan, việc truy nguyên ý nghĩa hay mục tiêu tồn tại của ai đó cụ thể hay của sự sáng tạo nói chung khá vô nghĩa đối với tôi. Thế nhưng mỗi người đều có những lý tưởng riêng để định hướng những nỗ lực và phán xét của mình. Và như thế, tôi chưa bao giờ tìm kiếm sự thỏa mãn và êm ấm như là điểm đến cuối cùng – một nền tảng luân lý mà tôi cho rằng hợp với một đàn lợn hơn. Những lý tưởng đã thắp sáng lối đi của tôi, và ngày qua ngày trao cho tôi can đảm để đối mặt với cuộc sống một cách hân hoan, chính là Chân, Thiện, Mỹ. Nếu không có cảm thức về sự đồng điệu với những người cùng chí hướng, không có sự đau đáu về cái khách quan, cái mãi mãi cao vời trong nghệ thuật và khoa học, cuộc sống với tôi sẽ trở nên trống rỗng. Với tôi, những mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi – của cải, sự thành đạt, sự xa hoa – luôn là những điều đáng khinh bỉ.

Ý thức nhiệt thành của tôi dành cho lẽ công bằng và trách nhiệm xã hội luôn đối nghịch một cách cố hữu với việc tôi không có nhu cầu kết nối trực tiếp với các cá nhân hay cộng đồng người. Với trọn trái tim, tôi đích thực là một kẻ sống thu mình, kẻ chưa  bao giờ thuộc về đất nước, mái nhà, bạn bè, hay thậm chí gia đình tôi. Trong sự ràng buộc với những mối quan hệ này, tôi chưa bao giờ đánh mất cảm giác cố hữu về sự tách biệt và nhu cầu cần được cô độc – cảm giác này tăng dần theo tuổi tác. Ta có thể ý thức một cách sâu sắc, mà không hề hối tiếc, về những giới hạn trong tương giao và đồng cảm với người khác. Có thể một người như thế sẽ đánh mất phần nào sự hồn nhiên vô tư, nhưng bù lại, anh ta luôn độc lập trước các quan điểm, thói quen, và sự phán xét của người khác, và không để mình bị chao đảo trên cái nền không lấy gì làm vững chắc đó.

Lí tưởng chính trị của tôi là lý tưởng dân chủ. Hãy để mỗi người được tôn trọng như một cá nhân và không ai được thần tượng hóa. Số phận quả là trớ trêu khi chính tôi lại là đối tượng nhận được quá nhiều sự ngưỡng mộ và trọng thị từ những người anh em, dù tôi chẳng làm gì xứng đáng hay làm chi nên tội. Điều này có lẽ bắt nguồn từ sự khát khao bất thành của nhiều người trong việc thấu hiểu vài ba ý tưởng mà tôi, những ý tưởng mà tôi đã tìm được bằng chút sức mọn của mình qua nỗ lực không ngừng nghỉ. Thực ra tôi cũng biết rằng, để đạt được một mục đích tập thể nào đó, nhất thiết phải có ai đó đứng ra nghĩ, tổ chức và chịu trách nhiệm chung. Nhưng sự lãnh đạo không thể là bắt buộc, người ta phải có quyền chọn cho mình người cầm lái. Một hệ thống chuyên quyền bằng áp bức, theo tôi, sẽ sớm thoái hóa. Vì bạo lực luôn hấp dẫn những kẻ thấp kém về đạo đức, và tôi tin vào một quy luật bất biến rằng những gã bạo chúa thiên tài rồi sẽ được nối ngôi bởi những tên vô lại. Đó là lí do vì sao tôi quyết liệt chống lại những hệ thống như ta đang thấy ở Ý hay Nga hiện nay. Cái làm cho hình thức dân chủ hiện hành của Châu Âu mất tín nhiệm không nằm ở bản thân lý tưởng dân chủ, mà ở sự thiếu ổn định của bộ phận lãnh đạo cao cấp và tính phi nhân của hệ thống bầu cử. Về mặt này tôi cho rằng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã tìm ra lối đi đúng đắn: họ có một tổng thống có trách nhiệm, được bầu cho một thời gian đủ dài và có đủ quyền lực đủ để thực sự đảm nhận được trọng trách. Mặt khác, điều tôi đánh giá cao trong hệ thống chính trị của chúng ta là phúc lợi rộng rãi dành cho các cá nhân trong trường hợp đau ốm hay khó khăn. Giá trị thật sự trong hoạt động sống của loài người với tôi chẳng phải ở các nhà nước hay quốc gia, mà nằm ở các cá thể sáng tạo, hữu tri, là các nhân cách; chỉ cá nhân mới có thể tạo ra những giá trị chân quý và cao cả, trong khi bầy đàn tự nó vẫn mãi tù đọng trong tư duy và trì độn trong cảm xúc.

Nhân đây tôi muốn đề cập đến quái thai kinh tởm nhất của bản tính bầy đàn: hệ thống quân sự. Chỉ cần kẻ nào cảm thấy thích thú khi đứng vào đoàn duyệt binh theo tiếng quân nhạc là đủ để tôi coi khinh hắn rồi. Anh ta được trời phú nhầm cho bộ não lớn, bởi với anh ta, chỉ cần cột xương sống thôi là đã quá đủ. Bệnh dịch này của nền văn minh cần bị loại trừ càng sớm càng tốt. Chủ nghĩa anh hùng phục tùng mệnh lệnh, bạo lực mù quáng, và những tấn trò hề vô nghĩa lý nhân danh lòng ái quốc: tôi kinh tởm chúng làm sao! Chiến tranh với tôi là một thứ xấu xa đáng khinh bỉ: tôi thà bị băm vằm ra muôn mảnh còn hơn dự phần vào tấn trò khốn nạn đó. Dù sao tôi vẫn luôn nghĩ tốt về nhân loại, và tôi tin rằng, lẽ ra bóng ma này đã có thể biến đi từ lâu nếu lý trí lành mạnh của dân chúng không bị những tham vọng về kinh tế và chính trị, thông qua trường học và báo chí, làm cho bại hoại. Điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng tự vấn hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, chết như một cây nến tàn. Trải nghiệm cái bí ẩn – dù có pha trộn cảm giác sợ hãi – đã sinh ra tôn giáo. Biết về sự hiện hữu của cái mà ta không thể nhìn thấu, của những biểu hiện của lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ nhất, tức về những cái chỉ có thể đến với tâm trí chúng ta trong những hình thức sơ khai nhất; chính cái biếtvà cái cảm này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; theo nghĩa đó và chỉ theo nghĩa đó, tôi thuộc về những người có tín ngưỡng sâu xa. Còn một thượng đế theo nghĩa là kẻ ban phát phần thưởng và trừng phạt những tạo vật do chính mình tạo ra, kẻ gần như có một ý chí như người trần thế chúng ta, thì tôi không thể nào hình dung ra được. Tôi không muốn và cũng không thể tưởng tượng ra những cá nhân sống lâu hơn cái chết thể xác; mặc cho những tâm hồn yếu đuối, vì sợ hãi hay vị kỉ lố bịch, tìm đến những suy nghĩ như vậy. Với tôi, sự huyền nhiệm trong tính vĩnh cửu của sự sống, cùng với sự thức nhận và tiên cảm về cấu tạo kỳ diệu của tạo vật cũng như nỗ lực nhẫn nại để nắm bắt lấy một phần dù rất nhỏ bé của cái lý tính tỏa rạng trong cõi tạo hóa này, đã là đủ rồi.

Theo: Chungta.com

 ______________________________
Liên quan:

Khoa học, đại học và lý tưởng tuổi trẻ

Những cánh đồng vinh quang của quá khứ đã được thu hoạch và sử dụng rồi, nhưng những người thu hoạch mới chắc chắn sẽ xuất hiện, do đó họ phải tìm cho mình một cánh đồng mới và gieo trồng lấy. Họ có thể tìm lấy vinh quang bằng cách hỗ trợ và gìn giữ một lâu đài được xây nên bởi người khác chăng?

