"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Nhật Bản giáo dục đạo đức cho học sinh như thế nào?

Nhật Bản từ lâu đã được biết đến như một đất nước an toàn và hiện đại. Sau trận sóng thần tháng 3/2011, báo chí phương Tây đặc biệt ca ngợi cách ứng xử của người Nhật: dù trải qua thảm họa, nhiều người rơi vào tình cảnh mất nhà, mất người thân, thiếu đồ ăn thức uống, nhưng tình trạng hôi của, cướp giật, hỗn loạn không diễn ra như tại nhiều đất nước khác. Ngoài gia đình, nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo các thế hệ công dân có cách hành xử đúng mực, văn minh. Liệu nền giáo dục Nhật Bản có bí quyết gì? Bài viết sẽ cung cấp những thông tin về cách giáo dục đạo đức (道徳 | Doutoku) trong nhà trường tại Nhật Bản.

Lịch sử 

Theo Bách khoa Toàn thư Triết học Stanford, “đạo đức” là “các quy tắc hành xử được một xã hội thống nhất và chấp nhận, và đóng vai trò hướng dẫn hành vi cho tất cả thành viên trong xã hội đó”. Giáo dục đạo đức tại Nhật có lịch sử lâu đời, có thể bắt nguồn từ thời Tokugawa (1603-1868). Trong giai đoạn này, trẻ em học Đạo Khổng tại các trường Terakoya (dành cho con cháu tầng lớp samurai) và Hankou (dành cho các trẻ còn lại). Giáo dục đạo đức được kéo dài tại Nhật, và giai đoạn Hiện đại bắt đầu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (WW II). Tháng 3 năm 1947, “Luật căn bản” (Fundamental of Law) tại Nhật quy định giáo dục đạo đức là một phần bắt buộc trong xã hội dân chủ.

Mẫu giáo

Các lớp học về đạo đức tại Nhật chính thức bắt đầu từ tiểu học, thế nhưng ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã được học các quy tắc ứng xử căn bản. Người Nhật đặc biệt chú trọng các câu chào hỏi, xin lỗi, và cám ơn. Mỗi buổi sáng, trẻ xếp hàng trong lớp, trịnh trọng chào giáo viên trước khi bắt đầu ngày mới. Trong quá trình học và chơi, trẻ được hướng dẫn và nhắc nhở sử dụng các câu cám ơn và xin lỗi trong các tình huống phù hợp.

Trẻ em Nhật tuần tự xếp hàng đi vệ sinh
Đến giờ ăn, trẻ được phân công phục vụ đồ ăn cho các bạn: giáo viên sẽ múc thức ăn vào bát, đổ sữa vào ly; và trẻ sẽ bưng đến bàn của các bạn. Trẻ mặc đồng phục như một người chăm nuôi thật sự. Sau đó, những trẻ phục vụ của ngày sẽ tập trung đứng trước lớp và đồng thanh chúc các bạn ăn ngon miệng, và các bạn sẽ đồng thanh cám ơn. Trước khi ăn, người Nhật nói “Itadakimasu” (Tôi biết ơn vì được nhận đồ ăn), sau khi ăn sẽ nói ”Gochisosamadeshita” (Cám ơn vì bữa ăn), và hai điều này cũng được hướng dẫn ngay từ mẫu giáo.

Trẻ em Nhật mặc đồng phục và phục vụ bữa ăn cho các bạn

Trẻ em từ 3 tuổi trở lên được hướng dẫn tự ăn mà không cần người lớn bới, tự đem khay sau khi ăn đến nơi dọn dẹp, tự mặc quần áo, tự trải ga trải giường, tự gấp gối và nệm sau giấc ngủ trưa. Có thể nói, ngay từ cấp mẫu giáo, trẻ đã được học những bài học quan trọng đầu tiên về cách ứng xử lịch thiệp (lời cám ơn và xin lỗi), tinh thần trách nhiệm với công việc (mặc đồng phục), chia sẽ trách nhiệm trong tập thể (lần lượt đảm nhiệm việc phục vụ đồ ăn), và sự tự lập (tự phục vụ bản thân). 

Tiểu học và Trung học

Theo Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, và Công nghệ Nhật Bản (MEXT), mục đích của môn đạo đức  tại các trường tiểu học bao gồm giảng dạy về hành vi trong đời sống hàng ngày, sự cảm nhận và phán đoán về đạo đức, phát triển nhân cách và thái độ sáng tạo, sự nhận thức về tầm quan trọng của cách ứng xử văn minh trong việc xây xựng đất nước. Lên cấp hai, các chủ đề được mở rộng cho phù hợp với sự phát triển tâm lý của học sinh, bao gồm các chủ đề như cách phản ứng đối với lời phê bình, sự hiểu biết và tôn trọng giới tính, thái độ tôn trọng sự thật, v.v.

Theo quy định của MEXT, đến khi tốt nghiệp cấp hai (lớp 9) – bậc giáo dục phổ thông bắt buộc tại Nhật; mỗi học sinh đã trải qua các lớp đạo đức kéo dài 45 phút (cấp 1) và 50 phút (cấp 2) mỗi tuần (tương đương với 35 giờ học mỗi năm). Năm 2002, MEXT xuất bản “Ghi chú Trái tim” (Kokoro no Noto), một sách tham khảo dành cho giáo viên.

Tuy Đạo đức là môn bắt buộc, tuy nhiên MEXT không có quy định thống nhất về nội dung chương trình, sách giáo khoa và điểm số. Điều này giúp giáo viên linh hoạt thiết kế bài giảng cho phù hợp với học sinh. Ví dụ, giáo viên có thể sử dụng sách tham khảo “Ghi chú trái tim” hay chuẩn bị các tài liệu khác. Các chủ đề bao gồm phân biệt đối xử người thiểu số, tình bạn, bắt nạt học đường, vai trò giới tính, v.v. Hoạt động lớp học bao gồm các bài giảng, thảo luận các câu hỏi như “Liệu việc một người đàn ông khóc có được xem là hành vi được chấp nhận?”, “Nếu bạn ngồi một mình trong lớp, em sẽ làm gì?”, đến việc giải thích các thành ngữ, thăm quan bảo tàng, viết những lá thư ẩn danh miêu tả những điểm tốt về các bạn cùng lớp.

Ngoài ra, đạo đức cũng được nhấn mạnh trong các bộ môn giáo dục khác tại trường. Một vài ví dụ về mục tiêu các môn học như sau:
  •  Tiếng Nhật: Phát triển khả năng hiểu và sử dụng tiếng Nhật, phát triển đam mê và sự tôn trọng dành cho tiếng Nhật (Mục tiêu chung, Lớp 7)
  •  Khoa học: Giúp trẻ nhận thức về sinh vật dưới tác động môi trường, phát triển thái độ tôn trọng sự sống, nghiên cứu sự phát triển và cấu trúc cơ thể của sinh vật (Lớp 5)
  •  Giáo dục thể chất: Phát triển tinh thần “fair-play” khi cạnh tranh và hợp tác, sẵn sàng tuân theo quy định và hoàn thành trách nhiệm thông qua việc hơp tác (Trung học).

Hoạt động ngoại khóa

Quan trọng không kém là việc giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoại khóa. Một trong những hoạt động phổ biến tại Nhật là việc tổ chức các Lễ hội thể thao trườngmỗi năm, bắt đầu từ  tiểu học. Tất cả học sinh được yêu cầu tham gia với tư cách vận động viên hay cổ động viên. Gia đình cũng được khuyến khích tham gia.

 Bắt đầu từ trung học, các trường tổ chức nhiều câu lạc bộ thể thao, âm nhạc, và các câu lạc bổ theo sở thích khác. Học sinh Nhật đặc biệt xem trọng các hoạt động ngoài giờ không kém các lớp học chính thức. Chính những hoạt động tập thể này sẽ giúp học sinh hiểu rõ về sự tập trung, nỗ lực vì bản thân, phát triển khả năng hợp tác và làm việc nhóm, cũng như cách giải quyết các mâu thuẫn tập thể.

Ngoài ra, một trong những hoạt động ngoài giờ phổ biến ở tiểu học là việc chăm sóc chậu cây nhỏ. Hàng ngày, học sinh sẽ lần lượt thay phiên trực nhật, quét dọn lớp học, và các khu vực công cộng  như sân bóng rổ, cầu thang, hành lang lớp học, v.v. Các hoạt động này sẽ giúp học sinh hiểu về trách nhiệm với bản thân, chăm sóc người thân, và việc chia sẽ trách nhiệm với cộng đồng.

Cải cách giáo dục

Tuy Nhật có hệ thống giáo dục đạo đức khá hiệu quả, không thể phủ nhận nhiều vấn đề nhức nhối vẫn xảy ra trong phạm vi trường học. Một vấn đề nổi cộm hiện nay là nạn bắt nạt. Tháng 2/2013, một dự thảo cải cách giáo dục được đề trình lên chính phủ thủ tướng Abe Shinzo. Một điểm quan trọng của dự thảo này là việc đưa môn Đạo đức trở thành bộ môn chính thức với sách giáo khoa, nội dung chương trình, và cách đánh giá thống nhất.
Tuy nhiên, dự thảo này gặp không ít phản đối và nghi ngại. Vấn đề bất cập đầu tiên là điểm số. Đối với Đạo đức, một khái niệm không có câu có trả lời tuyệt đối đúng sai, thì việc áp dụng những phương pháp đánh giá truyền thống như trắc nghiệm, đúng-sai sẽ không phù hợp.

Điều bất cập thứ hai là thiếu nhân lực. Đạo đức hiện đang được giảng dạy bởi các giáo viên chủ nhiệm đang đứng lớp. Nếu Đạo đức trở thành bộ môn chính thức, điều này sẽ tạo thêm nhiều áp lực và khối lượng công việc cho các thầy cô. Ngược lại, nếu đào tạo lớp giáo viên mới cho bộ môn này, liệu các thầy cô trẻ không có kinh nghiệm có thể truyền đạt các bài học vốn cần nhiều kinh nghiệm sống một cách hiệu quả?

Điều bất cập thứ ba là nội dung chương trình mới có thể bao gồm chủ nghĩa dân tộc (nationalism) và chủ nghĩa yêu nước (patriotism), vốn được thủ tướng Abe xem trọng. Sau Chiến tranh thế giới thứ 2 (WWII), hầu hết người Nhật đã mất lòng tin vào chính phủ vốn theo chủ nghĩa quốc gia cứng rắn. Chính vì thế, việc đưa chủ nghĩa quốc gia vào môn Đạo đức gặp nhiều sự phản đối. Một sinh viên nhận xét, chủ nghĩa quốc gia nên đưa vào môn Đạo đức dưới dạng khuyến khích học sinh yêu thích và tìm hiểu về các giá trị văn hóa truyền thống Nhật Bản như trà đạo hay các môn võ thuật, thay vì giới thiệu về chủ nghĩa quốc gia một cách đơn thuần.

Chúng ta làm được gì?

Đạo đức đã và đang được giảng dạy khá hiệu quả tại Nhật. Ba đặc điểm nổi bật của phương pháp giáo dục đạo đức bao gồm sự linh hoạt trong phương pháp và nội dung giảng dạy của giáo viên, nội dung phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý theo độ tuổi của học sinh, và giáo dục gắn liền với thực hành và đời sống qua các hoạt động ngoại khóa. Điều này khiến chúng ta đặt câu hỏi liệu Đạo đức và Giáo dục công dân giảng dạy tại Việt Nam có hiệu quả khi thiếu các hoạt động thực hành, nội dung chương trình dựa quá nặng vào triết học chưa phù hợp với lứa tuổi học sinh cấp ba, và hình thức kiểm tra dựa vào trắc nghiệm? Liệu chúng ta có thể học hỏi gì về hình thức giáo dục tại Nhật và thay đổi cho phù hợp để áp dụng nâng cao hiệu quả cho việc giảng dạy bộ môn giáo dục Đạo đức và Công dân tại Việt Nam? – Đây là điều rất đáng quan tâm và suy nghĩ.

Lan T
Bài viết dựa vào kinh nghiệm thực tế tham quan tại trường mẫu giáo tại Miyazaki và thông tin từ phỏng vấn với năm sinh viên Đại học Nagoya.

Trí thức nửa mùa

Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa.

