"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Quá trình duy tân của Nhật Bản - Phần 3

Thiên hoàng Minh Trị (Meiji-tennō) (1852 – 1912)
Khi chế độ Tướng Quân của giòng họ Tokugawa bị sụp đổ vào năm 1868, các nhà lãnh đạo mới của nước Nhật chỉ là những chính khách non trẻ, chưa từng có kinh nghiệm gì về cách quản trị đất nước. Tuy nhiên, họ lại là những người có đầu óc thực tế, đã áp dụng thử từng phần các cách tổ chức chính trị của Tây Phương vào xã hội Nhật Bản.
Các năm đầu của công trình cải cách đã đòi hỏi rất nhiều ngân quỹ dùng cho những chương trình như thành lập lục quân và hải quân tân tiến, thuê mướn các chuyên viên nước ngoài, gửi các sinh viên đi du học, đặt nền móng cho một chính sách giáo dục quốc gia phổ thông, xây dựng các kỹ nghệ và hầm mỏ mới, đặt các cơ sở truyền thông mới và làm phát triển hòn đảo Hokkaiko…

Về đối ngoại, chính phủ mới phải lo đối phó với các món nợ cũ của chính quyền Tokugawa, còn về đối nội, việc bồi thường cho các lãnh chúa cũ, cho các võ sĩ Samurai bất mãn và sự tốn kém trong việc dẹp cuộc nổi loạn của miền Satsuma vào năm 1877…, tất cả đã làm cho ngân quỹ quốc gia khô cạn. Vào thời kỳ đó, Nhật Bản cũng khó lòng xin được các trợ giúp tài chính và kỹ thuật của các nước ngoài vì dù sao, các món tiền cho vay đều kèm theo lãi xuất rất cao và Nhật Bản thời đó còn là một quốc gia nghèo, chưa có đủ uy tín cần thiết để mượn được tiền. Người Nhật cũng hiểu rõ bản chất “đáng sợ” của các món tiền vay mượn từ các nhà tài phiệt đế quốc. Nhật Bản chỉ còn cách là trông vào chính mình để phục hưng kinh tế.

Một sự việc đã xẩy ra có lợi cho Nhật Bản vào các năm trong thập niên 1860. Thời bấy giờ tại châu Âu có bệnh dịch tầm và nhờ vậy, đã có nhu cầu rất lớn về tơ tầm và trứng tầm, và các miền sản xuất tơ tầm tại miền trung Nhật Bản đã đáp ứng được nhu cầu đó. Các nhà kinh doanh tơ tầm này lại áp dụng nền cơ khí mới vào phương pháp se sợi, cuốn tơ… nhờ thế họ đã sản xuất được những sợi tơ tầm đều hơn, có chất lượng hơn hẳn các nước khác tại châu Á. Nhờ các cải tiến kỹ thuật áp dụng vào kỹ nghệ, Nhật Bản đã giành được thị trường tơ lụa tại Phương Tây và lụa Nhật Bản đã là nguồn xuất cảng lớn nhất cho tới thế kỷ 20. Nhờ tơ lụa, Nhật Bản đã cân bằng mậu dịch với Tây Phương trong khi đó, đã dần dần cải tiến nền kinh tế trong nước.

Tại quốc nội Nhật Bản, tình trạng tài chính của các năm trong thập niên 1870 cũng rất bi đát. Đồng tiền đang trên đà lạm phát nguy hiểm. Tiền xuống giá đã làm lợi cho các nhà nông là những người phải đóng thuế cố định. Do đồng tiền nhỏ đi và nhờ sản phẩm, các nhà nông Nhật đã có dư vốn để đầu tư vào nông nghiệp. Thêm vào đó là sự cải tiến các phương tiện giao thông, việc bãi bỏ các hàng rào phong kiến ngăn cản việc thương mại và sự du nhập các kỹ thuật mới về nông nghiệp… tất cả đã khiến cho nông sản gia tăng rất nhiều trong vài thập niên. Tuy nhiên, sự lạm phát lại làm giảm rất mau nguồn lợi tức của chính phủ do thuế má, khiến cho việc quản trị chính quyền bị lung lay. Các biện pháp tài chính mạnh vì vậy cần phải được áp dụng.