Bạn đã sinh ra với tư chất tốt và lòng tin.
Bạn đã sinh ra với các lý tưởng và những giấc mơ.
Bạn đã sinh ra với sự vĩ đại.
Bạn đã sinh ra với đôi cánh.
Bạn sinh ra không phải để bò, nên đừng làm thế.
Bạn có cánh.
Hãy học sử dụng chúng và bay.

(Rumi)

Những vần thơ như thế của nhà thơ Ba tư Rumi thế kỷ thứ 13, người có ảnh hưởng lớn đến văn học Hồi giáo, những vần thơ như muốn nhắc nhở và đánh thức lại sự to lớn, giàu có vốn tiềm tàng trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta cần lắm những lời nhắc nhở như thế trong thời đại tù mù những giá trị này.

Cái gì có thể giúp các bạn trẻ tạo nên đôi cánh? Đại học là một con đường, tuy chắc không phải con đường duy nhất, là nơi các bạn đang bước vào và theo đuổi việc học. Đại học có thể đem lại những giá trị nào? Charles William Eliot, chủ tịch của đại học Harvard, người biến Harvard từ một trường college tỉnh lẻ lên thành một đại học nghiên cứu ưu việt, trong một bài diễn văn năm 1876 (mừng chủ tịch đầu tiên Daniel C. Gilman của đại học Johns Hopkins) có phát biểu những lời sau đây về những giá trị mà đại học có thể mang lại:“Sự vĩ đại đích thực của một quốc gia không nằm ở lãnh thổ, thu nhập, dân số, thương mại, hoa màu hay hàng chế biến, mà chính ở các giá trị tinh thần và phi vật chất; ở sự tinh khiết, sự dũng cảm và tính chính trực của dân tộc đó, ở thi ca, văn chương, khoa học và nghệ thuật mà dân tộc đó đã tạo ra, ở giá trị đạo đức của lịch sử và đời sống của họ. Đối với quốc gia, cũng như cá nhân, không có gì khác hơn là sựưu việt đạo đức mới là bất biến và vĩnh cữu có lợi. Các đại học, được dìu dắt khôn ngoan, lưu trữ vốn trí thức của giống nòi, và trở thành những nguồn suối của sức mạnh tinh thần và đạo đức. Ở đây các bước chân trẻ, tránh xa những lối mòn bẩn thỉu của ham muốn thấp kém và tham vọng trần tục, có thể bước đi trong những dấu chân của những người quá cố lừng lẫy – những nhà thơ, nghệ sĩ, triết gia và chính khách của quá khứ; ở đây những mái đầu tươi rói có thể thám hiểm những vùng đất mới và tăng trưởng vốn tri thức lên; ở đây chốc chốc những con người vĩ đại có thể được đào tạo thành các nhà lãnh đạo dân tộc; ở đây ánh sáng soi sáng của thiên tài chốc chốc loé lên để làm hoan hỉ nhân loại; trên hết, ở đây nhiều thế hệ của thanh niên có thể học lấy sự chính trực. (Charles W. Eliot, 1876)

Thời điểm bài nói chuyện của Eliot chưa lâu lắm. Nó nằm trong giai đoạn phát triển đỉnh cao của đại học châu Âu,đang lan truyền và tạo sự chuyển biến có tính chất cách mạng đến Hiệp Chủng QuốcHoa Kỳ và dần dần đến khắp thế giới.

KHOA HỌC

Vừa qua thế giới nhận được tin ‘hoả tốc’, rằng trung tâm nghiên cứu hạt nhân CERN ở biên giới Thuỵ Sĩ và Pháp đã cuối tùng tìm ra hạt Higgs. Cuộc săn lùng gần nửa thế kỷ đã thành công. Với cơ chế hạt Higgs, các hạt cơ bản tạo ra vật chất trở nên có khối lượng. Bạn hãy tưởng tượng, vũ trụ là cánh đồng bùn bất tận, và bạn đi trong đó. Bạn sẽ thấy có sức nặng dưới chân. Đó chính là bạn đã có khối lượng từ sự tương tác của bạn với cánh đồng bùn. Không có hạt Higgs, không có thế giới, trái đất, và cả chúng ta.

Cách đây hơn hơn 3 thế kỷ, Newton đã đề ra hai khái niệm quan trọng: khối lượng và lực hấp dẫn, mà không lý giải được chúng là gì và từ đâu mà có. Phải đợi đến năm 1915, tức sau hơn 200 năm, Einstein mới giải mã được lực hấp dẫn bằng thuyết tương đối rộng của mình, điều đó đã đem lại cho ông vinh quang tột đĩnh. Giờđây khái niệm khối lượng cũng được giải mã luôn.

Đó là câu chuyện thời sự.

Nhưng khoa học không phải khám phá những định luật tận cùng của vũ trụ chỉđể hiểubiết thuần tuý vềlý thuyết, màcó những đóng góp rất quyết định vào sự thay đổi căn bản bộ mặt xã hội thế giới. Không có các cuộc cách mạng khoa học, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp là những người anh em sinh đôi, khó hình dung được cuộc sống ngày nay của chúng ta với những phúc lợi và tiện nghi như iPhone, iPad, xe hơi có hệ thống định vị GPS…

Nhà khoa học C. P. Snow,tác giả của quyển sách Hai nền văn hoá phát biểu: Cuộc cách mạng khoa học là con đường duy nhất mà trên đóđa số con người có thểđạt đến những phúc lợi cơ bản (cuộc sống lâu, đầy đủ thực phẩm, con cái lành mạnh), những phúc lợi mà chúng ta nhận lấy một cách đương nhiên, nhưng lại là những phúc lợi trong thực tế chỉđược mang lại cho chúng ta chỉ vì cách đây không lâu chúng ta đã có cuộc cách mạng khoa học. Phần lớn con người đã hối hả lao vào cuộc cách mạng đó như cơ hội cho phép họ. LỊCH SỬ KHOA HỌC

Khoa học mà chúng ta hôm nay học,được các sử gia xem bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên với các nhà khoa học đầu tiên như Thales, Anaximander, Anaximanes của thành phố Miletos, Hy Lạp cổ. Ý tưởng vĩ đại của họ là thế giới có thể được hiểu bằng lý trí của con người, chỉ cần có óc tò mò, quan sát và không mê tín.Thế giới theo họ không phải là chỗ tụ tập của thần linh để tuỳ tiện hoạt động và điều khiển, mà thế giới vận hành theo một cơ chế phức tạp với những định luật vĩnh cửu nội tại như một cosmos. Những người Babylon, Ai cập biết nhiều về qui luật của các quỹ đạo tinh tú và hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, nhưng họ chỉ tin đó là những sự huyền bí tôn giáo và không quan tâmtìm những lời giải thích bằng khoa học. Thời kỳ Thales được gọi là thời Khai minh Ionia, với văn hoá khai phóng và khoa học phát triển mạnh mẽ, chế độ chính trị thông thoáng, xuất phát từ vùng có địa danh Ionia phía Đông Hy Lạp, ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.

Thế kỷ thứ 6 cũng là thế kỷ chào đời của Phật Thích Ca, Lão tử và Khổng tử ở phương Đông. Đó là một sựtrùng hợp rất thú vị.

Nhưng rồi khoa học phải chia tay dòng suối hoạt động trí thức vào thế kỷ thứ 3 TCN sau khi nó đã đi vào trung tâm sinh hoạt văn hoá của Hy Lạp, để rồi, sau Plato, Aristote dần dần nhường chỗ cho những quan tâm về đạo đức, tôn giáo và siêu hình. Đến thế kỷ thứ 6 SCN, hoàng đế Justinian của Đế chế Byzantin (La Mã phía Đông, thủ đô Constantinople, nay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) đóng cửa các trường triết học Athen vì những gì được dạy ở đó không phù hợp với tinh thần của Kitô giáo. Năm trước, nhà triết học La Mã quan trọng cuối cùng Boethius cũng bị xử tử (Quyển sách nổi tiếng của ông để lại: Sự an ủi của triết học, Consolation of Philophy, năm 524). Hai sự kiện trên kết thúc giai đoạnphát triển tri thức cổ đại. Học thuật Hy Lạp không còn được chú ý. Châu Âu bước vào giai đoạn lịch sử gọi là “Thời kỳ đen tối” (Dark Ages).