Theo tôi tầng lớp trí thức nửa mùa được hình thành từ một kiểu người đặc biệt và tương đối phổ biến. Trước hết đấy là người có học, có văn hóa, lại thường giữ chức vụ chứng tỏ những phẩm chất đó của anh ta. Nhưng nếu tiếp xúc lâu ta sẽ thấy: trình độ học vấn, kiến thức của anh ta không nhiều, nhu cầu văn hóa cũng thiếu hụt. Thực chất, dù có mang một vẻ hào nhoáng trí thức bên ngoài thì đấy cũng chỉ là một “kẻ thất phu” mà thôi.

Vâng, như một người trí thức, dĩ nhiên là anh ta quan tâm đến công việc xã hội. Tầm hiểu biết của anh ta dường như cũng vượt ra khỏi các nhu cầu và tính toán cá nhân nữa. Thế gọi là tầm hiểu biết. Thế gọi là có quan điểm về những chuyện đang xảy ra xung quanh! Thường là chỉ ở mức tán nhảm của mấy gã chợ trời mà thôi. Không cao hơn cũng không sâu hơn một tí nào.Một đặc điểm nữa - cũng là đặc điểm phân biệt anh ta với người trí thức chân chính- hoàn toàn không biết tư duy độc lập về các đề tài xã hội. Không, tư tưởng thì có thể có trong đầu, nhiều nữa là đằng khác, nhưng tất cả đều không phải của mình, tất cả đều là học mót được. Thái độ thuần phục giữ vai trò chủ đạo trong giới trí thức nửa mùa, đấy là quan điểm thịnh hành chung cho cả giai tầng này. Họ theo nó một cách tự tin vì những người này không thể tự nghĩ ra được quan điểm nào khác để thay thế cho nó. Tạo ra thái độ thuần phục là một việc đơn giản. Giới trí thức nửa mùa có đặc điểm là bao giờ cũng phải có thần tượng, những người có uy tín, những nhân vật để mà tôn sùng. Trong nước Nga xã hội chủ nghĩa thời gian qua, khi mà giới trí thức nửa mùa hình thành và phát triển, thì thần tượng của họ thường là những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và văn học- những người tích cực về mặt xã hội, có tinh thần phê phán- tranh luận về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa lĩnh hội quan điểm về hiện thực xung quanh từ những người như thế.

Một đặc điểm nữa của giới trí thức nửa mùa: thái độ hung hăng khi bàn về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa cho rằng mình là giai tầng đứng trên “quần chúng” và nói chung là đứng trên tất cả mọi thứ khác nữa. Giai tầng này có thói kiêu ngạo tập thể đặc thù và rất mạnh. Từ lâu họ đã tin tưởng rằng chỉ cần giao cho họ- giao cho những người đại diện của họ- quyền lực là mọi tai họa của đất nước sẽ được giải quyết ngay lập tức. Chứ còn gì nữa: họ chẳng phải là người truyền bá kiến thức đấy ư? Chẳng phải là những người có học nhất và thông minh nhất đang đứng trong đội ngũ của họ đấy ư?

Xin ghi nhận một tính chất nữa của giới trí thức nửa mùa: không chịu “tu thân’, đấy là nói theo cách ngày xưa. Không chịu đọc bất cứ một cái gì nghiêm túc, không chịu suy nghĩ một cách rốt ráo về bất cứ đề tài nào. Thường thì công việc tư duy độc lập được thay thế bằng việc nghe lỏm ý kiến và đánh giá của các nhân vật có uy tín và tuân theo một cách vô điều kiện. Có lẽ, ít nhất là một phần, sự lười biếng và thụ động về trí tuệ như thế là do giới trí thức nửa mùa thực sự tin rằng mình đã là trung tâm của kiến thức rồi. Nếu không cần cố gắng mà vẫn là trung tâm thì cố gắng để làm gì?

Cuối cùng, trí thức nửa mùa còn có đặc điểm nữa là tự ái về chính trị, một đặc điểm đương nhiên một khi người ta đã đánh giá mình cao đến như thế. Hóa ra là thế này: chúng tôi biết hết, chúng tôi có thể làm được tất- thế mà chúng tôi bị gạt ra khỏi quyền lực, ở đó chỉ toàn các “quan chức”, “toàn bọn quan liêu ngu dốt”, “tư duy hạn chế”. Đánh giá thấp về người khác và đánh giá quá cao về chính mình đã tạo ra thái độ tự ái về chính trị như một tâm trạng bền vững “nội tại” của giai tầng này. Đau đớn và phẫn nộ là thái độ thường trực của giai tầng đó.

Như vậy là trí thức nửa mùa chỉ là một kẻ giả danh trí thức. Hắn dùng bằng cấp, chức vụ và phô trương thái độ quan tâm đối với các vấn đề xã hội để đóng giả. Hắn đóng giả cả cách giải trí, cả thói đam mê mang tính phô trương về tất cả những gì gọi là “văn hóa” nữa. Đây hóa ra là chỗ dễ phân biệt trí thức nửa mùa nhất.

Thí dụ như trí thức nửa mùa lũ lượt đi nghe hòa nhạc trong nhạc viện. Đương nhiên là họ đặc biệt thèm khát được có mặt tại những buổi biểu diễn được mọi người chờ đợi- hiện diện tại những buổi biểu diễn của những diễn viên ngoại quốc hay nhạc sĩ tài danh. Nhưng sẽ thật thú vị nếu quan sát thái độ của đám trí thức nửa mùa này suốt buổi hòa nhạc đó. Họ cảm thấy cực kỳ chán nản! Đâu đâu cũng chỉ thấy những bộ mặt vô cảm, những ánh mắt đảo khắp khán phòng. Nhưng sau khi kết thúc thì đám đó lại nhiệt liệt vỗ tay, tỏ vẻ ngưỡng mộ, tôn kính diễn viên (nhạc sĩ). Có thể thấy bức tranh tương tự như thế trong một buổi triển lãm nghệ thuật có uy tín nào đó. Xếp hàng thì chen nhau, trong phòng thì uể oải, còn khi kết thúc thì lại tỏ ra ngưỡng mộ.

Xin đưa ra một phác thảo nữa- về khát vọng (giả tạo) của giới trí thức nửa mùa trong việc tìm hiểu hiện tình, nhu cầu và đặc điểm của đất nước. Nói rằng đấy là việc quan trọng thì trí thức nửa mùa lúc nào cũng sẵn sàng. Nhưng làm việc một cách nghiêm túc thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Thí dụ: cuối những năm 1980 có quyết định in toàn bộ tác phẩm của V. Kliuchevski (1) và S.Solovjov (2), hai nhà sử học lớn nhất của nước Nga trước cách mạng. Lạy Chúa tôi, tầng lớp trí thức nửa mùa đã bị kích động đến mức nào! Họ đã tỏ ra hân hoan, tuy có hơi sớm, đối với các tác giả, đặc biệt là đối với Kliuchevski, đến mức nào. Vì họ đã nghe nói ở đâu đó: đây là một nhà tư tưởng đặc biệt, một người hiểu rõ quá khứ của nước Nga. Thế là giới trí thức nửa mùa tìm mọi cách đăng ký mua. Mua bán trao tay, còn bọn đầu cơ thì hét giá đến 300 thậm chí 400 rub, một khoản tiền lớn thời đó. Mua được- rồi sao? Trong hàng chục người đã đăng ký (tất cả đều là những trí thức cả về học vấn lẫn địa vị, một số còn là những nhà hoạt động văn hóa nữa) tôi chưa thấy một người nào đọc! chưa một người nào! Mua về, đặt lên chỗ dễ thấy nhất- cho mọi người nhìn- thế là hết. Họ hết sức tự hào vì đã mua được những trước tác vĩ đại như thế. Lịch sử thì họ đã và vẫn đọc, nhưng không phải là thứ “nặng” như thế, chỉ là những cuốn sách phổ thông mà thôi.

Độc giả có thể thắc mắc: đấy có phải là một giai tầng không? Có phải là một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội không? Có thể đấy chỉ đơn giản là những người có học vấn trung bình mà ở đâu, đất nước nào, xã hội nào chả có? Đúng thế, ở đâu cũng có. Nhưng ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XX họ đã tạo thành một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội. Họ không còn là những cá nhân trôi nổi trong xã hội nữa. Tại sao?

Thứ nhất, họ đông đảo đến mức kinh ngạc. Lý do, theo tôi, là sự vội vã trong việc đào tạo hàng loạt, cụ thể là việc phát triển một cách ồ ạt, mang tính bề nổi các trường đại học- chuyên tu, tại chức… mà ngay chính quy hóa ra cũng “chưa đủ tầm”. Rất nhiều người có bằng đại học, mà cùng với bằng cấp là quyền lực tự coi là trí thức. Nhưng trên thực tế đấy chỉ là “nửa vời”. Thứ hai, điều này cũng không kém phần quan trọng, như đã nói bên trên, giai tầng này có thói kiêu ngạo chính trị: “Nếu có quyền chúng tôi có thể làm được hết”. Nguyên nhân của thái độ như thế không phải là điều bí mật. Một mặt, đấy là thái độ bất bình với môi trường sống đang ngày càng gia tăng trong toàn xã hội. Mặt khác, đấy là nhận thức cho rằng mình (do đông người và những quan niệm hời hợt) là một lực lượng mà “không có việc gì là khó” cả. Chỉ có những kẻ có suy nghĩ hời hợt mới có thái độ tự tin như thế vì họ quan niệm tất cả mọi thứ trên đời đều đơn giản… Do đó mà trong khoảng giao thời những năm 1980-1990 trong tâm trạng xã hội, bên cạnh tâm lý bất mãn chung đối với cuộc sống lại xuất hiện một xu hướng tự tin rất mạnh mẽ rằng dường như mọi việc đều cực kỳ đơn giản, có thể hoàn chỉnh và sửa chữa một cách dễ dàng. Niềm tin này chính dấu hiệu để phân biệt trí hức nửa mùa và cũng là ngọn cờ chiến đấu của họ.

Giới trí thức chân chính - những người lao động trí óc nghiêm túc, có nhiều kiến thức và có thói quen suy nghĩ độc lập - hoàn toàn xa lạ với thái độ ngang tàng như thế đối với các vấn đề phức tạp và quan trọng. Nhận thức được rằng mọi việc đều phức tạp và thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng là việc khó khăn, giới trí thức cảm thấy lo lắng và lúng túng. Nhưng trí thức nửa mùa thì, xin nhắc lại, lao vào chiến đấu.

Giai đoạn “cải tổ” ban đầu đã trở thành chất xúc tác cho các hoạt động chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa. Đất nước đang cần những thay đổi to lớn và nhanh chóng, đặc biệt là về kinh tế. M. Gorbachev, sau khi nhận thức được rằng những biện pháp thận trọng ban đầu sẽ không đem lại hiệu quả, buộc phải hướng về giới trí thức nửa mùa, phải dùng những kẻ đang khát khao những thay đổi như thế, mà cụ thể là những người làm việc trong lĩnh vực khoa học kinh tế và khoa học xã hội. Nhưng Gorbachev đã nhanh chóng bị rát mặt vì những lời cố vấn của họ. Là một người nhanh trí, ông lập tức nhận ra rằng những lời gợi ý và khuyến nghị của họ thường chỉ có tính cách nghiệp dư và chẳng mang lại kết quả gì, đằng sau cái vẻ khoa học và hiểu biết mang tính trang trí của các cố vấn thì tất cả những khuyến nghị đó chẳng có giá trị gì hết.

Nhân chuyện này tôi muốn quay lại với định nghĩa về giới trí thức. Người ta nói nhiều đến định nghĩa này đúng vào lúc giới trí thức nửa mùa bắt đầu ngoi lên. Giới trí thức nửa mùa đã đưa cuộc thảo luận đến kết luận rằng trí thức là người thiết tha với quyền lợi xã hội, chứ không phải quyền lợi cá nhân hạn hẹp, và tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội. Cách nhấn giọng như thế là có thể hiểu được. Nó ngầm kêu gọi ủng hộ giới trí thức nửa mùa vùng lên chống lại hệ thống, tiến hành đập tan hệ thống. Nhưng xin suy nghĩ thêm về định nghĩa này. “Thiết tha với quyền lợi xã hội” có phải là người trí thức không? Thế thì Hitler cũng được coi là người trí thức: hắn chả “thiết tha” đấy ư! Không, “thiết tha” không thể là tiêu chí được, tiêu chí phải là phẩm chất của cách tiếp cận với các vấn đề xã hội. Kiểu người, phương pháp tư duy, tính nghiêm túc, chiều sâu, trách nhiệm trước các hành động (nó còn là tính đạo đức nữa), kiến thức rộng do lao động miệt mài mà có. Và có thể không phải là vô tình mà người trí thức, tầng lớp trí thức lúc đó đã không được giải thích theo cách đó. Tác giả hoàn toàn không nhớ một trường hợp nào như thế. Nếu có thì giới trí thức nửa mùa đã lập tức bị đẩy ra khỏi tầng lớp trí thức, một giai tầng có uy tín của xã hội, ngay từ lúc đó.