Bộ Trưởng Tài Chính thời bấy giờ là Matsukata Masayoshi, là một trong các nhà lãnh đạo trẻ của miền Satsuma, đã giữ chức vụ trong gần hai thập niên. Matsukata đã áp dụng một chính sách hạn chế khắc khổ. Ông đã cắt giảm các ngân khoản, bán bớt các xí nghiệp của chính phủ và các nhà máy không có tính chiến lược cho tư nhân. Dĩ nhiên các chính sách kinh tế của Matsukata đã bắt người dân Nhật phải chịu đựng nhiều thiếu thốn và thời bấy giờ, chính phủ cũng đủ mạnh để dẹp tan các chống đối.

Một ảnh hưởng do chính sách kể trên là các tài nguyên kỹ nghệ non yểu của nước Nhật lại rơi vào tay một số người có tiền. Những người này đã mua của chính phủ các nhà máy với số vốn rẻ hơn là số tiền mà chính phủ đã bỏ ra để thiết lập. Nhờ xuất vốn thấp, cộng với cách quản trị tư vừa uyển chuyển, vừa cương quyết, các xí nghiệp tư nhân Nhật Bản đã xây dựng được đủ kỹ năng và kinh nghiệm để vượt qua các khó khăn ban đầu trong phương pháp kỹ nghệ hóa. Một thành công cụ thể là ngành tơ sợi trong các năm giữa thập niên 1880. Kế đó là sự thành công của các ngành kỹ nghệ khác.

Vào cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đã thành công trong việc kỹ nghệ hóa, tuy nhiên các cải cách của Matsukata lại khiến cho các lợi lộc tài chính của sự phát triển tập trung vào tay của một nhóm nhỏ tư nhân, hay các tay tài phiệt (zaibatsu).

Các nhà kỹ nghệ và doanh nhân mới của thời Minh Trị không phải là con cháu của những nhà thương mại của thời kỳ Tokugawa, vì những người đó đã cố bám víu lấy nền kỹ nghệ cổ truyền hay các phương pháp làm thương mại lỗi thời. Một trường hợp ngoại lệ là gia đình Mitsui, thiết lập từ thế kỷ 17, đã trở nên một thành phần quan trọng nhất trong nền kinh tế mới. Các doanh gia mới phần lớn có nguồn gốc bình thường, song lại là những người mạo hiểm có tài, biết nắm lấy các cơ hội vàng son của một thời kỳ thay đổi nhanh chóng. Shibusawa Eiichi thuộc một gia đình nông dân miền Edo biết làm thương mại, trở nên giàu có và đạt được giai cấp Samurai vào năm gần tàn của chế độ Tướng Quân. Eiichi rời chính quyền mới vào đầu thập niên 1870 để trở nên một nhân vật hàng đầu trong ngành kỹ nghệ tơ sợi, ngành ngân hàng và trong một số các ngành chuyên môn khác.

Các doanh gia thành công khác phần lớn cũng thuộc giai cấp Samurai, có học thức, có liên quan chặt chẽ với các bạn bè trong chính quyền, và một số cũng đã có kinh nghiệm kinh doanh cho các lãnh chúa, nhờ vậy họ đã là những người dấn thân đầu tiên vào thương trường. Đây là trường hợp của ông Iwasaki Yataro thuộc miền Tosa. Ông này khởi đầu bằng xưởng đóng tầu và đã xây dựng nên Hãng Mitsubitshi, là đại công ty chỉ đứng thứ nhì sau Hãng Mitsui.