Mãi ngót 2.000 năm sau, tức thế kỷ thứ 17, khoa học mới bừng sáng lại, với Galilei, Kepler, Descartes và Newton. Thế kỷ 17 là khúc quanh quan trọng của nhân loại đánh dấu thời đại khoa học và tư duy con người được cởi trói khỏi các sợi dây trói buộc thời Trung cổ. Trước đó, như khúc dạo đầu, năm1543 Copernicusđã xuất bản quyển sách “Về sự chuyển động quay của các thiên thể”, gọi tắt Chuyển động quay, cho rằng mặt trời mới là trung tâm và trái đất mới quay xung quanh nó, không phải ngược lại. Ông chỉ dám phổ biến quan điểm đó trước khi ông mất, vì sợ quyền lực nhà thờ. Vũ trụ, cosmos, là một phần quan trọng trong đức tin của Công giáo La Mã. Ai muốn thay đổi trật tự của nó không tránh khỏi bị trừng phạt.

Nhưng nửa thế kỷ sau quyển sách Chuyển động quay của Copernicus, Galilei, như một Columbus trên trời, dám tranh đấu quyết liệt cho thuyết Copernicus sau khi ông nhìn thấy chứng cứ trên trời qua viễn vọng kính tự tạo. Ông là người đầu tiên biết dùng viễn vọng kính để khám phá bầu trời, và là người nhìn thấy nhiều nhất, do đó cũng bức xúc nhất. Cuộc đấu tranh kéo dài 24 năm rất gian truân, với cao điểm là tác phẩm nổi tiếng Dialogue, Đối thoại, được xuất bản năm 1632, để rồi kết thúc ngay sau đó bằng bản án lịch sử của nhà thờ bắt ông thề bỏ tín điều và ông đã bị quản thúc cho đến chết.Trong tuyệt vọng, vào những năm cuối đời, ông còn kịp viết thêm tác phẩm lớn Discorci, (Nghị luận và Chứng minh toán học về Hai khoa học mới thuộc Cơ học và các Chuyển động), làm nền tảng của ngành vật lý hiện đại.

Galilei là một con người vĩ đại,đa tài đặc biệt. Những tác phẩm khoa học của ông đều là những án văn tuyệt tác có tính chất khai sáng tại bước ngoặc lịch sử của khoa học thế kỷ 17. Galilei tiếp nối tại Pisa, Padua, là những nơi ông đã từng hoạt động lâu năm, những gì Thales đã bắt đầu 2.000 năm trước tại Miletos.

Ngay sau bản án, các quyển sách cấm của ông Dialoguevà Discorsi, được phổ biến mạnh mẽở nước ngoài, truyền đi cảm hứng cho cộng đồng khoa học châu Âuvà tín hiệu của sự bứt phá. Isaac Newton là một trong những người đã đọc chúng ở tuổi thanh niên. Khoa học bừng lên phát triển như sau cơn ngủđông 2.000 năm tại các quốc gia phía bắc dãy núi Alps, đặc biệt tại Hà Lan, Anh, Pháp, Đức. Trung tâm học thuật, từ Hy Lạp chuyển qua Ý, giờ đây chuyển lên phía Bắc châu Âu. Cả 200 năm sau bản án Galilei, buồn thay nước Ý ‘không dám’ có nhân tài đáng kể nữa.

Năm 1687, nghĩa là 45 năm sau ngày mất của Galilei, tác phẩm vĩ đại Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên, gọi tắt là Principia của Newton ra đời, phát triển và khái quát hoá những khám phá của Galilei và Kepler thành khoa học hiện đại có giá trị phổquát với sựchứng minh chặt chẻtoán học, mở ra một thời kỳ mới của khoa học không thểđảo ngược.

Khoa học hiện đại, cái mà chúng ta học ngày nay hình thành khá đầy đủ hình dạng vào thế kỷ 17, khi hai dòng thác “âm dương” hội tụ: đó là khoa học lý thuyết, episteme, và kỹ thuậtứng dụng, techne. Người thực hiện sựkết nối, tổng hợp của hai dòng thác này chính là Galilei, con người của cả lý thuyết lẫn thực hành.

Đặc điểm của xã hội phương Tây là không ngừng chuyển động. Các lực lượng sản xuất phát triển liên tục từ các thế kỷ 8,9 đến 15, 16 của thời Phục Hưng. Một lực lượng nghệ nhân, thủ công, tính toán, xây dựngđông đảo xuất hiện. Họđều là những nghệ nhân đa năng, những người thực hành rất giỏi, tuy không được đào tạo qua trường lớp về lý thuyết. Hình tượng cao nhất của những con người đa năng đó là Leonardo da Vinci (1452-1519), một tài năng kiệt xuất.

Trong khi đó, khoa học dưới dạng kinh viện cũng không ngừng phát triển trong các đại học. Khoa học, triết học, y khoa, toán học của Hy Lạp cổđại và Ả rập, thông qua cuộc dịch thuật vĩđại thế kỷ 12 và 13, vẫn được tiếp tục phát triển trong đại học, tuy có phần bị che khuất bởi tấm vải giáo điều được tạo ra sai lầm từ triết học Aristote và kinh thánh. Nhưng sự kỳ diệu cuối cùng đã đến: sự hợp nhất của lý thuyết và thực hành, của hình ảnh học giả và người thợ thủ công để cho ra đời khoa học hiện đại. “Khoa học nối kết lý thuyết và thí nghiệm bắt đầu thật sự với công việc của Galilei” như Einstein & Infeld nói.

Joseph Needham, nhà Trung Hoa học lớn của thế kỷ 20 đặt câu hỏi tại sao hai dòng thác đó lại hội tụ tại phương Tây mà không phải tại phương Đông? Có nhiều cách lý giải. Joseph Needham tự trả lời một cách:“Mối quan tâm đến tự nhiên không đủ, thí nghiệm có kiểm soát không đủ, phép qui nạp, thực nghiệm không đủ, sự tiên đoán nhật thực nguyệt thực và tính toán lịch không đủ - tất cả những điều đó người Trung Hoa đã có; rõ ràng chỉ một nền văn hoá trọng thương(mercantile) mới có năng lực thực hiện được những gì mà một nền văn minh nông nghiệp quan liêu không làm được, tức là hợp nhất được những ngành trước đó bị chia cắt của toán học và nhận thức tự nhiên.”

Trước thế kỷ 16 các nền văn minh lớn của thế giới xem như gần gũi nhau, nhưng từ thế kỷ 17trở đi châu Âu đã bứtđi một cách không đảo ngược được. Lịch sử đã phân kỳ với các hệ quả ghê gớm cho nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

ĐẠI HỌC

Đại học có tiền thân từ khoảng cuối thế kỷ 11 và 12 thời Trung cổ, gọi là universitas, tại cái nôi châu Âu. Sự ra đời của đại học Bologna, Paris,Oxford và Cambridge chấm dứt đêm dài của thời kỳđen tối. Đó là sự chuyển động của học thuật ra khỏi tu việnđể thâm nhập vào xã hội. Các tu sĩ tin rằng nó sẽ phát triển tốt hơn, rộng rãi hơn, phục vụxã hội nhiều hơn. Học thuật bắt đầu lan toả xuyên quốc gia và phát triển mạnh.

Đại học Trung cổ đánh dấu sựra đời của một tầng lớp trí thức độc lập, không lệ thuộc vào bộ máy quyền lực và bổng lộc, muốn có vai trò tích cực trong xã hộinhư những tác nhân, kẻ sáng tạo, không giống nhiều nền văn hoá khác mà ở đó sự sáng tạo đã bị trao về bộ máy cầm quyền hay cho thần linh, tôn giáo, con người không có vai trò gì đáng kể trong cuộc khám phá vĩđại của nhân loại. Lịch sử của châu Âu là lịch sử của sự khẳng định con người, cá nhân với dấu ấn mạnh mẽ của nó, từ suối nguồn của văn minh Hy Lạp: “Các dân tộc khác làm ra thần thánh, vua chúa và ma quỷ. Chỉ có dân tộc Hy Lạp làm ra con người” (W. Jaeger), đặt con người vào vị trí trung tâm.