Trí thức nửa mùa mang danh trí thức là một hiện tượng cực kỳ nguy hiểm, chứa đầy tai ương. Khi họ làm những công việc bình thường thì tai họa không phải là lớn (mặc dù dĩ nhiên là vẫn có: kém hiểu biết bao giờ cũng kéo theo hậu quả tiêu cực). Nhưng khi trí thức nửa mùa bắt tay vào làm việc lớn (đúng hơn là kiên quyết giành lấy vì thái độ tự tin của mình) thì tai họa là không thể tránh khỏi.

Mười năm vừa qua đã làm giới trí thức nửa mùa rúng động một cách mãnh liệt nhất, nó đã yếu đi nhiều, đa phần đã “tan đàn xẻ nghé”, chuyển sang những mối bận tâm khác và sử dụng những khả năng khác. Nhưng không được đánh giá thấp “khả năng quay về” đỉnh cao quyền lực chính trị của giới trí thức nửa mùa. Dù chỉ là vì một nhóm, sau khi đã leo lên hồi cuối những năm 1980- đầu những năm 1990 đang tìm mọi cách bám trụ, đã trở thành xu hướng hữu và cực hữu. Dĩ nhiên là trí thức nửa mùa đang và sẽ còn cố gắng thôi miên xã hội rằng họ biết cách giải quyết tất cả mọi vấn đề. Họ đang nói và còn tiếp tục nói một cách tự tin và xấc xược (hơn nữa, xin nhắc lại, chính họ-đúng hơn là nhiều người trong số họ - tin vào khả năng và sự đúng đắn của mình). Chỉ cần một phần dân chúng tin họ thì đấy sẽ là bi kịch không thể nào sửa chữa được.

Thật đáng tiếc là trong sự nghiệp cải cách, giới trí thức chân chính của chúng ta đã gần như bị giới trí thức nửa mùa say máu đỏ đen và xấc láo đẩy ra ngoài. Rất muốn tin rằng giới trí thức chân chính một lần nữa sẽ quay trở về với vai trò lịch sử của mình.

Oleshuk Iu.F (phó tiến sĩ sử học, cộng tác viên cao cấp Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Liên bang Nga.)
__________________________________________
* Bài đăng trên tờ Tư tưởng tự do thế kỷ XXI. Trích bản dịch của Phạm Nguyên Trường. Đọc đầy đủ xin xem cuốn "Về trí thức Nga", NXB Tri Thức 2009

(1) Kliuchevski V.O. (1841-1911) nhà sử học nổi tiếng người Nga.
(2) Solovjov S.M (1820-1879), nhà sử học người Nga, Hiệu trưởng trường ĐH Tổng hợp Moskva từ năm 1871 đến năm 1877

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

[Sách] Bài học Israel - Nguyễn Hiến Lê

Muốn hiểu tại sao dân tộc Do Thái sau hai ngàn năm vong quốc, phiêu bạt khắp thế giới mà vẫn hướng về Jérusalem, hễ gặp nhau là chúc nhau “sang năm về Jérusalem”; muốn hiểu tại sao một nhóm người rời rạc, ngôn ngữ bất đồng, huyết thống cũng khác xa nhau, mà lại đoàn kết với nhau, chống lại khối Ả Rập, chống lại cả với Anh để tái lập quốc gia của họ trên một dải đất nhỏ xíu và nguy hiểm đó? Nguy hiểm vì Israel quay lưng ra biển mà đương đầu với ba phía Ả Rập. Muốn hiểu hết điều đó thì phải hiểu qua lịch sử của dân tộc Do Thái và những nỗi đau khổ, tủi nhục mà họ phải chịu trong hai ngàn năm nay.

Cuốn sách "Bài học Israel" của học giả Nguyễn Hiến Lê sẽ đưa chúng ta đi từ những năm tháng người Do Thái còn lưu vong đến khi họ lập nước, giữ nước và phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Cuốn sách cũng trả lời cho chúng ta nguyên nhân cuộc xung đột dai dẳng giữa Palestine và Israel đến nay vẫn chưa chấm dứt.

Link download:

Những ngộ nhận về học thuyết Marx

Karl Marx (1818 - 1883)
Người ta đã nhân danh Marx sát hại trên dưới 100 triệu người. Thừa đủ để học thuyết Marx bị đưa vào thùng rác của lịch sử. Nhưng, hãy nghĩ lại : người ta đã nhân danh Thiên Chúa để giết hại không dưới 80 triệu thổ dân Mỹ Châu, chưa kể bao người vô tội tại các lục địa khác. Có cần đưa Thiên Chúa và Ky Tô Giáo vào thùng rác của lịch sử hay không ?

Học thuyết Marx đã được tôn sùng thái quá bởi những guồng máy tuyên truyền tại các quốc gia toàn trị, và bởi đội ngũ trí thức ngự trị trên trường tư tưởng tại các nước tự do. Người ta còn nhớ câu nói của Sartre: «những kẻ chống Cộng là đồ chó!». Ngày nay, đội ngũ trí thức quay lưng lại Marx, mặc dù chưa nhất quyết phải chạy theo cái gì. Trong sự trống vắng đó, dân chủ nghị trường cùng với kinh tế tự do mặc nhiên trở thành « điểm đến của Lịch Sử ». Như thể tất cả sẽ dừng lại ở đó : ở một hình thái dân chủ, và ở thị trường tự do. Điều quan trọng phải tự hỏi là : những vấn đề trọng đại của nhân loại có hy vọng được giải quyết bởi các phương thuốc này hay không ? Vấn đề môi sinh ô nhiễm, vấn đề chênh lệch giàu nghèo, vấn đề tài nguyên khánh kiệt … Địa cầu chỉ còn khoảng hơn 40 năm dự trữ dầu hoả, 70 năm khí đốt, 55 năm Uranium. Thêm vào đó, số lượng xe hơi và mức tiêu thụ năng lượng sẽ nhân đôi trong hai thập niên tới (1). Giả sử người ta thành công trong việc nâng cao mức sống của đại đa số dân trên thế giới hiện đang nghèo đói, đến mức ngang hàng với người dân Hoa Kỳ, thì tài nguyên của trái đất sẽ khánh kiệt trong vòng 10 năm, chưa kể đến vấn đề ô nhiễm. Thử tưởng tượng mọi người Trung Hoa đều có xe hơi, khói xe của họ sẽ làm ngộp thở toàn địa cầu !Dân chủ đại nghị, kinh tế duy lợi, có ngăn cản được người Trung Hoa mua xe hơi hay không ? Có bắt nổi người Hoa Kỳ, vô địch trong lãnh vực lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm, phải bớt tiêu thụ, bớt hao phí tài nguyên, bớt gây ô nhiễm, hay không ? Có bắt nổi người dân các nước giàu mạnh, phải giảm mức sống của mình để chia sẻ với nhân dân các nước nghèo đói hay không?

Marx cũng đã từng đứng trước một « điểm đến của Lịch Sử » ở thời ông. Xã hội thời Marx mang dấu ấn của cuộc cách mạng Pháp 1789. Với cuộc cách mạng ấy, người tư sản đã đoạt quyền kiểm soát xã hội, đã xây dựng một xã hội tư sản, rồi ngừng lại ở đó. Xã hội tư sản không có mục tiêu nào khác hơn là sự trường tồn của nó.Triết học của giai đoạn đó, triết học Hegel, đồng hóa Thiên Chúa với toàn thể sự Hiện Hữu. Sự vật là Thiên Chúa trong không gian, và Lịch Sử là Thiên Chúa trong thời gian. Người ta có thể phối trí và xây dựng sự vật một cách thuần lý, để đạt đến một Lý Tưởng, đến Thiên Chúa, và con đường đưa đến trạng thái Lý Tưởng ấy, là Lịch Sử. Ở cuối cuộc hành trình của Ý Niệm, là điểm đến của Lịch Sử.Ở đó, Lịch Sử sẽ vĩnh viễn ngừng lại. Theo Hegel, xã hội tư sản vào thế kỷ 19 chính là cái kết cuộc này của Lịch Sử. Marx đã trưởng thành trong bối cảnh tư tưởng ấy. Ông đã từng quan sát « điểm đến của Lịch Sử » thời ông, như chúng ta đang nhìn « điểm đến của Lịch Sử » ở thời chúng ta. Tất cả tư tưởng của ông không ngoài mục đích làm xoay chuyển trở lại cái bánh xe Lịch Sử đã bị coi như dừng lại ấy. Vì thế, tìm hiểu Marx, một cách chân thành, ngoài mọi thiên kiến, có thể là một nhu cầu tự nhiên ở vào thời đại của chúng ta.

Mặt khác, cũng có thể nói tìm hiểu Marx, ở thời chúng ta, bắt đầu bằng việc nhìn ra những ngộ nhận về Marx. Các guồng máy tuyên truyền, Cộng Sản cũng như chống Cộng, đã đưa vào đầu óc chúng ta quá nhiều xác quyết về Marx. Những xác quyết sai lầm. Xin nêu lên ở đây vài ngộ nhận nền tảng, để cùng bạn đọc suy xét.

MARX VÀ THUYẾT ĐỊNH MỆNH (Déterminisme)

Quan điểm của Marx cho rằng ý thức của con người bị điều kiện hóa bởi môi trường sống, thường bị hiểu như « định mệnh chủ nghĩa ». Ngộ nhận này đưa đến những tuyên bố dao to búa lớn vạch ra cái gọi là « đường đi tất yếu của Lịch Sử », trong đó con người chỉ hiện diện như một bộ phận trong guồng máy. Theo lý thuyết này, ý thức của con người bị điều kiện hóa bởi cuộc sống, mà cuộc sống chuyển hóa trong thời gian, lại chính là Lịch Sử, nên, trong dòng Lịch Sử, con người bị nắm cổ lôi đi, mất hẳn tính cách tác nhân, chủ động. Thuyết định mệnh chính là quan niệm tương lai chẳng là gì khác hơn là hiện tại được nối dài, được « suy diễn » từ những quy luật, từ sự vận hành một cách máy móc, của những « dữ kiện », bao gồm không những các dữ kiện vật chất,  mà cả ý thức, suy tư và hành động của con người. Với quan điểm này, cách mạng không còn chỗ đứng.Cách mạng đòi hỏi đoạn tuyệt với một hiện trạng, không thể là sự nối dài của hiện trạng cho dù với bất cứ « quy luật tất yếu » nào.