Như vậy tới giữa thập niên 1880, Nhật Bản đã thành công trong việc chuyển tiếp từ một chế độ phong kiến sang thành một quốc gia tân tiến. Trong nước đã có một nền chính trị ổn định với nền kinh tế đủ mạnh để cạnh tranh với các nước ngoài, chẳng hạn như về ngành tơ sợi. Đối ngoại, Nhật Bản đủ mạnh để không bị các quốc gia khác lấn át.

Không phải là dễ dàng khi cắt nghĩa sự thành công của tiến trình phục hưng thời Minh Trị. Có nhiều nguyên do bổ túc cho nhau và có những đặc thù về dân tộc, về địa lý, về văn hóa… tất cả đã khiến cho sự phục hưng đất nước được tiến hành mau chóng.

Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, ở xa các quốc gia khác, không bị các cuộc ngoại xâm nên dân tộc Nhật sống biệt lập và thuần chủng. Họ không có các nhóm dân thiểu số quan trọng và sau hơn hai thế kỷ sống dưới chế độ Tướng Quân áp chế, cô lập và bế quan, người Nhật không có các chia rẽ tôn giáo, một điều tai hại cho việc đoàn kết quốc gia tại các nước đang phát triển. Hơn nữa, người Nhật vốn có một tinh thần quốc gia rất cao, không một người dân nào lại có ý tưởng muốn nhờ vả một lực lượng nước ngoài để chống lại đồng bào của mình.

Tinh thần quốc gia của người Nhật đã xuất hiện rất sớm, có lẽ từ thời vay mượn nền văn minh Trung Hoa. Vào thế kỷ thứ 7, Nhật Bản còn là một xứ sở nhỏ, lạc hậu so với nước Trung Hoa rất lớn, lại có một nền văn minh rất cao. Do mặc cảm thấp kém, người Nhật đã học hỏi Trung Hoa nhưng họ đã không dập đúng theo khuôn mẫu đi mượn mà biến cải, sao cho thích hợp với xứ sở của họ. Do không bị ngoại xâm, Nhật Bản hoàn toàn có hòa bình và trật tự xã hội, nhờ thế người Nhật đã làm phát triển được một nền kinh tế quốc gia tự cường, một nền học vấn khá cao so với các nước khác thời bấy giờ, cũng như đạt được các tiêu chuẩn cao về tính hữu hiệu chính trị. Do nền nông nghiệp, người Nhật đã có từ lâu tinh thần tập thể, biết phối hợp và cộng tác với nhau trong các việc công ích, biết sống hài hòa với nhau, không có các hành động hung dữ mỗi khi xẩy ra các biến cố lớn như trong hai thập niên 1860 và 1870. Giống như các dân tộc khác tại miền Đông và miền Đông Nam châu Á, người Nhật chăm chỉ làm việc và ham chuộng giáo dục. Họ lại có khiếu thẩm mỹ đặc biệt, biết yêu thiên nhiên và đưa thiên nhiên vào trong cuộc sống.

Qua đầu thế kỷ 19, các giai tầng xã hội của Nhật Bản cùng gặp các trắc trở. Các giới lãnh chúa, quý tộc, võ sĩ Samurai dần dần trở nên mắc nợ nhiều hơn, và chủ nợ là giới thương nhân trước khia bị coi là thấp hèn. Giới nông dân cũng trở nên giàu có nhờ sản xuất. Hai giới này đã được hưởng quyền tự trị tại làng xã và thành thị, vì thế đã trở nên các doanh gia có thế lực. Sự không ổn định về các giai tầng xã hội đã dẫn đến đòi hỏi phải thay đổi và những người tạo nên cuộc thay đổi chính là các hiệp sĩ Samurai đầy tham vọng, có tinh thần quốc gia, không chịu khuất phục trước sự đô hộ của người nước ngoài.