Nói đến đại học Trung cổ không thể không nói đến cuộc dịch thuật vĩ đại cùng thời kỳ để chuyển ngữ sang tiếng La tinh những tác phẩm kinh điển của các học giả Hy Lạp như Aristote, Euclid, Hippocrates, Galen, Ptolemy và của một số học giảẢ rập nhưAlhazen (Quang học), al-Khawarizmi (Đại số). Cuộc dịch thuật này ảnh hưởng quyết định đến đời sống trí thức châu Âutrong việc hình thành một thế giới quan đầy tính lý tính, lô gích, khoa học xem thế giới là một cỗ máy được tổ chức tinh vi nhưng có thể hiểu được, từcác hành tinhđến con người, động vật, vật chất vô sinh, thể hiệntiếp truyền thống của Khai minh Ionia.

Tại Trung Hoa, cùng lúc, phong trào học thuật sống dậy cũng vào thế kỷ 12, với chủ nghĩa Tân-Khổng giáo, Chu Hy, người tiêu chuẩn hoá các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh dùng cho các kỳ thi hoàng gia chọn nhân tài phục vụ bộ máy nhà nướcvà tồn tại cho đến thế kỷ 20. Nhưng nền học thuật Trung Hoa thiếu các hạt giống khoa học, triết học của Hy Lạp và phương Tây. Khổng giáo không quan tâm đến khoa học, chỉ quan tâm đếnđạo đức và nhân văn.

Cuối thế kỷ 15, châu Âu hầu hết được bao phủ bởi một mạng lưới đại học đáng kể, ước tính có khoảng trên 80 đại học mà phần lớn vẫn còn tồn tại hôm nay. Anh quốc, ngoài Oxford, Cambridge có thêm các đại học Glasgow, St.Andrew, Aberdeen. Bắc Âu có Kopenhagen, Uppsala. Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha có rất nhiều đại học. Trong thời gian 1350-1500 có khoảng 750.000 người đã ghi danh, một con số rất ấn tượng trong thời bấy giờ.

Nhưng khi cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17diễn ra thì đại học chưa phải là cái nôi của khoa học, một sự“trớ trêu” của lịch sử! Khoa học mới, nảy mầm từ thực nghiệm,được tiến hành dưới dự bảo trợ của các mạnh thường quân, hay của các đại danh tại các lãnh địa, nhưng không diễn ra trong khuôn viên đại học.Vì sao? Bởi vì đại học lúc bấy giờ còn bị chiếm lĩnh bởi tinh thần kinh viện giáo điều và xem thường thực nghiệm (experiment). Muốn cho khoa học tiến vào đại học, châu Âu phải cần có một cuộc cách mạng tiếp nối. Đó là cuộc cách mạng của đại học Đức theo tinh thần của Wilhelm von Humboldt vào đầu thế kỷ 19.

ĐẠI HỌC HUMBOLDT

Nếu với sự ra đời của đại học Trung cổ, học thuật được thể chế hoá, tạo racái nhà của minh triết thì 6 thế kỷ sau, với sự ra đời của đại học Đức theo tinh thần Humboldt, khoa học được thể chế hoá rộng rãiở một cấp bậc cao. Thể chế hoá học thuật là đặc thù của châu Âu, mà các nền văn minh khác, như Islam hay Trung Hoa, tuytừng có những tiến bộ lớn hơn, nhưng lại không có.

Đại học Berlin, tứcĐại học Humboldt sau này, được thành lập năm 1810, có thể được tóm tắt như sau: «Đó là một thể chế trong đó những người giảng dạy và người đi học qui tụ lại như những người nghiên cứu bình đẳng trong sự thống nhất của nghiên cứu và giảng dạy để truy tìm khoa học thuần túy trong sự cô đơn và tự do, và qua quá trình này đạt tới sự hoàn thiện về tinh thần và đạo đức.» (Werry) Hai cột trụ chính của các nguyên lý là nghiên cứu và tự do hàn lâm, bao hàm tự do dạy và tự do học. Khoa học trở thành hình thức của cuộc sống, triết lý sống (Wissenschaft als Lebensform) và là nồng cốt của giáo dục (Bildung durch Wissenschaft).

Với Wilhelm von Humboldt, đại học trở thành đại học của khoa học, văn hóa, của sự tự rèn luyện toàn diện nhân cách con người, do đó có mang tính đạo đức, nhân văn và là hạt giống trí tuệ của quốc gia. Đại học sẽ làm cho con người thành những chủ thể nhân văn, và thông qua họ, làm cho bộ máy nhà nước nhân văn và khai sáng. Đại học Berlin, cùng với cuộc cải cách giáo dục phổ thông của Humboldt, mang sứ mệnh làm chuyển đổi cả một nhà nước củ kỹ vừa bị quân đội của Napoleon đánh sập thành một nhà nước hiện đại để vực dậy đất nước, “lấy sức mạnh tinh thần để bù đắp những mất mát vật chất”. Humboldt là người đã nhìn thấy xa các yêu cầu tối thượng của cuộc canh tân đất nước, và Đại học Humboldt chính là đại học trồng người, và lànguồn nguyên khí quốc gia cho mục tiêu đó.

Đại học Berlin ra đời không phải từ ý tưởng của giới quản lý giáo dục, hay chính trị, mà từ những ý tưởng của giới văn chương và triết học duy tâm Đức. Một sự liên minh giữa triết học, khoa học và văn hoá diễn ra. Nhà triết học cũng là nhà khoa học và văn hoá. Nhà văn hoá cũng là nhà triết học và khoa học. Nhà khoa học cũng là nhà triết học và văn hoá. Tinh thần triết học và nhân văn này vẫn tiếp tục tồn tại lâu dài ở những nhà khoa học sau khi khoa học tự nhiên thực nghiệmđã thắng thế.

Đại học Humboldt đã khơi đúng mạch tri thức của thời đại tích tụ từ thời Kepler, Galilei, Descartes và Newton, và dần dần trở thành bà mẹ, alma mater,của đại học hiện đại thế giới. Bên kia bờĐại tây dương, dưới ảnh hưởng mạnh mẽcủa đại học Đức,nước Mỹtiến hành cuộc cách mạng giáo dục đại học trong những năm của nửa sau thế kỷ 19, với những con người đã từng học tại các đại học Đức. Khoa học bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ và vũ bảo trên toàn thế giới.

AI TRỊ VÌ THẾ GIỚI?

Chúng ta vừa điểm qua lịch sử hình thành của khoa học và đại học. Thế kỷ giữa 19 và 20 là thế kỷ thế giới biến đổi sâu xa và cơ bản nhất, hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó. Tất cả những biến đổi đó, như Stephen Hawking nhận xét, “không phải do những học thuyết chính trị hay kinh tế mới nào, mà do những sự phát triển kỹ thuật bão táp được tạo điều kiện bởi những tiến bộ trong nghiên cứu cơ bản” gây ra.

Các cuộc cách mạng khoa học không ngừng rút ngắn khoảng đường tác động vào đời sống kinh tế, ngày càng có ảnh hưởng trực tiếp hơn. Những quốc gia phát triển đi tìm sự phồn vinh của mình từ những tiến bộ khoa học kỹ thuật cao cấp cho nên đầu tư rất lớn vào đó, vào chính sách giáo dục toàn dân, truyền bá khoa học đại chúng, xây dựng cơ sở hạ tầng tri thức, đại học, thư viện, cơ sở nghiên cứu, con người. Đây là một cuộc chạy đua mạnh mẽ toàn cầu. Xã hội cũng như kinh tếđều lấy tri thức làm gốc.