Khi Marx trình luận án tiến sĩ, vào năm 1841, lúc ông vừa 23 tuổi, với đề tài « Khác biệt giữa triết học thiên nhiên của Démocrite và của Epicure », Marx đã đứng về phía Epicure, chống lại quan điểm « định mệnh » của Démocrite. Thêm vào đó, ông vạch ra tương quan biện chứng giữa tự do sáng tạo và sự quy định của những điều kiện thực tế.  Nhiều năm sau, người ta đọc ông trong Tư Bản Luận : « Lịch Sử loài người khác với Lịch Sử thiên nhiên ở chỗ con người làm nên Lịch Sử của mình, chứ không phải thiên nhiên ». Đó là khía cạnh « Tự Do » trong sáng tạo. Nhưng ông cũng nói trong “Le 18 Brumaire de Louis Bonaparte” :  « Con người làm nên lịch sử của mình, nhưng con người không thể làm lịch sử một cách độc đoán, theo những điều kiện mà mình chọn lựa, mà ngược  lại, phải chiều theo những điều kiện trực tiếp kế thừa từ quá khứ ». Đó là khía cạnh « bị quy định » bởi thực tại. Chỉ nói đến khía cạnh « quy định » trong học thuyết Marx là phản bội Marx. Tinh hoa của tư tưởng của Marx là tổng hợp và vạch ra tương quan giữa hai yếu tố « tự do » và « quy định », trong tiến trình « sáng tạo Lịch Sử » của con người. Marx cho rằng sự khác biệt giữa nhà kiến trúc sư kém cỏi nhất và con ong tài ba nhất, là người kiến trúc sư xây dựng công trình của mình trong trí óc, trước khi thực hiện nó trong thực tế. Kết quả việc làm của nhà kiến trúc đã hiện hữu trong trí tưởng tượng của ông trước khi ông bắt tay vào việc (2). Hành động của con người thể hiện mục tiêu mà người ấy đã định trước trong ý thức của mình. Lịch Sử con người phát sinh từ ý thức ấy, ý thức dự phóng, ý thức mục đích. Tia sáng cùa cái « trí tuệ biết dự phóng » nơi con người chiếu rọi vào thời gian trước mặt, để cho thấy, không phải là một tương lai khả hữu duy nhất, mà nhiều tương lai khả hữu. Con người có khả năng chọn lựa giữa những tương lai khả hữu ấy. Không thấy đâu là « con đường tất yếu của Lịch Sử » cả ! Xã Hội Chủ Nghĩa hoàn toàn không có tính tất yếu ! Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ là một tương lai khả hữu. Tư Bản Chủ Nghĩa, sau khi đã cho hết những ưu điểm của nó, có thể đưa đến Xã Hội Chủ Nghĩa hay một cái gì khác.

Lồng trong thuyết định mệnh, quan điểm « kinh tế quy định tất cả », cũng thường  được gán cho Marx. Engels nói : « Chính Marx và tôi, phần nào phải lãnh trách nhiệm trong việc một số người trẻ nhiều khi gán cho khía cạnh kinh tế một tầm quan trọng quá đáng. Trước sự phủ nhận vai trò của kinh tế nơi những đối thủ của chúng tôi, chúng tôi đã phải nhấn mạnh đến khía cạnh ấy, và không  phải lúc nào chúng tôi cũng tìm ra được thời giờ, nơi chốn, và dịp thuận tiện để nêu lên chỗ đứng của những yếu tố khác (ngoài kinh tế), cùng tham gia vào tác động hỗ tương » (3).

Vấn đề « thượng tầng cấu trúc » cũng là một ngộ nhận thông thường đối với học thuyết Marx. Trong « Idéologie Allemande », Marx cho rằng : « … vì thế, luân lý, tôn giáo, siêu hình học (…) và những hình thái ý thức liên hệ, mất đi bề ngoài độc lập, tự hữu ». Người ta hiểu rằng chúng hoàn toàn bị quy định, như « đời sống quy định ý thức, không phải ý thức quy định đời sống » (4). Tuy nhiên Marx cũng nói :  « Điều khó hiểu, không phải là nhận  biết rằng nghệ thuật (Cổ) Hy Lạp (…) gắn liền với những hình thái phát triển của xã hội thời ấy. Khó khăn nằm ở chỗ nghệ thuật Hy Lạp vẫn đem lại cho chúng ta, ngày nay,  những cảm hứng mỹ thuật và vẫn còn (…) giá trị tiêu chuẩn, mô thức, không gì sánh được » (Contribution à la critique de l’économie politique). Nghệ thuật cũng thuộc « thượng tầng cấu trúc », và ở đây đã được Marx khảng định tính độc lập, trái với những gì người ta thường hiểu. Engels cũng đã điều chỉnh câu nói của Marx, rằng : « (thượng tầng cấu trúc) mất bề ngoài độc lập » (4), khi ông khẳng định tính « độc lập tương đối » của thượng tầng cấu trúc (3).

""Tôi cười nhạo những kẻ được gọi là "thực tế". Nếu môt người muốn sống như quỷ dữ, cứ tự nhiên làm điều đó, để rồi quay lưng lại với nhân tính và chỉ quan tâm tới sự công kích của bản thân mình." - Karl Marx
“Tôi cười nhạo những kẻ được gọi là “thực tế”. Nếu môt người muốn sống như quỷ dữ, cứ tự nhiên làm điều đó, để rồi quay lưng lại với nhân tính và chỉ quan tâm tới sự công kích của bản thân mình.” – Karl Marx


MARX VÀ CHỦ NGHĨA GIÁO ĐIỀU (DOGMATISME)

Không gì xa lìa học thuyết Marx hơn là chủ nghĩa giáo điều. Từ thiếu thời, Marx đã phá bỏ hai hình thái giáo điều chủ nghĩa, đó là : giáo điều chủ nghĩa duy tâm của Hegel, và giáo điều chủ nghĩa duy vật của Feuerbach. Feuerbach đảo ngược triết lý giáo điều duy tâm của Hegel, cho rằng trong triết học Hegel, con người đã  phóng cái Lý Tưởng trong tâm thức mình ra bên ngoài mình, để làm nên Thiên Chúa, rồi tôn thờ, chạy theo cái lý tưởng gọi là Thiên Chúa ấy. Đó là một hiện tượng « vong thân ». Ông cho rằng thay vì đi tìm Thiên Chúa, phải tìm lại con người, để chữa lành căn bệnh vong thân kia. Ông đảo ngược triết lý của Hegel, nhưng vẫn giữ cái khung giáo điều của triết lý ấy, thay thế  Thần Hoc bằng một « thần học » khác, một « thần học » duy vật. « Con người » mà Feuerbach muốn tìm lại, là một con người trừu tượng, không thật, lơ lửng trên cái không trung của một hệ thống triết học. Marx đem con người ấy vào xã hội, và gắn nó vào hiện thực bằng hành động. Vì con người hành động, nên con người tham dự vào cuộc sống, và với xã hội tính, con người có khả năng hành động tập thể. Con người hiện hữu bằng hành động, tác động trên hiện thực, nhưng cũng bị quy định bởi hiện thực. Gắn liền với hiện thực, bởi tương quan biện chứng, là chối bỏ « giáo điều chủ nghĩa ».

Thật vậy, khi đề ra một lý thuyết, Marx luôn xác định phạm vi áp dụng của lý thuyết ấy, tức cái « hiện thực » trong đó lý thuyết này đúng, và những biến đổi cho ra cái « hiện thực » khác sẽ phủ định nó. Thí dụ khi nói về « quy luật giá trị » (loi de la valeur), cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị của hàng hóa, Marx giả định một môi trường  trong đó cung và cầu đều vô hạn, và yếu tố máy móc chỉ truyền lại chứ không can thiệp vào việc tạo ra giá trị.  Trong bối cảnh máy móc chạy bằng hơi nước ở thời ông, Marx đã ý thức rằng quy luật giá trị sẽ trở thành sai, khi khoa học tiến bộ hơn và can thiệp trực tiếp vào khả năng sản xuất.Ông viết : « Cùng lúc với sự phát triển của đại kỹ nghệ, việc làm ra của cải càng ngày càng bớt lệ thuộc vào số lượng thời gian làm việc, và càng ngày càng lệ thuộc nhiều hơn vào hiệu năng của yếu tố cơ khí (…). Sản xuất sẽ lệ thuộc vào trình độ tiến triển của khoa học và kỹ thuật (…). Khi mà lao động, dưới dạng trực tiếp, không còn là nguồc gốc chính của phú hữu, thì thời gian làm việc cũng không còn là thước đo của sự phú hữu ấy … » (Fondements de la critique de l’économie politique, t. II). Ở một đoạn sau, Marx thêm vào yếu tố « tổ chức sản xuất » khi viết : « mặc dù không thể thiếu được, (lao động trực tiếp) bị thâu hẹp vào một vai trò khiêm nhượng đối với tác động của  khoa học (…) và năng lực sản xuất đến từ mô hình tổ chức xã hội của toàn thể lực lượng sản xuất ». Quy luật giá trị trở thành sai, dự đoán « lợi nhuận (của tư bản) luôn có khuynh hướng giảm sút » cũng sai. Tư Bản sẽ không nhất thiết kẹt vào mâu thuẫn « càng tăng sản xuất càng kém lợi nhuận, và càng kém lợi nhuận càng tăng sản xuất ». Thêm vào đó, Tư Bản còn có thể tạo ra những thị trường mới tùy khả năng sản xuất của mình, hay có thể nhận được từ chính quyền những giúp đỡ, trực tiếp hay gián tiếp, v.v… Những tuyên bố cường điệu kiểu như « Tư Bản Chủ Nghĩa đang dãy chết » trở thành vô nghĩa.

Sang một vấn đề khác. Người ta thường nói đến năm giai đoạn Lịch Sử được Marx nêu ra  : cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản, và cộng sản văn minh. Trong thư trả lời Michailovski năm 1877, Marx chống lại những người đã « biến hóa sơ đồ mà tôi (Marx) đã vẽ lên để mô tả sự hình thành của Tư Bản Chủ Nghĩa tại Tây Âu, và biến sơ đồ ấy thành một lý thuyết lịch sử và triết học có tính phổ quát , áp dụng một cách tất yếu cho toàn thể mọi dân tộc, bất chấp những điều kiện lịch sử của các dân tộc ấy … ». Trong Lời Cuối của Tư Bản Luận ấn bản thứ hai, năm 1873, Marx trích dẫn một tạp chí Nga (Le Messager Européen), như sau : « … người ta nói rằng các quy luật của đời sống kinh tế luôn nhất quán, luôn bất biến : chúng áp dụng cho hiện tại cũng như cho quá khứ. Đây chính là điểm mà Marx chống lại : theo ông, các quy luật trừu tượng không có thật … Ngược lại, mỗi giai đoạn lịch sử có những quy luật riêng của giai đoạn ấy ».

LÝ THUYẾT NHÀ NƯỚC CỦA MARX

Trong « Critique de la Philosophie de l’Etat de Hegel » (1843) Marx đã vạch ra thực chất của cái Nhà Nước Đức Phổ mà Hegel coi như cao điểm của Lý Trí. Hegel cho rằng Nhà Nước là nguồn gốc của xã hội công dân  (hay dân sự), do ở tính tiêu chuẩn, nền tảng, tượng trưng cho Lý Trí, của nó. Marx, ngược lại, khẳng định xã hội công dân cho ra Nhà Nước. Xã hội công dân (hay dận sự), là sự tập hợp của những quyền lợi kinh tế và xã hội. Nó cho ra Nhà Nước. Vậy Nhà Nước đến từ những quyền lợi kinh tế xã hội. Nhà Nước không đại diện cho một Lý Tưởng trừu tượng, mà đại diện cho quyền lợi kinh tế xã hội của thành phần ưu thắng. Theo phương pháp luận của Feuerbach, thì việc người dân cho ra xã hội công dân, cho ra Nhà Nước, đặt nó lên đầu mình, rồi phục vụ nó, bị nó cai trị, chỉ huy, là một hiện tượng vong thân (một lý luận tương tự như với khái niệm Thiên Chúa). Giải pháp được Marx đề ra là một nền dân chủ thực thụ (tức “tìm lại người dân”, như “tìm lại con người” nói ở trên), phá bỏ tư tưởng mù quáng cho rằng Nhà Nước là hiện thân của một Lý Tưởng, là “đỉnh cao của Trí Tuệ” …

Một Nhà Nước toàn trị, tập trung, càng ngày càng can thiệp vào mọi lãnh vực của đời sống, là một quan điểm hoàn toàn trái ngược với học thuyết Marx. Mặc dù vậy, người ta vẫn thường hay đồng hóa mô hình Nhà Nước cồng kềnh, chỉ huy kinh tế, với Cộng Sản, với học thuyết Marx. Trong “Chỉ trích các chương trình Gotha và Erfurt” , Marx và Engels (đồng tác giả), viết rằng : “Với sự hình thành của xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa, Nhà Nước sẽ tự nó tan rã và biến mất”.

Thay thế bằng cái gì ? Ở thời ông, Marx chỉ có một thí dụ bộc phát trước mắt, đó là Công Xã Paris. Marx và Engels rút tỉa ra từ thí dụ ấy, những ưu điểm mà người ta có thể tóm lược như sau : một chế độ tự quản, một hình thái Dân Chủ trực tiếp, và một sự tản quyền rộng rãi có thể đưa đến chế độ liên bang nếu Công Xã Paris thành công trong việc lan ra trên toàn nước Pháp.