Vào thời bấy giờ, các nhà lãnh đạo Nhật đã không đi tìm các tư tưởng ngoại lai của Phương Tây như chế độ dân chủ, chế độ cộng hòa… vì chính các nhà lãnh đạo cũng chẳng hiểu rõ tường tận về những lý thuyết này. Họ đã khôn ngoan quay về với sự “phục hưng” một nền quân chủ đã có từ lâu đời và là biểu tượng của dân tộc, một điều rất dễ hiểu và rất hấp dẫn đối với mọi người dân Nhật.

Sự thành công của thời kỳ Minh Trị Phục Hưng còn do tính thực dụng của các nhà lãnh đạo trẻ, họ đã tiến chậm chạp, bỏ ngay những khởi đầu sai lầm, thử nghiệm các điều học hỏi mới và coi kỹ xem các cải cách có thích hợp với xã hội và dân tộc của họ không. Họ đã không tuân theo một giáo điều nào, một ý thức hệ ngoại lai nào, lại không chịu một áp lực nào của ngoại bang. Các nhà lãnh đạo trẻ đã có hoàn toàn tự do, làm việc theo một trình tự hợp lý, tập trung trước tiên vào các công tác căn bản, và để về sau các công việc khó khăn hơn và không cần thiết lúc bấy giờ. Họ đã thiết lập nền trật tự xã hội và luật pháp, làm phát triển giao thông, đặt cơ sở cho nền giáo dục tiểu học trước khi nghĩ tới bậc đại học, nuôi dưỡng phát triển nông nghiệp để người dân có đủ lúa gạo, nâng đỡ các kỹ nghệ đơn giản trước khi bước vào giai đoạn kỹ nghệ hóa đất nước.

Các nhà lãnh đạo trẻ Nhật Bản đã ước muốn làm ổn định đất nước trước khi mong muốn Nhật Bản đóng một vai trò quốc tế và vì thế, Nhật Bản đã đạt được phương pháp tổ chức một xã hội tân tiến, có được một nền kinh tế phát triển. Thời kỳ “Minh Trị Phục Hưng” đáng được coi là một bước đường lịch sử xuất sắc và độc đáo của Nhật Bản.

Phạm Văn Tuấn

Quá trình duy tân của Nhật Bản - Phần 2

Shogun Tokugawa Ieyasu
NƯỚC NHẬT THỜI KỲ ĐẦU MINH TRỊ
1. Xóa bỏ thể chế cũ

Qua đầu thế kỷ 19, người Anh đã thay thế người Bồ Đào Nha và người Hòa Lan làm chủ về thương mại tại các vùng biển châu Á và những nguồn lợi buôn bán của người Anh cũng bắt đầu phát triển rầm rộ tại Trung Hoa. Trong khi đó Hoa Kỳ lại chú ý hơn tới Nhật Bản.

Sau khi Đô Đốc Perry đã bắt Nhật Bản phải mở cửa, hai hải cảng của Nhật được dành cho Hoa Kỳ là Shimoda ở cuối bán đảo gần Edo, nơi có tòa lãnh sự Hoa Kỳ, và Hakodate, trên đảo phía bắc Hokkaido.

Năm 1858, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đầu tiên là Towsend Harris đã ép Nhật Bản ký một thỏa ước thương mại toàn phần, có hiệu lực từ năm 1860. Nhật Bản cũng phải ký các thỏa ước bất công với người Anh, người Hòa Lan, người Pháp, người Nga và hải cảng Nagasaki phải mở cửa cho tầu thuyền Nga cập bến. Sau đó vào năm 1866 còn có thỏa ước về thuế 5 phần trăm đánh trên hàng hóa nhập cảng vào Nhật Bản. Các thương gia nước ngoài rất chú ý tới hai thành phố mới phát triển là Yokohama, rất gần kinh đô Edo, và Kobe ở phía bờ kia vịnh, đối với Osaka. Binh lính Anh và Pháp cũng đi theo các thương nhân để bảo vệ các cơ sở thương mại và nhân viên khỏi sự đe dọa của các hiệp sĩ Samurai.