Tôi xin mượn những lời sau đây của nhà toán học và triết học Anh nửa đầu thế kỷ 20 Alfred North Whiteheadnói vềảnh hưởngcủa khoa học trong lịch sử nhân loại. Ông viết:

Những người chinh phục vĩđại, từ Alexander đến Caesar, và từ Caesar đến Napoleon, ảnh hưởng sâu sắc cuộc sống của các thế hệ sau. Nhưng tổng hiệu quả của ảnh hưởng này rút lại trởthành tầm thường nếu so sánh với toàn bộ sự biến đổi của thói quen và tâm tính con người gây ra dài hạn bởi một chuỗi dàinhững con người của tư duy từ Thales đến ngày hôm nay, những người xét về cá nhân không có quyền lực gì, nhưng tối hậu lại chính là những người trị vì thế giới.

KHOA HỌC VÀO PHƯƠNG ĐÔNG

Còn phương Đông thì sao? Văn minh của Đông và Tây đã khá sớm mang đậm những nét đặc thù của sự phân kỳ (divergence).Hai lối tư duy trong học thuật của Đông Tây hình thành cùng thời kỳ, giai đoạn Hy lạp hoá (Hellenistic)ở phương Tây, và giai đoạn nhà Hán ở phương Đông, khoảng hai thế kỷ trước và sau Công Nguyên nhưng rất khác nhau (hai giai đoạn đều bắt đầu bằng chữ H). Một bên cái học chuộng triết học, biện chứng, y khoa, các khoa học toán như số học, hình học, thiên văn, tĩnh học;một bên sự học Khổng giáo được nâng lên thành giá trị cao nhất, y khoa và toán học chiếm hàng thứ yếu. Trong khi cái học của phương Tây mang đậm tính chất hùng biệnvà lô gích, phân tích và tranh luận để tìm cái mới, thì cái học của Trung Hoa đậm nét của sự học tư liệu, từ chương, trả bài, theo chính thống. Có lẽ khẩu hiệu của Plato trước hàn lâm việnông “Ai không thành thạo hình học thìđừng vào đây” minh hoạ tinh thần học thuật đượm nét khoa học cao độcủa học thuật phương Tây.Cũng chưa ởđâu trên thế giới xuất hiện một loạt đông đảo các nhà khoa học trí thức nhưở Hy Lạp: Thales, Pythagoras, Zeno, Democritos, Hippocrates, Plato, Aristote, Euclid, Aristarchos, Archimedes, Ptolemy và còn nhiều người nữa. Galilei đã từng xem Archimedes là thầy của mình, và ngược lại ông cũng được xem là một Archimedes của thời cận đại.

Chúng ta cần nhìn vào phản ứng của hai quốc gia Trung Hoa và Nhật Bản để thấy sựkhác biệt cơ bảnkhi khoa học truyền bá vào. Khoa học phương Tây được truyền vào Trung Hoa khá sớm, từ thế kỷ 17, theo chân các cha Dòng Tên. Nhưng vua quan Trung Hoa nhất định không muốn chấp nhận sựưu việt của khoa học phương Tây, mà chỉ muốn tự hào về sựưu việt của di sản văn hoá đồ sộ mình. Họ dùng âm dương, ngũ hành, kinh dịch để lý giải mọi việc trên đời, từ khoa học, y học đến đời sống, tương lai, vận mệnh con người và xã hội. Họ tìm cách qui chiếu tất cả khoa học hiện đại phương Tây về khoa học cổ truyền Trung Hoa, và cho rằng khoa học phương Tây đã có gốc rễ trong di sản khoa học Trung Hoa rồi. Họ chỉ xem phương Tây có công nghệ, kỹ thuật hữu dụng thôi, điều đó họ cần học để làm lịch, chế tạo súng đạn và tàu chiến, và chỉ thế thôi. Khẩu hiệu "Trung học vi thể, Tây học vi dụng" (Sự học Trung Hoa phục vụ cái căn bản, Sự nghiên cứu phương Tây phục vụ cái hữu dụng) của Trương Chi Đông(Zhang Zhidong), 1898, diễn tả thái độ nói trên. Cuối thế kỷ 18, đầu 19, vua Càn Long cũng từ chối bang giao thương mại với phương Tây, thực tế họ cũng đang xuất khẩu nhiều hàng hoá sang phương Tây. Nhưng họ không biết rằng Anh quốc lúc đó, với sức mạnh vô địch của cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ 18, đang làm bá chủ trên biển vàđang trở thành một ‘đế chế mặt trời không bao giờ lặn”. Trung Hoa thật sự đang chết lầm sàng mà không hay.

Còn Nhật Bản thì sao? Họ tự hào là con cháu của nữ thần mặt trời, không bao giờ tha thứ cho kẻ lạ mặt đặt chân lên đất nước họ. Khoa học phươngTây cũng được truyền vào đất nước này khá sớm. Chỉ vài năm sau khi Copernicus xuất bản tác phẩm Chuyển động quay ở châu Âu thì những vị truyền giáo phương Tây cũng đã có mặt ở Nhật Bản mang theo những kiến thức khoa học và y khoa. Nhưng Nhật Bản đã đóng cửa, đuổi hết họ, cũng như Việt Nam, để bảo vệ truyền thống văn hoá của mình, nhưng vẫn còn chừa một cửa ngõ thông thương và thông tin tại cảng Nagasaki với quốc gia duy nhất là Hà lan để nghe ngóng tình hình thế giới.

Mãi cho đến năm 1853 khi những chiếc tàu đen của Commodore Perry bắn vào Tokyo để buộc mở cửa thông thương thì giai cấp cầm quyền Nhật Bản là giai cấp samurai tỉnh ngộ. Họ nhanh chóng mở cửa và cải cách toàn diện: chínhtrị, kinh tế, thương mại, khoa học, giáo dục và quân sự. Họ đi tìm khai sáng ở phương Tây. Họ thuê cả mấy ngàn chuyên gia nước ngoài về làm việc tại Nhật Bản để tư vấn họ, rất khẩn trươngđể khỏi bịphương Tây nuốt chững.Và chỉ khoảng 30 năm sau Minh Trị Duy Tân 1868, họ đã chiến thắng vang dội nhà Thanh trong cuộc chiến tranh Nhật-Thanh 1894-95. Mười năm sau, họ đánh thắng luôn quân đội Nga hoàng. Các samurai đã liên tiếp quật ngã những người khổng lồ, cho thấy sức mạnh vô địch của cuộc cải cách theo mô hình phương Tây. Họ có thể tự hào là dân tộc đầu tiên đã mang ánh sáng khoa học và văn minh phương Tây về châu Á.

Vì sao Nhật Bản thành công thần tốc như thế? Hãy nhìn vàovăn hoá đọc sách của họ. Họ là một dân tộc cực kỳ năng động và tò mò. Những cuốn sách, như Bàn về tự do, bán ở phương Tây vài trăm ngàn bản,khi được dịch sang tiếng Nhật thời Minh Trị Duy Tân bán lên cả triệu bản; hay như những quyển sách được biên soạn của nhà khai sáng Fukuzawa Yukichi. Người Nhật mê cuồng đọc sách thời mở cửa. Tại sao? Nhật Bản cũng là quốc gia theo Khổng giáo như Việt Nam và Hàn quốc. Nhưng nhìn sâu hơn, họ là dân tộc có văn hoá đọc và giáo dục đã phát triển mạnh mẽngay trong thời đóng cửa Tokugawa 1600-1868. Cuối thời này, Nhật Bản là quốc gia đầy ắp sách vở và trường học.Một đánh giá thô ước tính rằng vào thời điểm Minh Trị, 40-50% tất cả con trai Nhật, và 15% con gái Nhật đều có qua trường lớp ngoài gia đình. (Việt Nam lúc đó còn mù chữ phổ biến) Điều này gợi ra rằng mức độ biết chữ của Nhật Bản lớn hơn tất cả những quốc gia phương Tây có cùng sự phát triển kinh tế. Một người Pháp viết năm 1877 rằng “giáo dục sơ cấp ở Nhật Bản đã đạt đến mức độlàm cho chúng ta xấu hổ…Không có làng nào mà không có trường học, hầu như không có người nào không biết đọc…”

Trong hơn hai thế kỷ rưởi đóng cửa được canh gác chặt chẽ, trí thức Nhật đã làm nên một cuộc dịch thuật khoa học vĩ đại từ sách vở Hà Lan để hiểu cuộc cách mạng khoa học, công nghệ diễn ra ởchâu Âu. Cuộc dịch thuật khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, đôi khi phải trả giá bằng tính mạng, nhưng trí thức Nhật đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh.Cuộc dịch thuật này góp phần thay đổi hệ hình tư duy truyền thống của Nhật Bản nhanh chóng trong thời Minh Trị. Đọc sách là việc làm của lòng yêu nước, nhất là của giới tinh hoa cầm quyền samurai, không phải chỉ để thưởng ngoạn, mà để khai minh, khai trí vàđể khai sinh một thời đại mới cho đất nước. Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợ ngu muội vì không học. Một ngàn năm trước họđã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ mất mặt. Và họ đã thành công. Cả thế giới kính nể.