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG

“Đảng lãnh đạo” là một khẳng định phản lại học thuyết Marx. Đối với Marx, Đảng là môi trường của ý thức chứ không phải là nơi tập trung quyền lãnh đạo.Nếu không thì Đảng cũng sẽ rơi vào một trường hợp vong thân. Người lao động phóng ước vọng của mình ra ngoài mình, thành ra Đảng lao động , rồi cắm cúi phục vụ nó, chính là vong thân, là để cho một thành phần của tâm trí mình, mà mình đã đánh mất, quay lại chỉ huy, đàn áp mình, như đã nói ở trên với Thiên Chúa và Nhà Nước. Marx viết : “Chúng ta không thể (…) đi cùng đường với những kẻ tuyên bố rõ ràng rằng người lao động không đủ kiến thức để có thể tự giải phóng mình và cần được giải phóng từ bên trên” (thư gửi Brake, 17 tháng 9 năm 1879).
Marx cũng chống lại sự độc tôn của Xã Hội Chủ Nghĩa trong giai cấp cần lao.Ông viết : “Vai trò của (đệ nhất) Quốc Tế (Cộng Sản) là tổ chức, phổ biến, điều hành, những cao  trào tự phát của giai cấp thợ thuyền, chứ không phải là chỉ huy hay áp đặt bất cứ hệ thống tư tưởng nào”.

MARX VÀ THUYẾT “KHÔNG TƯỞNG” (UTOPIE)

Người ta thường nói học thuyết Marx là Xã Hội Chủ Nghĩa “khoa học”, đối nghịch lại với những Fourier, Saint Simon v.v… là Xã Hội Chủ Nghĩa “hoang tưởng”. Như đối với nhiều triết gia đi trước ông : Hegel, Feuerbach, Fitche, Moses v.v… và cả Epicure, Marx không dấu diếm ảnh hưởng của các nhà xã hội tiền phong trên tư tưởng của ông, mặc dù trên một số khía cạnh, ông chỉ trích họ.Engels nói : “Chúng ta, những người Xã Hội Đức, hãnh diện vì nguồn gốc của chúng ta không những đến từ Saint Simon, Fourier và Owen, mà từ cả Kant, Fichte, và Hegel”.

Thật ra “hoang tưởng” không hoàn toàn đối nghịch lại với học thuyết Marx.Như đã nói ở trên, Lịch Sử không dẫn đến một tương lai tất yếu. Tức là có nhiều tương lai khả hữu. Con người với ý thức mục tiêu trong hành động của mình, có thể hình dung một trong những tương lai khả hữu ấy như mục tiêu của hành động của mình. Tương lai được hình dung và được chọn làm mục đích ấy, có thể sẽ không xảy ra. Sự hình dung nọ trở thành hoang tưởng. Mặc dù vậy, nó không nhất thiết đối  nghịch lại với học thuyết Marx. Sự hoang tưởng chỉ đối nghịch lại với học thuyết Marx khi nào nó hoàn toàn bị bứng rễ khỏi thực tại, khi nó phủ nhận tương quan biện chứng giữa tự do sáng tạo và ảnh hưởng của thực tại, khi nó trở thành hoàn toàn trừu tượng, sản phẩm của Lý Tưởng, của Ý Niệm thuần túy.

MARX VÀ CÁC TRIẾT HỌC DUY TÂM, DUY VẬT

Bị gọi là “duy tâm duy ý chí” là một sỉ nhục đối với người Cộng Sản. Thật ra, duy tâm và duy vật liên hệ với nhau bằng một  tương quan biện chứng. Như đã nói ở trên, giữa những tương lai khả hữu, con người hướng đến một tương lai được coi như “tốt”, như “lý tưởng”. Đó là một quan điểm duy tâm. Marx không chống lại thái độ ấy, mà đem nó vào thực tại, qua trung gian của hành động.Hành động là ảnh hưởng trên những yếu tố cụ thể của thực tại. Qua hành động con người bắt buộc phải chịu « quy luật » của thực tại. Sáng tạo của « con người hành động » không thể không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện cụ thể. Điểm then chốt của học thuyết Marx là Hành Động. Một thái độ Lý Tưởng duy tâm có thể là một khởi điểm cho Hành Động, và như thế, nó trở về với thực tại, để thể hiện tương quan nền tảng của học thuyết Marx giữa một bên là sáng tạo tự do, bên kia là thực tế quy định. Cần nhớ là Marx không chỉ đơn thuần định nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa qua những phương tiện của nó, kiểu như những hình thái sản xuất này nọ (tức những điều chỉ có giá trị ở một thời và một chỗ), mà ông cũng định nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa qua cứu cánh của nó, qua mục đích đem lại cho con người sự nảy nở toàn diện, để « một em bé mang tài năng của Mozart hoặc của Raphael, có thể thực sự trở thành Raphael hoặc Mozart » (4). Đó là một lý tưởng, là duy tâm, và lý tưởng ấy là khởi điểm của triết học Hành Động của Marx …

Hegel là hiện thân của triết học Duy Tâm. Thế mà Marx nói về Hegel như sau : « Liện hệ giữa tôi và Hegel rất đơn giản. Tôi là một đệ tử của Hegel, và những điều bá láp của những tên hậu sinh nghĩ rằng đã đến lúc có thể đem chôn nhà tư tưởng vĩ đại này, đối với tôi, hoàn toàn khôi hài » (2). Engels nói, trong lời mở đầu ấn bản 1874 của sách « la Guerre des Paysans », rằng : « nếu trước đó không có trết học (duy tâm) Đức Quốc, nhất là triết học Hegel, thì Xã Hội Chủ Nghĩa khoa học đã không thể nào hiện hữu được ».

Mặt khác, Marx không phải là một nhà Duy Vật giáo điều, mặc dù ông đã tiếp nhận di sản của các nhà Duy Vật trước ông, đặc biệt là Feuerbach. Trong thư gửi Feuerbach ngày 11 tháng 8 năm 1844, Marx viết :  « ông đã đem lại cho Xã Hội Chủ Nghĩa (…) nền tảng triết học ». Engels thì nói : « Tất cả chúng tôi, một thời, đều đã từng theo Feuerbach » (3).

Duy vật giáo điều cho rằng cái thực tại mà ta cảm nhận thấy có một sự hiện hữu tự thân. Thực tại trở thành « sự thật tuyệt đối », thành tiêu chuẩn, thay thế cái Lý tưởng, hay Ý Niệm của trường phái Duy Tâm. Thực ra, thực tại mà ta nhận biết chỉ là một sự thật tương đối, được tâm trí chúng ta tạo thành qua sự hiểu biết, qua kinh nghiệm, qua tâm lý, qua những phương tiện quan sát và thực nghiệm mà khoa học kỹ thuật ở thời đại chúng ta cho phép. Con người tìm biết thực tại bằng giả thuyết và thực nghiệm. Bước đường tìm biết thực tại như thế, là vô cùng tận. Ở mỗi chặng đường, con người vẽ lên một bức tranh tạm thời hình dung thực tại, và đề ra những giả thuyết, những dự phóng về thực tại, cần được kiểm chứng qua hành động, qua thực nghiệm. Duy vật giáo điều quan niệm sự vận động của sự vật hiện hữu một cách tự thân, « tuyệt đối », quy định Lịch Sử và cho ra một tương lai tất yếu. Lịch Sử đã được viết sẵn. Học thuyết Marx, ngược  lại, quan niệm nhiều giả thuyết về thực tại, và nhiều tương lai khả hữu. Sang trường phái Duy Tâm thì chính sự vận động của Ý Niệm trên con đường vạch ra bởi biện chứng pháp, mang vai trò quy định Lịch Sử. Tuy nhiên, con người không tiếp cận với sự vật tự nhiên cũng như với những phạm trù ý niệm một cách trực tiếp, mà phải qua trung gian của đời sống, đời sống cá nhân, gia đình, và xã hội. Vì thế, với Marx, sự vận động của vật chất cũng như sự vận động của ý niệm đều phải hội nhập vào đời sống, qua triết lý Hành Động, để trở thành sự vận động của Lịch Sử.
Vài tháng trước khi ông qua đời, tôi có viết cho Trần Đức Thảo một bức thư trong đó có đoạn như sau :

« Bác đã trích dẫn Lénine để cho rằng : « không có trình độ thấp nhất của vậy chất », tức vật chất không có cái gì được nhìn nhận là đầu tiên để mà quy định mọi bước tiến hóa khác. Bác cũng cho rằng thế giới là « vật chất vô hạn đương vận động ». Tựu trung, ta có thể hiểu, như Lénine, rằng : « Thiên Nhiên trong tất cả các bộ phận của nó không có gì đầu tiên và cũng không có gì kết thúc ». Cái « vật chất » không có hạn chế và cũng không biết từ đâu ra như thế có còn là vật chất hay không ? Chấp nhận sự hiện hữu của vật chất như vậy có còn thực sự là « duy vật biện chứng » nữa hay không ? Vì đến một lúc nào đó, ở chỗ vô hạn , hay ở chỗ khởi thủy không hiện hữu, sẽ không còn cái điểm tựa vật chất để mà biện chứng nữa, và sẽ chỉ còn là vận động khái niệm thuần túy, tức là duy tâm ».

Trả lời vấn nạn này rất đơn giản. Lénine, cũng như Marx, không lý luận như những nhà duy vật giáo điều, tức không bàn đến giới hạn hay khởi điểm của vật chất tự thân, mà của vật chất được nhận biết được bởi con người. Sự tìm hiểu vật chất, Thiên Nhiên, cũng như Thế Giới, Vũ Trụ, là vô cùng tận, khám phá ra cái này nó lại lòi ra cái khác, mỗi giả thuyết khi áp dụng vào thực nghiệm lại đặt ra một số vấn đề, một số trục trặc, thúc đẩy người ta tìm ra những giả thuyết, những phát minh mới … « Vật chất được nhận biết bởi con người » được coi là vô hạn, vì con đường tìm biết môi trường vật chất là một con đường vô hạn.

Tôn giáo là hơi thở của những người bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là linh hồn trong trạng thái không linh hồn. Nó là thuốc phiện của người dân"
"Tôn giáo là hơi thở của những người bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, là linh hồn trong trạng thái không linh hồn. Nó là thuốc phiện của người dân” – Karl Marx

MARX VÀ TÔN GIÁO

Người ta thường thu tóm quan điểm của Marx về tôn giáo trong câu : « tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng ». Marx viết câu ấy vào năm 1843, lúc ông 25 tuổi, trong tác phẩm « Critique de la Philosophie du Droit de Hegel ». Trong cùng một đoạn văn, ông cũng nói : « Tôn giáo một mặt  phản ảnh sự cùng khổ của con người, mặt khác là sự đối kháng chống lại sự cùng khổ ấy ». Tức là tôn giáo cũng có thể là mầm mống của cách mạng …

Như đã bàn đến nhiều lần ở trên, mọi quan điểm của Marx đều phải được đăt trong bối cảnh Lịch Sử trong đó quan điểm ấy có thể áp dụng được. Marx chống lại tôn giáo ở thời ông, vì tôn giáo, vào lúc đó, đóng vai trò thành trì của các lực lượng bảo thủ, chống lại mọi sự thay đổi trong một xã hội đầy dẫy áp bức, bất công. Trên mặt triết lý, tôn giáo, theo mô hình mà Marx chứng kiến, là một hiện tượng vong thân. Con người phóng ra ngoài mình những ước vọng, sợ sệt, lý tưởng, rồi hệ thống hóa thành Thiên Chúa, để chạy theo thờ phượng (vong thân là đánh mất những gì của mình và bị những thứ ấy thống trị ngược lại). Không những thế, với Hegel, người ta còn quan niệm Lịch Sử như một con đường dẫn đến Thiên Chúa, thông qua nhà nước Đức Phổ và xã hội tư sản. Tôn giáo trở thành « nút chặn » đối với sự vận hành của Lịch Sử. Nếu chúng ta là  những người Ky Tô Hữu sống ở thời Marx, rất có thể chúng ta cũng chia sẻ một số nhận định của Marx về tôn giáo ?