Chính sách bế quan tỏa cảng sụp đổ, làm cho nước Nhật rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sự chênh lệch giá vàng tại Nhật Bản so với nước ngoài đã làm cho vàng của Nhật Bản ra đi khỏi nước. Kỹ nghệ dệt cổ truyền cũng bị hàng dệt làm bằng máy móc từ bên ngoài cạnh tranh và phải ngưng trệ. Chính phủ Edo không còn khả năng bảo vệ Nhật Bản, đành phải ký kết nhiều thỏa ước và cúi đầu trước các người Tây Phương. Nước Nhật đang rơi vào con đường bán thuộc địa như Trung Hoa.

Lòng bất mãn và tình trạng xáo trộn tràn lan khắp nước Nhật. Các hiệp sĩ Samurai bất tuân lệnh, tự nhận là “Samurai không chủ”, đã tấn công các người Tây phương, giết chết viên thư ký của Lãnh Sự Hoa Kỳ Harris vào năm 1859 và đốt tòa nhà Lãnh Sự Anh tại Edo vào năm 1863. Ii Naosuke, lãnh chúa chủ trương hòa hoãn với Tây Phương, đã bị các hiệp sĩ Samurai thuộc miền Mito phục kích và giết chết bên ngoài cổng lâu đài tại Edo năm 1860. Quyền cai trị của Edo bị phân hóa.

Bên ngoài, hạm đội Anh bắn phá thủ phủ Kagoshima của miền Satsuma vào năm 1863 để trả thù cho việc một người Anh bị ám sát gần Yokohama năm trước. Vào năm 1864, hạm đội quân các nước đã phá hủy các pháo đài của miền Choshu gần Shimonoseki khi các nơi này đã bắn vào các tầu thuyền nước ngoài.

Với nền tài chính quốc gia bị tê liệt, dân chúng Nhật Bản ngơ ngác theo dõi tình hình chính trị trong nước một cách thụ động trong khi đó, một số võ sĩ trẻ Samurai thuộc miền Tây Nhật Bản đã hợp tác với một nhóm quý tộc chưa từng có kinh nghiệm về chính trị, tìm cách kiểm soát chính quyền trung ương, lật đổ chế độ Tướng Quân. Tháng 4 năm 1868, một hội đồng hoàng gia được thành lập, đã ra một tuyên ngôn gọi là “Hiến Chương Tuyên Thệ” (Charter Oath) hay “Năm Điều Tuyên Thệ” (Five Articles Oath). Các nhà lãnh đạo mới đã nhờ Thiên Hoàng công bố Tuyên Ngôn vào ngày 8 tháng 4 năm 1868 theo đó Tất cả các hủ tục của quá khứ cần phải loại bỏ, nhiều cơ hội được mở ra cho mọi người một cách công bằng, và sự hiểu biết phải được tìm kiếm ở khắp nơi trên Thế Giới.

Dưới danh nghĩa đoàn kết chung quanh Thiên Hoàng, những nhà lãnh đạo mới đã không làm sống lại cơ chế cổ xưa hay các chức tước đã có từ trước, mà cố gắng học hỏi ở các nước phương Tây tiến bộ hơn. Họ đã hủy bỏ kiến trúc phong kiến của xã hội Tokugawa mà theo học các định chế Tây Phương, với loại chính quyền tập trung. Châm ngôn của họ là “Phú Quốc, Cường Binh”, hay một quốc gia giàu có và một quân đội hùng mạnh.