Chúng ta, những người Việt Nam, có một món nợ rất lớn đối với lịch sử: đó là thiếu ý thức và hiểu biết đầy đủ về sức mạnh của khoa học, công nghệ,của giáo dục, và các thể chế cần thiết trong việc xây dựng một đất nước phú cường. Vì thế tôi càng đánh giá cao việc trường Đại học Hoa Sen năm nay có lẽ lần đầu tiên tại Việt Nam có một giáo trình Lịch sử tư duy khoa học thế giới, do thầy Hoàng Anh Tuấn Kiệt phụ trách.

LÝ TƯỞNG TUỔI TRẺ

Tôi xin mượn mấy lời tâm huyết sau đây của Abraham Lincoln trong bài diễn thuyết trước học sinh trường trung học Springfield bang Illinois năm 1838 (1), để nói với các bạn trẻ: Abraham Lincoln nói, những cánh đồng vinh quang của quá khứ đã được thu hoạch và sử dụng rồi, nhưng những người thu hoạch mới chắc chắn sẽ xuất hiện, do đó họ phải tìm cho mình một cánh đồng mới và gieo trồng lấy. Họ có thể tìm lấy vinh quang bằng cách hỗ trợ và gìn giữ một lâu đài được xây nên bởi người khác chăng? Chắc không. Có nhiều người đầy đủ tài giỏi để thực hiện những nhiệm vụ của mình nhưng không khao khát gì xa hơn mấy chiếc ghếtrong Quốc hội, hay trong chính phủ. Nhưng những người đó không thuộc về giòng sư tử, hay họ đại bàng. Sao, các bạn nghĩ những vị trí đó sẽ thoả mãn một Alexander, một Ceasar, hay Napoleon chăng? Không bao giờ. Thiên tài cao ngất xem thường lốimòn đã đi.Họ tìm những vùng đất chưa bao giờ khai phá. Họkhông tìm sự khác biệt trong việc thêm bớt một hai chi tiếtởnhững tượng đài của sự nổi tiếng được dựng lên trong ký ức của những người khác. Họ từ chốicho rằng phục vụmột người chủ là đủ vinh quang. Họ ghét bước theo dấu chân của bất cứ ai khác, dù nổi tiếng đến đâu. Họ khao khát cháy bỏng sự khác biệt.

Những trang lịch sử oai hùng rồi đây cũng sẽ đi qua, phai nhạt trong ký ức. Chúng là tiền đồn của sức mạnh, nhưng cái mà một kẻ thù xâm lược không làm được, thì trọng pháo của thời gian có thể làm được: đó là sựim bặt.Đó là một cánh rừng của những cây sồi, nhưng trận cuồng phong không gì cưỡng lại được tràn qua, chỉ để lại đó đây những thân cây trợ trụi không còn màu xanh của sự sống, chẳng còn một bóng mát, chỉ còn thì thầm trong vài cơn gió nhẹ, chiến đấu với những cành nhánh đã bị què quặt, và chỉ chờ vài trận bảo lớn nữa để chìm đi vĩnh viễn.

Chúng là những cột trụ của lâu đài độc lập, tự do, Abraham Lincoln nói tiếp. Chúng đang bị vỡ đi, toà lâu đài sẽ có nguy cơ sụp đổ, trừ khi chúng ta, những kẻ hậu sinh, cung cấp những cột trụ mới, nhưng lấy từ đâu?, - từ những tảng đá rắn chắc của lý trí tỉnh táo. Sự cuồng nhiệt (passion) đã giúp chúng ta một thời, nhưng có thể nguy hiểm trong tương lai. Lý tính (reason), lý tính tỉnh táo, được suy tính và không cuồng nhiệt, sẽ cung cấp cho chúng ta các chất liệu cho sự hỗ trợ và bảo vệ tương lai. Hãy để các chất liệu ấy hun đúc thành trí khôn đầy đủ và đạo lý trong sáng trước tình yêu và sự kính trọng những quyền lợi tối thượng của tổ quốc. Chúng ta không cho phép các đôi chân thù địch dẫm lên hay báng bổ chỗ an nghĩ thiêng liêng của những anh hùng liệt sĩ dân tộc, hay đánh thức họ dậy.

Thực tế, Abraham Lincoln đã sống đúng với những gì ông đã viết, và ông là một cột trụ không lay chuyển được của lịch sử Hoa Kỳ.

Các bạn sinh viên trẻ hãy chứng tỏ rằng tương lai đất nước này thuộc về các bạn, rằng các bạn sẽ cung cấp cho đất nước này mỗi người mỗi cách những cột trụ vững chắc mới để chống đỡ, thì đất nước mới được vững bền!

Xin chúc các bạn trẻ hãy gìn giữ lý tưởng cho đường xa. Không phải “lấy ngắn nuôi dài” như người ta thường nói về cách làm ăn của những người nghèo, điều đó thông cảm, mà ngược lại “lấy dài, lấy lý tưởng vô hạn của các bạn,để nuôi dưỡng các bước chân hữu hạn trên đường xa” của những người giàu,rất giàu lý tưởng, đểchúng ta trở lại những ý tưởng cao cả ban đầu của nhà thơ Rumi!

TS. Nguyễn Xuân Xanh
----------------------------------------------------------
Chú thích:

(1) Tác giả đã cố ý không để những lời của Abraham Lincoln vào ngoặc kép theo như thông lệ của trích dẫn, bởi đây không phải là thuần trích dẫn, mà tác giả chỉ lấy những đoạn thích hợp cho Việt Nam, và ở một vài nơi, tác giả cũng đã "trước tác" đôi chút cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, mà vẫn giữ được tinh thần của Lincoln.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Bức thư Abraham Lincoln gửi thầy giáo của con trai

Abraham Lincoln - tổng thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1861-1865) nổi tiếng là một diễn giả tài giỏi. Ngay sau khi ông qua đời ngày 15-4-1865 do bị ám sát, rất nhiều người đã tiến hành sưu tầm những bài diễn văn, bài phát biểu, những lá thư của ông. Số di cảo này giúp người đọc hiểu được nhiều sự kiện lịch sử và mang lại một hình ảnh sâu đậm về cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln. Ngoài bộ tiểu sử Abraham Lincoln gồm 6 tập của Carl Sandburg, thì những công trình được thực hiện công phu là The papers of Abraham Lincoln do Illinois Historic Preservation Agency thực hiện, Collected Words of Abraham Lincoln của Hiệp hội Abraham Lincoln, và Recollected Words of Abraham Lincoln của Don và Virginia Fehrenbacher (Stanford, năm 1996). Riêng Hiệp hội Abraham Lincoln không chỉ sưu tập, biên soạn thư và những bài phát biểu của ông mà còn đưa ra danh sách những câu nói, những bài phát biểu, những lá thư gây nhiều tranh cãi là có phải của ông hay không. Lá thư gửi thầy hiệu trưởng của Abraham Lincoln mặc dù hãy còn tranh cãi, nhưng rất phổ biến và được nhiều người biết đến. 
 ***

"Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một con người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ ghét bỏ ta thì ta lại có một người bạn.

Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đô la nhặt được trên hè phố…

Xin thầy hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ.

Xin dạy cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ bị đánh bại nhất…

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách… nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Xin thầy dạy cho cháu biết rằng thà bị điểm kém vẫn hơn là gian lận trong thi cử.

Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã và cứng rắn với những kẻ thô bạo.

Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã.

Xin hãy dạy cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình…

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông đang gào thét… và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng…

Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện nên được một con người cứng rắn.

Xin hãy giúp cháu có được sự dũng cảm để không dung thứ sự sai trái, và giúp cho cháu có được sự bền chí để là người dũng cảm. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân mình, bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy. Nhưng xin thầy cố gắng hết sức mình, nếu được vậy, con trai tôi quả thật là một cậu bé hạnh phúc và may mắn".

Hạnh Ngân (dịch)

Nguyễn Hưng Quốc: Suy nghĩ có tính phê phán

Ngoài đời cũng như trên báo chí, kể cả trên blog này, một số người hay đề cập đến vấn đề suy nghĩ có tính phê phán (critical thinking). Tuy nhiên, nghe hay đọc họ, rất hiếm khi chúng ta bắt gặp bất cứ dấu hiệu nào cho thấy họ có khả năng, thậm chí, thiện chí để suy nghĩ có tính phê phán. Ngược lại, trong hầu hết các trường hợp, chúng ta chỉ bắt gặp những lối suy nghĩ rất cảm tính, hơn nữa, hoàn toàn nô lệ theo quán tính.

Đọc, thấy một câu nào đó không vừa ý đã nhảy nhổm lên phản đối, bất kể lập luận chung của toàn bài, nhất định không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán. Bất đồng với ý kiến nào đó bèn lôi tác giả ra chửi cũng nhất định không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán. Thậm chí, đọc mà chỉ chăm chăm tìm cách để phản bác hay phê phán cũng không phải là lối suy nghĩ có tính phê phán.

Chữ “phê phán” (critical), trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh, dễ gợi liên tưởng đến sự chê bai, bới móc, nghĩa là thiên về ý nghĩa tiêu cực. Thật ra, không phải. Lối suy nghĩ có tính phê phán, ngược lại, bao giờ cũng xuất phát từ thiện chí muốn tìm sự thực bằng cách lục lọi chứng cứ và thay đổi góc nhìn để xác minh tính chính xác của một ý kiến trước khi tin tưởng hoặc chấp nhận.

Trong cuốn “Critical Thinking and Everyday Argument” (Southbank: Thomson – Wadsworth, 2005), Jay Verlinden (tr. 18-19) điểm qua các định nghĩa nổi tiếng về lối suy nghĩ có tính phê phán từ trước đến nay, và nhận ra tất cả các các định nghĩa ấy đều nhấn mạnh đến năm đặc điểm chính: Một, nó có tính chủ động và tự giác cao; hai, nó liên quan đến ý tưởng và niềm tin; ba, nó tập trung chủ yếu vào lý tính và lý luận; bốn, nó giúp hình thành các phán đoán; và năm, nó gắn liền với một số kỹ năng nhất định. Jay Verlinden bổ sung thêm hai đặc điểm nữa: Thứ nhất, suy nghĩ có tính phê phán được áp dụng không phải đối với các ý tưởng của người khác mà còn đối với cả các ý tưởng của chính mình; và thứ hai, nó nhắm đến việc tiếp cận chân lý chứ không phải chỉ nhằm khẳng định những điều chúng ta đã tin tưởng từ trước.

Nói một cách tóm tắt, suy nghĩ một cách có tính phê phán là không phủ nhận cũng không chấp nhận bất cứ một ý kiến nào ngay trước khi chúng ta có đầy đủ bằng chứng và đã đi hết con đường lý luận để cảm thấy mình thực sự được/bị thuyết phục. Nói gọn hơn nữa, suy nghĩ có tính phê phán, trước hết, là một nghệ thuật đặt câu hỏi.

Xuất phát điểm của lối suy nghĩ có tính phê phán là nhiệt tình truy tìm sự thật và sự hoài nghi. Nên lưu ý: hai điểm này lúc nào cũng gắn liền với nhau. Nhiệt tình rất dễ biến thành một sự nhẹ dạ nếu không đi liền với sự hoài nghi. Nhưng nếu thiếu nhiệt tình đối với sự thật, sự hoài nghi chỉ dẫn đến thái độ phủ nhận sạch trơn để khư khư giữ lấy những thành kiến cũ kỹ cố hữu vốn rất thường thấy ở những kẻ lười biếng, cố chấp và cuồng tín.

Một sự hoài nghi gắn liền với nhiệt tình tìm kiếm sự thật như vậy không những là khởi điểm của lối suy nghĩ có tính phê phán mà còn là của kiến thức nói chung. Thánh Anselm, một nhà tư tưởng lớn thời Trung cổ, tuyên bố “Tôi hoài nghi, vậy tôi biết”. Lời tuyên bố ấy gợi hứng cho một câu nói khác, nổi tiếng hơn, của Descartes: “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”. Xin lưu ý: với Descartes, khởi thuỷ của cái gọi là tư duy ấy cũng là sự hoài nghi, hay nói theo chữ của ông, một thứ hoài nghi hệ thống (systematic doubt) hoặc hoài nghi khoa học (scientific doubt), sau này gắn liền với tên tuổi của ông: “Cartesian doubt”. Một thứ hoài nghi như vậy, thật ra, đã manh nha từ thời cổ đại với Socrates, người không ngừng đặt câu hỏi. Đặt câu hỏi về các khái niệm. Đặt câu hỏi về các tiền đề đằng sau các khái niệm ấy. Lúc nào cũng hỏi. Hỏi trở thành một trong những bài học lớn nhất mà Socrates để lại cho đời: “Socratic Questioning”.

Những bài học của Socrates và của Descartes không phải dễ thực hiện.

Trước hết, hoài nghi là một hành vi chống lại quyền lực. Theo Michel Foucault, bất cứ kiến thức nào cũng là quyền lực. Những điều chúng ta biết và tin, dù sai lầm và ấu trĩ đến mấy, cũng thường gắn liền với một số truyền thống nào đó. Mà truyền thống cũng lại là quyền lực: quyền lực của đám đông, và sau đám đông, quyền lực của cơ chế, từ các cơ chế xã hội đến các cơ chế chính trị, tất cả đều nhắm tới việc duy trì sự ổn định dựa trên tính ngoan ngoãn của con người.

Quan trọng hơn, hoài nghi cũng là một hành vi chống lại chính mình: cái “mình” nào cũng chủ yếu là sản phẩm của một nền văn hoá và một nền giáo dục nhất định, trong đó, có vô số điều không chính xác hoặc không còn chính xác nữa. Cái “mình” ấy cũng bị chi phối bởi vô số yếu tố hoàn toàn nằm ngoài lý trí và lý tính, những yếu tố hoặc mang tính bản năng hoặc gắn liền với thành kiến và quyền lợi. Bởi vậy, hoài nghi ít khi là một tính cách. Đó là một sự lựa chọn. Là một lựa chọn, hoài nghi cần sự tự ý thức, cần quyết tâm và cần tập luyện. Chỉ cần lơ đễnh một chút, người ta có thể đánh mất sự hoài nghi, nghĩa là, đánh mất sự suy nghĩ có tính phê phán, để trở thành nô lệ cho cảm tính và quán tính. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều người, lúc này hoặc trong lãnh vực này thì rất có tinh thần phê phán, nhưng lúc khác hoặc đi vào lãnh vực khác thì trở thành nhẹ dạ hẳn.

Ngoài hoài nghi, lối suy nghĩ có tính phê phán còn một nguyên tắc khác nữa: lúc nào cũng cần chứng cứ. Theo nguyên tắc này, không có gì có thể được chứng minh là đúng nếu chưa có đầy đủ chứng cứ. Nhưng chứng cứ không phải là những gì có sẵn. Người biết hoặc muốn suy nghĩ có tính phê phán bao giờ cũng, trước hết, là người có khả năng tìm kiếm thông tin và biết cách xử lý thông tin. Cái gọi là xử lý thông tin ấy bao gồm bốn việc: một, xác minh tính khả tín của thông tin; hai, phân tích để tìm kiếm các quan hệ tiềm ẩn bên trong các thông tin ấy; ba, diễn dịch để tìm kiếm ý nghĩa đích thực của các thông tin ấy; và bốn, tập hợp các thông tin ấy lại theo một trật tự nhất định nào đó để tạo nên một khối tư liệu thống nhất nhằm chứng minh cho một luận điểm nào đó.