Ở một giai đoạn Lịch Sử khác, Marx và Engels không ngần ngại đề cao vai trò của tôn giáo trong công cuộc đấu tranh chống bất công xã hội. Trong « Contribution à l’Histoire du Christianisme Primitif », Engels gọi các cộng đồng Ky Tô Giáo nguyên thủy là là những tổ chức Xã Hội Chủ Nghĩa đầu tiên. Ông cũng nhấn mạnh đến vai trò khai phóng của của Ky Tô Giáo trong xã hội Cổ La Mã đang trên đà rữa nát, mặc dù ước vọng về một sự đổi mới, trên nguyên tắc, sẽ chỉ thành sự thật sau sự sụp đổ của cái thế giới cùng khổ này, ở một « đời sau » tốt đẹp và hạnh phúc. Đến thế kỷ 16, nhà thần học Thomas Munzer quan niệm lời Chúa, Ý Chúa, không phải tìm ở bên ngoài, mà ở trong chính nội tâm con người. Vấn đề « vong thân” trong điều kiện đó không đặt ra nũa, và Engels gọi Munzer là « đấng Tiên Tri của Cách Mạng ». Vì Ánh Sáng của Thiên Chúa soi chiếu nội tâm của mỗi người, giàu cũng như nghèo, quý phái cũng như cùng đinh, nên Thần Học của Munzer đưa đến bình đẳng, chống áp bức, bất công. Khi tham gia một cuộc nổi dậy của nông dân, ông viết trên lá cờ hiệu hàng chữ sau : « Lạy Chúa, xin hãy ủng hộ Công Lý của Ngài ». Engels cho rằng « Nước Chúa, đối với Munzer, là một xã hội không có giai cấp, không có tư hữu, và không có Nhà Nước ». Thử hỏi có bao nhiêu người Công Giáo thành thực nghĩ rằng Nước Chúa là một xã hội giai cấp, tư hữu, cai trị bởi một guồng máy Nhà Nước?

Marx và Engels cũng thừa nhận ảnh hưởng của Joachim de Flore, một tu sĩ sống ở thế kỷ 12, trên Xã Hội Chủ Nghĩa. Lý thuyết của ông này dựa trên sách « Apocalypse», tức quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh Tân Ước. Joachim de Flore cho rằng giai đoạn một ngàn năm được nói đến trong Apocalypse, trong đó Đức Ky Tô sẽ trở lại ngự trị trên thế giới, chính là một sứ điệp hy vọng, một Tin Mừng theo nghĩa gốc của chữ Evangile (evagellion tiếng Hy Lạp là tin mừng). Đó cũng là một thôi thúc đấu tranh, liền trong hiện tại, cho sự hình thành của Nước Chúa, với Tình Yêu ngự trị trên mọi tương quan xã hội. Tư tưởng này đem tương lai vào hiện tại, và, như học thuyết Marx, nó có khả năng làm quay lại bánh xe Lịch Sử bị bế tắc. Thần học của người tu sĩ Joachim de Flore đã ảnh hưởng trên những nhà cách mạng sau đó, từ Jan Hus, qua Thomas Munzer, đến Marx và Engels.

Trước tính áp bức bất công của Nhà Nước Đức Phổ, gắn liền với Ky Tô Giáo ở thời ông, Marx nói trong «la Question Juive » : « Nhà Nước tự nhận là Ky Tô Giáo thật ra chỉ là sự phủ nhận Ky Tô Giáo của Nhà Nước ấy, và hoàn toàn không phải là sự thể hiện của Ky Tô Giáo trong chính trị ». Ông chủ trương đạt đến một xã hội trong đó « nền móng  không phải là Ky Tô Giáo, mà là nền tảng nhân bản của Ky Tô Giáo » (5).

Ngày nay, tôn giáo, đặc biệt là Ky Tô Giáo, trong đại đa số trường hợp, không còn là công cụ của áp bức nữa, mà ngược lại, thường đứng về phía kẻ bị áp bức. Những chính quyền đàn áp tôn giáo đều là những chính quyền bảo thủ và ở nhiều nơi trên thế giới, tôn giáo chính là niềm hy vọng chủ yếu, nếu không phải là duy nhất, trong việc chuyển đổi những thể chế tệ hại, tham nhũng, bất công, bóc lột …

Đức Gioan Phao Lồ đệ nhị nói, năm 1995 : « Tư Bản phải phục vụ cho lao động, không phải lao động phục vụ cho Tư Bản », tóm lược những ý tưởng đã được Ngài đề ra trong Sứ Điệp Centesimus Annus (1991), đưa đến nhận xét khôi hài của Benoit Duquesne : « Đức Gioan Phao Lồ đệ nhị là người Marxiste cuối cùng !»(6).

CHỜ ĐỢI GÌ NƠI HỌC THUYẾT MARX?

Vào tháng 10 năm 2002, trang nhà của tự điển bách khoa danh tiếng Encyclopedia  Britanica đăng một tài liệu của Peter Hudis về Marx (Marx trong toàn cầu hóa – Marx in the mirror of globalisation), gọi Marx là « vị tiên tri của Toàn Cầu Hóa ». Hudis trích dẫn John Micklethwait và Adrian Wooldridge, hai nhà biên tập của tạp chí « The Economist », phát biểu trong tác phẩm « A future perfect : the challenge and hidden promise of globalisation », cho rằng quan điểm của Marx về « liên hệ toàn cầu giữa các quốc gia » đã mô tả những vấn đề đặt ra bởi toàn cầu hóa, từ cách đây 150 năm ! John Cassidy  trong một bài báo năm 1977 “The Return of Karl Marx” (New Yorker) gọi Marx là « Nhà tư tưởng vĩ đại của tương lai » (the next big thinker), và trích dẫn một nhà tài phiệt cao cấp của Wall Street, như sau : « Càng kinh doanh lâu năm ở Wall Street, tôi càng vững tin rằng Marx có lý ». Francis Wheen, trong “Karl Marx, a life”, phát biểu rằng : « Càng nghiên cứu Marx, tôi càng nhận ra tính chất hợp thời một cách không thể tưởng tượng được của ông. Những chuyên gia hay nhà chính trị thời nay thường tự hào là những nhà tư tưởng tiền phong khi không bỏ lỡ cơ hội nào để bàn đến vấn đề thời trang « toàn cầu hóa », mà không biết rằng Marx đã phân tích đề tài này từ năm 1848 ».

Thật ra, có lẽ không nên nhìn những phân tích của Marx từ năm 1848, mà nên nhìn phương pháp phân tích của ông. Áp dụng học thuyết Marx, ờ thế kỷ 21, không thể là sao chép những gì Marx đã đề ra vào cuối thế kỷ 19. Áp dụng học thuyết Marx, ở thế kỷ 21, là nối tiếp công trình nghiên cứu của Marx, là ứng dụng linh động phương pháp phân tích thực tại của ông, và từ đó đề ra những dự kiến vượt lên thực tại, để, qua Hành Động, làm chuyển vận trở lại bánh xe biện chứng bị ngưng trệ, ngõ hầu tham gia một cách ý thức và sáng tạo vào Lịch Sử.

Bạn có thể tự hỏi : « Tai sao tôi lại bỏ công phu tìm tòi biện hộ  cho Marx ? » Tôi cũng tự hỏi như vậy. Và, một buổi sáng nọ, tôi đã tìm ra câu trả lời, đó là  : ở một trình độ rất khiêm nhượng, tôi có một cái gì chung với ông. Thật vậy, cũng như Marx, tôi không phải là người mác xít (7) ! 

Nguyễn Hoài Vân 
____________________________________________
Chú Thích :

(2)   Tu Bản Luận
(3)   Marx et Engels – Etudes Philosiophiques –Ed Sociales
(4)   Idéologie Allemande – Ed Sociales
(5)   La Question Juive
(6)   Benoit Duquesne – La France en Direct – Antenne 2 :15/1/1996
(7)   Marx nói với Lafargue : « Tôi, Karl Marx, không phải là người Marxiste » – Thư Engels gửi Berstein – 3/11/1882

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Khuyến học: Phần VIII - Đừng đánh giá người khác bằng suy xét chủ quan của mình

PHẦN VIII: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA MÌNH
Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901)
“Năm thứ tự do” sẵn có trong con người.

Trong tác phẩm “Khoa học về Đạo đức” của Wayland, một học giả người Mỹ, có đoạn viết về tự do thân thể, tự do tinh thần ở con người. Đại ý là “mỗi con người đều có mỗi cơ thể độc lập, riêng biệt so với người khác. Con người tự mình xử lý mọi hành vi của mình. Con người tự mình điều khiển được con tim, khôi óc của mình. Con người tự biết phải làm gì và cố gắng ra sao”.

Tôi tạm tóm lược thành năm điểm như sau:

Thứ nhất là mỗi con người có một cơ thể. Các chức năng của thân thể là tiếp xúc, tác động vào thế giới tự nhiên xung quanh. Nhờ đó con người biết hái lượm, săn bắt, trồng trọt, thỏa mãn nhu cầu của cơ thể. Như gieo hạt, trồng lúa, hái bông dệt vải.

Thứ hai là con người có trí tuệ. Vì thế, con người biết phân biệt rạch ròi sự vật, biết tình toán sao cho không lầm lẫn trong phương pháp sản xuất. Trồng lúa phải bón phân ra sao, dệt vải phải công phu, thành thạo kỹ thuật máy dệt thế nào, tất cả đều do sự hoạt động của trí não mà có.

Thứ ba là con người có ham muốn, có tham vọng. Sự ham muốn thúc đấy cơ thể hoạt động. Và con người có cảm giác hạnh phúc khi đạt được tham vọng. Con người ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp. Và để ăn ngon, mặc đẹp, con người phải lao động, phải làm việc. Lòng ham muốn, sự tham vọng thúc đấy con người hoạt động. Và chính lao động mới đem lại hạnh phúc, an nhàn cho con người.

Thứ tư là từ lúc sinh ra, con người ai cũng có thiện tâm. Thiện tâm là kiềm chế tham vọng, đưa con người đi đúng hướng, quyết định mức độ ham muốn. Tham vọng giống như cái thùng không đáy. Không kìm hãm được ham muốn, tham vọng ắt sẽ chỉ vì lợi mình mà hại người. Vì thế, lý tính – bắt nguồn từ thiện tâm – chính là khả năng cân nhắc giữa đạo lý và tham vọng ở con người.

Thứ năm  là con người ai nấy đều có ý chí. Ý chí thúc đấy lòng quyết tâm trong công việc. Sự nghiệp xã hội không phải ngẫu nhiên mà có. Làm điều thiên hay gây tội ác đều do ý chí của con người quyết định.

Tự di sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân:

Năm điều trên đây là thuộc tính không thể thiếu ở con người.

Bản thân mỗi người chỉ độc lập khi phát huy đầy đủ cả năm thuộc tính đó.

Tuy vậy, hễ cứ nói tới “độc lập cá nhân” thì y như rằng bị mọi người xung quanh coi là “kẻ khác người”, bị xem như kẻ “không muốn quan hệ với ai”. Thực ra, không phải như vậy. Việc giao tiếp phụ thuộc vào cả hai bên. Tôi muốn có bạn và bạn cũng muốn tìm tới tôi. Mối quan hệ đó, dựa theo luật pháp do Trời đã định, là cách sống quan trọng miễn sao không vượt quá bổn phận tự thân.

Vậy, thế nào là “bổn phận tự thân”? Đó là sự tự mình ý thức được khi mình phát huy khả năng của mình thì người ta cũng phát huy khả năng của người ta. Hai bên không gây cản trở cho nhau. Nếu sống trên đời mà giữ trọng bổn phận của mình, chắc chắn sẽ không bao giờ phạm tội lỗi, bị xã hội phê phán. Và người ta gọi đó là Quyền con người.

Làm được điều này, con người sẽ có toàn quyền tự do hành động, miễn là đừng xâm phạm tới quyền lợi của người khác. Và một khi không có quan hệ trục lợi hay làm tổn hại đến người khác thì không có cớ để bị người khác phê phán. Con người sẽ đi tới nơi muốn đi, dừng lại chốn muốn dừng, thích thì làm, không thích thì chơi, muốn thì học không muốn thì ngủ. Tất cả là quyền tự do cá nhân.

Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người:

Ngược hẳn với thuyết đã trình bày trên đây, người ta lại đưa ra luận thuyết thế này: “con người phải tuân theo và hành động theo sự điều khiển của người trên, bất chấp đúng sai hay thiện ác. Không được phép đưa ra chính kiến của mình”.