Sau cuộc lật đổ chế độ Tướng quân, các chức vị cao nhất được giao cho những nhà quý tộc danh tiếng và các lãnh chúa đã cộng tác vào cuộc lật đổ chế độ cũ, nhưng thật ra, những vị này chỉ đứng tượng trưng còn những người lãnh đạo thực sự của nước Nhật vào giai đoạn này là các hiệp sĩ Samurai và các nhà quý tộc trẻ trung. Cầm đầu nhóm là nhà quý tộc Iwakura Tomomi, 43 tuổi, là người cao niên nhất, hoạt động cho đến khi qua đời vào năm 1883. Sau đó là các hiệp sĩ Samurai xuất sắc như Kido Takayoshi của miền Choshu, Okubo Toshimichi và Saigo Takamori của miền Satsuma. Những nhân vật này nắm giữ các chức vụ như thứ trưởng, ủy viên (councilors). Theo truyền thống cổ của Nhật Bản, việc lãnh đạo được chỉ huy tập thể, các quyết định quan trọng được bàn thảo và cùng đồng ý. Không một ai trong nhóm tìm cách nắm quyền một cách độc tài, giống như sau các cuộc cách mạng xẩy ra tại các quốc gia khác.

Các nhà lãnh đạo mới đã thuyết phục được các lãnh chúa của các miền Choshu, Satsuma, Tosa và Hizen, tức là những người có công đầu, hoàn trả lại địa phận của họ cho Thiên Hoàng vào ngày 5 tháng 3 năm 1869. Các lãnh chúa khác cũng tự nguyện hoặc bị bắt buộc làm theo, để rồi vào ngày 29 tháng 8 năm 1871, chính quyền mới tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn các lãnh địa, tất cả đất đai tập trung vào một chính quyền trung ương, chỉ định các thống đốc và bồi thường cho các lãnh chúa bằng các công phiếu chỉ có giá trị nếu chính quyền mới tồn tại. Các lãnh chúa cũ đành phải chấp nhận, dùng công phiếu như một nguồn vốn ngân hàng và họ biến dần thành một số nhà kinh doanh giàu có. Giai cấp lãnh chúa bị xóa bỏ, cũng kéo theo giai cấp võ tướng là các hiệp sĩ Samurai. Năm 1876, các Samurai bị từ chối đặc quyền đeo kiếm, tức là biểu hiệu của một giai cấp ân sủng.

Thành phố Edo từ lâu đã là cung thành của giòng họ Tokugawa, là thủ đô chính trị thực sự của Nhật Bản trong nhiều thập kỷ, nay cũng là bản doanh của chính quyền mới. Mùa thu năm 1868, Edo được đổi tên thành Tokyo hay “Đông Kinh” tức là thủ đô phía đông, và Thiên Hoàng cùng triều đình rời về Tokyo vào mùa xuân năm 1869. Vào lúc này, các nhà cầm quyền mới chỉ có trong tay một chính sách là biểu tượng đoàn kết chính trị chung quanh Thiên Hoàng và xây dựng đất nước bằng danh nghĩa này, mặc dù vào lúc đó, Thiên Hoàng mới chỉ là một hoàng tử 14 tuổi. Năm 1868, niên hiệu của Thiên Hoàng được gọi là “Minh Trị” (Meiji) và nhà Vua này đã ngự trị Nhật Bản cho đến khi qua đời vào năm 1912.

2. Cải tiến theo Tây Phương


Trong vòng 10 năm, chính quyền mới của Nhật Bản đã xóa bỏ được hoàn toàn cơ chế chính trị và xã hội của thể chế Tướng Quân (Shogun), kiểm soát được đất nước, để rồi làm phát triển các định chế chính trị mới, một hệ thống kinh tế mới, một trật tự xã hội mới, cùng với một lực lượng quân sự mới, làm nòng cốt cho việc bành trướng đế quốc sau này.