Nguyên tắc thứ ba của lối suy nghĩ có tính phê phán là phải tin cậy vào lý trí, nghĩa là: một, chỉ tập trung vào ý tưởng và sự kiện chứ không phải là con người; hai, phải tuân thủ các quy luật luận lý: không tự mâu thuẫn, không khái quát hoá vội khi chưa đủ chứng cứ, không nguỵ biện, v.v…

Nguyên tắc thứ tư là không được thành kiến. Là không được có kết luận trước khi đi hết con đường lý luận. Điều đó có nghĩa là, để suy nghĩ có tính phê phán, chúng ta phải thực sự trong sáng và cởi mở, hơn nữa, can đảm để sẵn sàng chấp nhận một trong hai điều vốn rất khó được chấp nhận trong hoàn cảnh và tâm lý bình thường: một, chấp nhận điều thoạt đầu mình tin hoặc muốn tin là sai; và hai, chấp nhận một ý kiến khác thoạt đầu mình không tin hoặc không thích, có khi xuất phát từ một kẻ hoặc một lực lượng thù nghịch, là đúng.

Dĩ nhiên, lối suy nghĩ có tính phê phán còn một số nguyên tắc khác. Nhưng kể thêm các nguyên tắc ấy, theo tôi, không quan trọng bằng nhấn mạnh lại điều này: Trong khi suy nghĩ là một điều tự nhiên (ai cũng suy nghĩ, ngay cả một đứa cực kỳ ngốc!), suy nghĩ có tính phê phán lại chỉ có thể là kết quả của giáo dục: Đó là điều người ta phải học và phải tập thường xuyên. Ngay từ nhỏ. Và kéo dài cả đời.

Nhưng học và tập không phải chỉ là chuyện của cá nhân. Cả hai đều gắn liền với hai môi trường: giáo dục và xã hội. Cả giáo dục và xã hội đều gắn liền với một yếu tố khác nữa: chính trị.

Có những nền chính trị sẵn sàng treo cổ những người suy nghĩ có tính phê phán.

Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

Định nghĩa lại sự thờ ơ

Rồi sẽ có lúc bạn rơi vào một hoàn cảnh thế này. Đó là những trận cười lan truyền. Trong một căn phòng lớn, mọi người đang yên tĩnh, bỗng có một, rồi hai ba người phá ra cười. Trận cười lây lan cực kỳ nhanh. Rồi tất cả mọi người cùng cười. Bạn không hiểu gì cả, nhưng rồi bạn cũng phá ra cười, cười như nắc nẻ, dù thật lòng bạn không biết người ta đang cười điều gì.

Các nhà sản xuất phim ảnh đã khéo léo lồng ghép hiện tượng trên vào những bộ phim hài hước, thông qua những tiếng cười nhân tạo. Ngày nay, có lẽ sẽ không còn ai tỏ ra lạ lẫm với những tiếng cười thu âm rồi phát lại. Người ta đã quá quen thuộc với chúng, thế nhưng không ai phản đối. Tiếng cười nhân tạo trong các bộ phim sitcom thực ra có công dụng thế này: Trong một tích tắc khi không chắc chắn rằng tình huống trên phim thực ra có buồn cười hay không, tiếng cười nhân tạo sẽ buộc bạn phải cười như thể đó là một tình huống rất đáng buồn cười. Đó là lý do dù các kỹ xảo ngày càng trở nên quen thuộc với công chúng, những tiếng cười nhân tạo vẫn là phần không thể thiếu trong các bộ phim hài công chiếu trên truyền hình hay trong rạp chiếu bóng.

Một hiện tượng tương tự có thể được thấy ở các ngã tư. Người tham gia giao thông chắc hẳn không ít lần bực mình vì những tình huống kẹt xe khởi đầu bằng một đám đông hiếu kỳ. Họ dừng lại, chẳng để làm gì cả. Họ dừng lại, chỉ để dừng lại; họ dừng lại vì những người khác dừng lại. Chẳng để làm gì cả. Tất cả chỉ bởi vì những người xung quanh họ dừng lại.

Tất cả những điều trên đều dẫn tới một nhận định rằng: Khi không thực sự rõ ràng về những gì diễn ra, con người thường bắt chước theo hành động của những người xung quanh. Chúng ta sợ khác người, chúng ta sợ bị cô lập. Chúng ta sợ hành động của mình dẫn tới những hậu quả xấu vì sự thiếu hiểu biết. Và để an toàn, chúng ta chọn cách bắt chước như những cỗ máy.

Rất nhiều vụ tai nạn giao thông chết người đã diễn ra theo một kịch bản thế này: Người bị nạn nằm giữa đường và đám đông hiếu kỳ đứng bu xung quanh. Nguyên nhân không phải sự vô cảm, sự thờ ơ lạnh nhạt, mà chính là do nhận định đáng sợ này: Giả sử bạn là một người khách qua đường, và một người bị nạn trước mặt bạn. Anh ta là ai? Anh ta có thực sự gặp nguy kịch? Có cần thiết phải ngay lập tức đưa anh ta đến bệnh viện hay bạn bè anh ta sẽ đến ngay bây giờ? Anh ta đã chết chưa? Anh ta có muốn bạn là người đưa anh ta đi bệnh viện, hay đây là một màn giả vờ quá chân thực? Có nên gọi người nhà anh ta không? Trong đầu bạn sẽ hiện lên hàng loạt các câu hỏi như vậy. Bạn không biết điều gì đang thực sự diễn ra. Trong một tích tắc bạn bắt đầu tham khảo hành động của những người xung quanh – nhưng trớ trêu thay, những người khác cũng có cùng một suy nghĩ hệt như bạn. Kết quả, chúng ta có một đám đông đứng quây tròn. Chẳng ai làm gì cả. Chẳng một ai làm gì cả.

Đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến những xã–hội-câm-lặng. Bạn có bao giờ phê phán những nhà „đạo đức giả“ thường xuyên bày tỏ lòng cảm thông với những trường hợp khó khăn trên mạng nhưng lại chẳng làm gì ngoài đời chưa? Đừng vội cho rằng họ giả tạo, nước mắt cá sấu (hay một từ ngữ cay nghiệt nào đó). Vấn đề ở đây là, trên internet, chúng ta luôn biết chắc chắn về hoàn cảnh của một người (ít nhất là theo cách viết của những nhà báo) và hành động của chúng ta không gây những tác động trực tiếp lên cho họ (kể cả hành động gửi tiền quyên góp). Ở ngoài đời thì khác, chúng ta không thực sự chắc chắn rằng liệu họ có cần sự giúp đỡ của chúng ta hay không. Nếu chúng ta biết chắc rằng họ cần sự giúp đỡ, tôi tin rất nhiều người sẽ sẵn lòng ra tay. Vấn đề là, chúng ta không biết.

Bạn cũng có thể nhận thấy rõ ràng sự khác biệt thế này: Khi bạn cần sự giúp đỡ, bạn tỏ ra yếu đuối, bạn viết một vài entry sầu não, thậm chí ở những hoàn cảnh tệ hại hơn khi bạn đang ở trong một cơn nguy kịch, bạn mong có ai đó để ý hỏi thăm mình – nhưng chẳng có ai cả. Khi rơi vào tình huống này, tôi khuyên bạn đừng rụt rè mà hãy gọi thẳng tên những người bạn cần từ họ sự giúp đỡ. Nếu họ là bạn của bạn, bạn sẽ ngạc nhiên thấy sự thờ ơ của họ đã biến mất. Họ đã biết chắc rằng BẠN CẦN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA HỌ.

Quy luật này chi phối tất cả. Khi bạn ngồi yên, bạn không làm gì cả - điều đó không hẳn có nghĩa là bạn sợ chết hay tìm kiếm sự an nhàn. Đáp án có lẽ là, bạn chưa biết chắc rằng liệu những gì mình tin có THỰC SỰ đúng đắn.

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More