Luận thuyết này có đúng hay không? Nếu là đúng thì chắc chắn nó sẽ phổ biến khắp mọi nơi trong xã hội. Vì nếu thế ở Nhật Bản, Thiên hoàng quyền cao chức trọng hơn Tướng quân Tokugawa, nên Tướng quân muốn đi thì Thiên hoàng cũng có thể bảo đứng lại. Mà đã vậy thì Tướng quân sẽ không thể làm bất cứ việc gì theo ý mình. Mọi việc từ chuyện thức ngủ, ăn uống nhất thiết phải tuân theo và hành động the sự điều khiển của Thiên hoàng. Đến lượt mình, Tướng quân lại cai trị các Lãnh chúa của các vùng theo ý mình. Rồi nông dân cũng không được trái ý Võ sĩ.

Đừng tưởng rằng cứ theo lập luận trên thì thể chế cai trị có thể áp đặt từ trên xuống là được. Thực ra không hẳn đã vậy. Hãy suy nghĩ kỹ lập luận đó xem sao. “Đã là con người thì phải tuân theo và hành động theo sự điều khiển của người trên”.

Cứ theo đà này thì hết thảy người Nhật chúng ta mất hoàn toàn quyền tự quyết cho bản thân. Như thế cũng giống như “hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Cơ thể mình trở thành nơi trú ngụ cho phần hồn của kẻ khác. Phật Bà Quan Âm lại trở thành nơi trú ngụ của kẻ giết người. Không thể như thế được. Cái đó có thể gọi là khai hóa văn minh được sao. Ngay đến đứa trẻ lên ba cũng dễ dàng tìm ra câu giải đáp.

Trên đất nước ra, từ hàng nghìn năm trước, các nhà Hán học, Nhật học, luôn bàn luận ồn ào về tiêu chuẩn, về việc sắp đặt thứ bậc trên dưới, đẳng cấp sang hèn. Xét cho cùng đó là thủ pháp nhằm hợp pháp hóa việc nhập hồn người ta vào thân xác mình. Được thể, kẻ mạnh ra sức chèn ép người yếu. Lẽ nào các bậc thánh hiền thấy thế cũng sẽ mãn nguyện?

Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”:

Tiếp theo, tôi muốn đưa vấn đề nam, nữ ra bàn ở đây.

Loài người sống ở trên đời có nam, có nữ. Nữ cũng như nam, đều là con người. Trong xã hội phải có cả hai giới, đàn ông và đàn bà. Và giới nào có vai trò của giới đó. Ở họ có điểm khác nhau nào? Đàn ông thường mạnh mẽ, phụ nữ thì yếu đuối. Nam và nữ khác nhau là vậy.

Trong xã hội hiện nay, kẻ nào dùng sức mạnh để cướp của cảu người khác, làm tổn thương danh dự người khác, đều bị khép tội và chịu hình phạt. Vậy mà trong gia đình, người phụ nữ thường xuyên bị ức hiếp, nhưng từ xưa đến nay, hành động này chưa bao giờ bị lên án cả. Vì sao vậy?

Trong trường “nữ học”, người ta ra sức thuyết giảng về “thuyết tam tòng” đối với phụ nữ. Còn bé theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết theo con (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Còn bé thì ai mà chẳng phải theo cha mẹ. Khi đã lập gia đình thì phải theo chồng. Người ta dạy cách “theo chồng” ra sao? Theo như bài dạy trong trường, khi chồng có rượu chè, chơi gái, mắng vợ, chửi con, phóng đãng dâm loạn, người vợ vẫn phải nhịn nhục, phải phục tùng người chồng “đã trót hư đốn”, chỉ được nhẹ nhàng tìm lời khuyên giải.

Cứ theo như chủ ý của các bài giảng này, người chồng có là kẻ đàn ông lăng nhăng, chơi bời nhưng một khi đã là vợ thì người phụ nữ chỉ còn cách nhắm mắt làm ngơ. Người vợ chỉ có quyền duy nhất dù không muốn là phải cố mà tươi cười với chồng. Còn chồng có nghe theo lời khuyên giải của vợ không là quyền của chồng. Ngoài ra, người phụ nữ cứ phải coi mọi việc xảy ra như duyên phận dã định và hãy mặc cho cuộc đời trôi đi.

Trong kinh sách Phật giá, nữ giới bị coi là những cám dỗ nguy hiểm. Nếu đúng như vậy thì từ khi sinh ra, người phụ nữ đã là người mắc tội tày đình rồi. Thêm nữa, trong trường “nữ học” người ta còn răn dạy “thất khứ” (bảy tội khiến phụ nữ bị chồng bỏ: không con, dâm dục, không kính thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen tuông và có ác tật)  tức là nếu người phụ nữ phạm vào một trong bảy điều này thì bị chồng ruồng bỏ cũng không được trách.

Chẳng phải là những điều răn dạy hoàn toàn thiên vị cho một phía hay sao? Đàn ông mạnh mẽ, đàn bà yếu đuối. Các quy định ấy là theo kiểu mạnh được, yếu thua và hoan toàn mang tính trọng nam khinh nữ.

Đừng tin những điều nói bậy của Chu Tử:

Trên thế gian này, số lượng đàn ông và đàn bà hầu như ngang nhau. Nếu dựa theo kết quả điều tra ở châu Âu, dường như nam giới nhỉnh hơn một chút, với tỷ lệ 22 đàn ông thì có 20 phụ nữ. Thế mà một người đàn ông lại có tới hai, ba vợ. Rõ ràng trái với đạo Trời. Và như thế thì con người có khác gì với muông thú?

Con cái sỉnh ra cùng bố mẹ, được gọi là anh em. Tất cả cùng chung sống dưới một mái nhà, được gọi là gia đình. Vậy mà cùng cha, khác mẹ, như thế cũng gọi là gia đình được sao? Giả thử có nhà cao cửa rộng đến mấy, tôi cũng không nhìn nhận đó là căn nhà của con người. Nó cũng chỉ như hang ổ của các loài súc vật, không hơn không kém. Chỉ vì thỏa mãn dục vọng trong chốc lát mà để lại hậu họa cho hậu thế, những kẻ đó là tội phạm.

Cũng có người nói thế này: “Có vợ lẽ thì đã làm sao? Chỉ cần biết khéo léo thu xếp”. Nếu thế, tôi đặt ra trường hợp ngược lại là một người phụ nữ cũng lấy vài ba ông làm “chồng lẽ”. Sự thể sẽ ra sao? Nếu mọi việc đều trôi chảy tốt đẹp thì tôi sẽ ngậm miệng ngay.

Lại có người lý sự thế này: “Vì muốn có con đàn cháu đống nên mới có vợ lẽ. Vả lại có phải chúng tôi muốn thế đâu, chẳng qua là làm theo lời dạy của Chu Tử mà thôi”. Tôi phải nói thế này, chẳng cần phải nể nang Khổng Tử hay Chu Tử gì sất. Họ đã rao giảng những lời sai trái. (Từ năm 1790 thuyết Chu Tử, đại biểu cho Nho học, được coi là triết học chính thống trong xã hội phong kiến Nhật Bản. Để duy trì hữu hiệu xã hội phong kiến về mặt luân lý, chính quyền Mạc phủ cấm học những học thuyết khác với thuyết Chu Tử).

Lấy vợ lấy chồng, chỉ vì không có con mà bị gọi là “đồ bất hiếu”. Thứ lý lẽ gì vậy? Chẳng qua là cách nói thoái thác, biện minh cho những quan điểm sai trái đáng lên án mà thôi.

Người có tấm lòng nhân hậu sẽ không bao giờ tin vào cách ăn nói hàm hồ của Chu Tử.

Xưa nay, chữ “bất hiếu” ám chỉ những đứa con làm khổ cha mẹ. Ông bà nội ngoại nào cũng đều vui khi có cháu chắt bồng bế. Nhưng có ông bà nào lại gọi con cái mình là “lũ bất hiếu” chỉ vì chưa sinh được cháu, được chắt không? Có người nào lại mắng con dâu, đánh đập con trai, đoạn tuyệt với con cái chỉ vì chưa có cháu đích tôn không. Không, không bao giờ có chuyện đó. Hãy tự vấn lương tâm mình thì sẽ rõ.

Không phải mọi điều trong “Luận ngữ” đều đúng:


Con người, ai mà chẳng có hiếu với cha mẹ. Với người già cả, dù là người dưng, ai cũng đều phải lễ phép, huống chi là đối vợ cha mẹ đẻ, không ai lại không có tình nghĩa. Tình cảm đó không vụ lợi, không vì danh dự. Mà nó là tình cảm rất đỗi tự nhiên, xuất phát từ quan hệ cha mẹ con cái.

Từ xa xưa, trong dân gian đã có vô vàn truyền thuyết giảng giải về chữ Hiếu, nhất là “Truyện Nhị thập tứ hiếu”. Tuy nhiên, có thể nói chín phần mười các ví dụ rao giảng “thế nào là hiếu thảo” trong đó đều kể về các hành vi hết sức phi lý, ngớ ngẩn, những việc làm vượt quá khả năng của con người.

Nào là chỉ vì thấy mẹ muốn được ăn món cá chép, người con không quản giá buốt trong ngày đông giá rét, cởi trần nằm đợi trên lớp băng tuyết chờ cho đến khi tan băng để bắt cá. Thử hỏi loại “người trần” bình thường như chúng ta, ai có thể làm được như vậy?

Nào là tỏng đêm hè oi bức, thương cha mẹ nghèo khó, lúc ngủ không có lấy tấm màn giăng muỗi, người con bèn cởi bỏ quần áo, ở trần truồng rồi lấy rượu đổ khắp lên người để muỗi nghe mùi, bâu tới đốt mình, tránh cho cha mẹ bị đốt. Thật vô lý, nếu có tiền để mua hàng lít rượu sao không lấy tiền đó mua mùng màn.

Chưa hết, lại còn chuyện này nữa. Nhà nọ có nhiều miệng ăn, lại phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Không lo đủ gạo, nên người con chạy vạy khắp nơi để vay thóc, vay lúa. Không vay được, cùng đường nên người con quyết định chôn sống đứa con thơ dại để bớt đi một miệng ăn, chứ nhất quyết không để ông bà chết đói. Phải là quỷ dữ hay là rắn độc mới có thể đi rao giảng chữ hiếu theo kiểu như vậy. Thật trái với đạo trời, trái với tình người đến cực độ.

Trong “thất khứ” ở trên, họ rao giảng rằng sự bất hiếu lớn nhất là vợ chồng không có con cái. Thế mà ở đây họ lại thuyết giảng để có hiếu với cha mẹ, thì có phải chôn sống con mình dứt ruột đẻ ra cũng phải làm. Rặt những chuyện mâu thuẫn.

Thật ra, ý tứ sâu xa của những câu chuyện như thế chỉ là nhằm áp đặt thân phận trên dưới, khôn phép giữa các thế hệ, cố tìm mọi lý lẽ để nhấn mạnh vị thế yếu kém của thế hệ trẻ. Theo cách thuyết giáo trong “Luận ngữ” với mục đích như trên thì công ơn của cha mẹ rất sâu nặng. Kể từ khi còn trong bụng, người mẹ đã phải mang nặng, đẻ đau. Và còn phải chăm bẫm cho bú suốt 3 năm trời sau khi sinh.

Nhưng, nào phải chí có loài người mới biết sinh đẻ và nuôi con. Các loài chim chóc, muông thú cũng vậy. Điểm khác biệt cơ bản với các loài vật khác là ở chỗ con người, ngời việc lo cái ăn, cái mặc, còn biết giáo dục và dạy dỗ cho con cái biết giao tiếp, biết làm người.

Vậy mà có nhiều kẻ làm cha, làm mẹ, chỉ sòn sòn đẻ mà không biết cách giáo dục, dạy bảo con  cái, tối ngày vùi đầu vào bài bạc, rượu chè, chơi gái... Kết cục là nợ nần chồng chất, gia đình tan nát. Cùng đường họ lại bắt con cái phải cung phụng, phải gánh chịu mọi hậu họa. Những loại cha mẹ ấy vô liêm sỉ làm sao, nhục nhã làm sao. Những lúc đó, người vợ vốn như con ở, chỉ cần trái ý với bố mẹ chồng thì thiên hạ lại đồn ầm lên, bảo con dâu nhà đó không hiếu thảo. Ngay cả những người biết con dâu đúng cũng vẫn gièm pha.

Trước đây, đã có lần tôi nói với các bạn: mẹ chồng vốn cũng đã từng là người đi làm dâu. Trước khi chì chiết hay ngược đãi con dâu thì các bà mẹ chồng hãy chịu khó nhớ lại thời làm dâu của mình trước đã.

Trên đây là các ví dụ xấu nhất, được sinh ra trên cái nền tảng đạo đức cũ trong xã hội phong kiến. Con  người bị đóng khung theo quy định về thân phận, về đẳng cấp trên dưới, sang hèn. Có rất nhiều phong tục cũ lạc hậu, nề nếp xấu xoay quanh mối quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Nó ăn sâu và trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau.

Về vấn đề này tôi sẽ tiếp tục đề cập đến trong các phần sau.

Tháng 4 năm Minh Trị thứ bảy (tức năm 1874)

Phân chia quyền lực: Phân quyền chiều dọc & chính quyền liên bang

PHẦN 2: Phân chia quyền lực theo chiều dọc

Để hiểu về vấn đề này, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu qua các mô hình nhà nước sau [2]

Chính quyền tập trung (Unitary Government): Là mô hình mà toàn bộ quyền lực được được nắm giữ bởi một chính quyền trung tâm cao nhất. Chính quyền trung tâm này lập ra các cơ quan nhỏ hơn ở từng vùng, từng cấp để dễ quản lý. Đất nước sẽ có một bộ Hiến Pháp thống nhất. Thể chế này thường thiên vị một thành phố trung tâm và bỏ qua quyền lợi của các vùng hẻo lánh, nên chỉ hữu dụng đối với những quốc gia nhỏ. Tuy nhiên, hầu hết các chính quyền trên thế giới đều theo dạng này. Nước Anh là một ví dụ điển hình.

Chính quyền liên bang (Federal Government): Là mô hình mà quyền lực được chia ra giữa chính phủ nhà nước và chính phủ từng vùng (bang). Cách phân chia quyền lực có khác biệt theo từng nước, nhưng nhìn chung, chính phủ nhà nước chịu trách nhiệm về những vấn đề lớn như quốc phòng, di trú, xuất nhập khẩu, hộ chiếu, tiền tệ... và chính phủ từng vùng sẽ lo những vấn đề còn lại như giáo dục, y tế, giao thông, cảnh sát, dịch vụ công cộng... [3] Chính phủ từng vùng sẽ có những quyền riêng mà chính phủ nhà nuớc không được phép can thiệp. Mỗi vùng sẽ có một Hiến pháp riêng (không được vi phạm Hiến pháp chung của cả nước), cũng như là có một hệ thống tam quyền phân lập riêng. Úc, Malaysia, Mỹ... là những nước theo thể chế này.

Vậy chính quyền liên bang, với mức tản quyền chiều dọc cao hơn, có những ưu điểm gì so với chính quyền tập trung? [4]

Đầu tiên và quan trọng nhất, chính quyền liên bang ngăn ngừa sự độc tài. Lord Acton, một chính trị gia nổi tiếng người Anh, cho rằng con người vốn dĩ không hoàn hảo. Do đó, không một ai đáng tin để được trao quá nhiều quyền lực. Mô hình thứ hai, quyền lực được tản đều về từng bang, từng địa phương, thành phố và được nắm giữ bởi nhiều cơ quan, cá nhân khác nhau, do đó sẽ khó có thể hình thành một tầng lớp cao cấp, nắm giữ nhiều quyền lực như trong mô hình chính quyền tập trung. Phân quyền chiều dọc cũng hỗ trợ rất tốt cho việc phân quyền chiều ngang, giúp cho việc kiểm soát và cân bằng (check and balance) quyền lực giữa các nhánh trở nên hiệu quả hơn

Thứ hai, mô hình liên bang giúp tiếng nói của người dân có trọng lượng hơn trong những cuộc bỏ phiếu về một đạo luật hay chính sách. Nói cách khác là dân chủ hơn so với mô hình tập trung. Phiếu bầu của một người trong một vùng nhỏ sẽ có ảnh hưởng lớn hơn trong một đất nước. 1 trên 100 sẽ mang tính quyết định cao hơn so với 1 trên 10000.

Thứ ba, nhà nước liên bang cung cấp cho người dân thêm một quyền rất quan trọng: quyền lựa chọn chính quyền. Khi nhắc đến dân chủ, người ta thường chỉ nghĩ đến quyền được bỏ phiếu và quyền tự do ngôn luận mà quên mất quyền thứ ba này. Công dân của một nước tập trung, nếu không hài lòng với chính quyền hiện tại cũng có thể chuyển tới một nước khác, tuy nhiên việc này có thể gặp khó khăn nếu những nước đích đến có chính sách di trú ngặt nghèo. Ngược lại, trong nhà nước liên bang, người dân có thể so sánh và di trú dễ dàng giữa các bang. Quá trình so sánh, lựa chọn và di trú từng diễn ra mạnh mẽ ở Úc, đặc biệt vào những năm từ 1980 tới 1990. Trong những năm này, một lượng lớn người dân chuyển từ bang Nam Úc với chính sách ngặt nghèo sang một bang Queensland thông thoáng, mở cửa hơn.

Thứ tư, nhà nước liên bang có chính sách linh hoạt hơn nhà nước tập trung, đáp ứng được quyền lợi của nhiều người dân hơn, đặc biệt đối với những nước rộng lớn, đông dân và đa dạng về tôn giáo, chủng tộc, kinh tế... Lấy một ví dụ dễ hiểu, có 2 vùng bỏ phiếu về việc cấm thuốc lá nơi công cộng. Vùng A có 90 người đồng ý, 10 người phản đối, vùng B có 20 người đồng ý, 80 người phản đối. Như vậy, nếu lệnh cấm được ban bố trên toàn nước, sẽ có 110 người thoả mãn và 90 người bất mãn. Nếu lệnh cấm chỉ được ban hành ở vùng A và không được ban hành ở vùng B, sẽ có 170 người thoả mãn và 30 người bất mãn. Tỷ lệ thoả mãn này còn có thể cao hơn nữa nếu những người hút thuốc ở vùng A chuyển san vùng B sống và ngược lại, người ghét thuốc lá chuyển từ vùng B sang vùng A sống.

Vì vậy, trong nhà nước liên bang, các chính sách sẽ trở nên hài hoà hơn và thoả mãn được nguyện vọng của người dân nhiều hơn, nên không những không gây chia rẽ đất nước mà còn tạo ra được sự thống nhất trong đa dạng (Unity in diversity), đáp ứng được nhu cầu đặc biệt của từng vùng. Vô hình chung tạo nên sự ổn định cho đất nước, tránh được những bất công vùng miền.

Lợi ích thứ năm là việc người dân dễ dàng kiểm soát nhà nước hơn. Lord Bryce, một chính khách nổi tiếng nước Anh cho rằng sự phát triển của Mỹ như ngày nay có phần đóng góp to lớn của việc kiểm soát từng bang từ phía người dân. Trong một bang nhỏ, từng động thái của chính phủ sẽ được người dân theo dõi sát sao hơn, do đó sẽ làm việc hiệu quả hơn.

Từng có những ý kiến cho rằng nước Úc nên chuyển từ thể chế liên bang sang mô hình tập trung. Giáo sư Cheryl Saunders từ đại học Melbourne cho rằng, không thể chấp nhận việc toàn bộ nước Úc được điều hành từ Canberra. Đối với những nơi gần Canberra như Melbourne hay Sydney thì việc nàycó thể chấp nhận được, còn những vùng xa xôi như Tây Úc,Tasmania hay Queensland sẽ kịch liệt phản đối. Người dân cần một chính phủ độc lập ở gần họ hơn, giải quyết tốt hơn những vấn đề cụ thể của từng vùng và nhiệm vụ của nhà nước là phải đáp ứng được nguyện vọng đó.

Việc chia nhỏ cũng giúp giảm thiểu được chi phí cho việc thanh tra các cơ quan của chính phủ, giảm được tiền thuế của nhân dân.


Thứ sáu, vì mỗi bang có một bộ luật và chính quyền riêng nên tạo điều kiện cho việc thử nghiệm những chính sách mới và khuyến khích sự thi đua giữa các bang. Một chính trị gia sẽ không thể khẳng định chính sách nào là phù hợp nhất. Việc ban hành những chính sách, điều luật khác nhau ở mỗi bang khác nhau giúp chính phủ từng bang dễ dàng so sánh kết quả, từ đó chọn ra con đường phù hợp nhất với bang mình. Điều này cũng giống như việc so sánh giữa Đông Đức và Tây Đức trong quá khứ. Trong khi Đông Đức chọn chế độ Cộng Sản với mô hình tập trung thì Tây Đức chọn mô hình liên bang. Sự phát triển vượt trội của Tây Đức và sự nghèo nàn của Đông Đức đã dẫn đến sự sụp đổ của bức tường Berlin vào năm 1989, nước Đức thống nhất và quyết định chọn mô hình liên bang, mô hình đã góp phần tạo nên sự thành công của Tây Đức trong quá khứ.


Tuy nhiên, mô hình liên bang cũng tồn tại những hạn chế nhất định như việc trùng lặp chức năng giữa các cơ quan địa phương và cơ quan nhà nước, tranh cãi giữa quyền lợi quốc gia và quyền lợi từng bang, phức tạp trong hệ thống pháp luật và tốn kém thời gian, công sức trong quá trình tìm kiếm sự đồng thuận giữa các bang...

TIỂU KẾT

Tóm lại, không có mô hình nhà nước nào là hoàn hảo. Dù có những khuyết điểm nhưng đối với những nước có diện tích và dân số lớn, mô hình nhà nước liên bang có thể đem lại một chế độ tản quyền tốt hơn, dân chủ và ổn định hơn. Những nước thành công trong việc xây dựng nhà nước liên bang giàu có gồm có Úc, Đức, Mỹ, Canada và Thụy Sỹ. Tuy nhiên, cũng không ít nước gặp thất bại trong quá trình xây dựng chế độ liên bang, Cộng hoà Liên bang Trung Mỹ sau 20 năm thành lập đã tan rã thành những bang độc lập. Những nước khác như Argentina và Mexico đã có sự chuyển đổi qua lại giữa chính quyền liên bang và chính quyền tập trung, và sau cùng chọn chính quyền liên bang. [4]


KẾT

Thực hiện cùng lúc phân quyền chiều ngang và chiều dọc giúp quyền lực được tản đều, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền và tạo được cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước một cách rất chặt chẽ. Qua đó, những quyền lợi của người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền bầu cử và quyền lựa chọn được bảo đảm, là biểu hiện tối cao của một đất nước dân chủ, văn minh.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Khoa luật đại học Quốc gia Hà Nội, Hiến Pháp Việt Nam vào năm 1946 đã có những biểu hiện của cơ chế phân công và giám sát quyền lực. Kể từ Hiến pháp năm 1959 trở đi, học tập theo mô hình của Xô Viết, Hiến Pháp Việt Nam chuyển sang nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực được dồn vào các cơ quan ở trung ương, trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Việt Nam (điều 83 Hiến Pháp 1992). Tuy nhiên, cả phương diện pháp lý cũng như thực tế không diễn ra đúng như quy định ở Điều 83, vì tại Điều 4 của Hiến Pháp năm 1992 lại quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. [5]

Tiến sĩ cho rằng Việt Nam nên nghiên cứu, kế thừa và ứng dụng cơ chế phân quyền và giám sát quyền lực đã có từ Hiến Pháp 1946 và những giá trị của cơ chế phân quyền trong Luật cơ bản của Cộng hoà Liên bang Đức (một trong những nước có kiến trúc thượng tầng tiến bộ bậc nhất thế giới) vào việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay.

Nguồn: Wegreen Vietnam

_________________________________________________________________
Tài liệu tham khảo:

[1] Teaching the German Way of Separating Powers – Joachim Detjen
[2] Advantages and disadvantages of federal, confederate and unitary systems of Government - http://www.dsusd.k12.ca.us/users/scottsh/Govt/Advantagesdisadvantages%20federal.htm
[3] Three Levels of Government – www.parliament.qld.gove.au
[4] Ten Advantages of a Federal Constitution – Geoffrey de Q.Walker
[5] Phân quyền trong luật cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức – Nguyễn Minh Tuấn

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More