Các nhà lãnh đạo mới với óc thực tế, đã học hỏi từng phần về các tổ chức chính trị tây phương, cẩn thận thử áp dụng chúng vào xã hội Nhật Bản. Bộ Kinh Tế trở nên nòng cốt của chính quyền vì bộ này quyết định về cách xử dụng các ngân khoản. Hệ thống Ngân Hàng được đặt ra, lúc đầu theo tiêu chuẩn phân quyền như tại Hoa Kỳ, nhưng sau lại theo cách tập quyền của nước Bỉ. Năm 1871, đồng Yen được ấn định là đơn vị tiền tệ thống nhất. Các hệ thống Thuế Vụ cũng được đặt ra vào năm 1873. Thông Tin và Kỹ Nghệ là hai ngành quan trọng. Đường dây điện tín được kéo dài khắp nước và hệ thống Bưu Điện được thiết lập vào năm 1871. Năm sau, có đường xe lửa nối dài thủ đô Tokyo và hải cảng Yokohama cách đó 19 dậm. Chính quyền mới cũng cho xây dựng các kỹ nghệ “kiểu mẫu” tại nhiều nơi, khai thác hầm mỏ, lập ra các xưởng vũ khí để không phải mua của nước ngoài. Kỹ nghệ đóng tầu cũng được bắt đầu với tầm cỡ nhỏ đồng thời với các kỹ nghệ se sợi và dệt lụa, kỹ nghệ làm gạch ngói và làm thủy tinh. Một số kỹ nghệ nhẹ khác cũng bắt đầu hoạt động.

Các thập niên đầu của thời kỳ Minh Trị là thời gian học hỏi Tây Phương, giống như ngàn năm về trước, người Nhật Bản đã học hỏi Văn Hóa và Văn Minh Trung Hoa, nhưng lần này, tiến trình học tập nhanh hơn và có hệ thống hơn. Vài nhà lãnh đạo của chính quyền mới đã từng đi nước ngoài trước năm 1868, nay cũng ra khỏi nước để quan sát và học tập. Từ năm 1871 tới năm 1873, chính lãnh tụ Iwakura đã dẫn một phái đoàn gồm quá nửa các chính khách hàng đầu, thực hiện một chuyến công du, trước tiên tới Hoa Kỳ, rồi sau qua một số nước phương Tây để thuyết phục họ sửa đổi các hiệp ước bất công, đã áp đặt lên chính quyền Tokugawa. Chuyến công du này tuy không thành công nhưng các chính khách Nhật Bản vào thời đó đã thấy tận mắt, nghe tận tai các điều tiến bộ của nước ngoài.

Người Nhật Bản đã không chọn hẳn một quốc gia nào làm khuôn mẫu, mà học lấy những gì hay nhất của từng quốc gia. Các sinh viên, kể cả nữ giới, đã được tuyển chọn cẩn thận căn cứ vào khả năng thực sự rồi được gửi ra nước ngoài, bởi vì Thế Giới là một ngôi trường học bao la. Các du học sinh được phân phối học những gì, học ở đâu, và học làm sao để sau này có thể mang những điều hiểu biết, trở về quê hương, làm thay đổi đời sống tại Nhật Bản. Những nơi du học đều rất hấp dẫn đối với tinh thần ham học của người Nhật: nước Anh về Hải Quân và Hàng Hải Thương Thuyền, nước Pháp về Luật Pháp và Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương, nước Đức về Quân Đội và Y Khoa, còn Hoa Kỳ được chú ý về cách khai thác Thương Mại.

Chính quyền mới lúc đầu cũng thuê mướn các chuyên viên tây phương với lương bổng thật cao vì Nhật Bản không phải là nơi hấp dẫn để sinh sống. Từ Hoa Kỳ, hàng trăm nhà truyền giáo đã tới Nhật Bản dạy tiếng Anh miễn phí và cũng phụ trách các phạm vi khác. Các giáo sĩ Tin Lành này đã dựng nên nhiều trường học, nhưng nhân viên của các cơ sở giáo dục cũng như các cơ quan khác đã bị thay thế nhanh chóng bởi các sinh viên được huấn luyện do chính các nhà truyền giáo hay bởi các sinh viên du học trở về. Vì thế, tới cuối thế kỷ 19, không còn chuyên viên ngoại quốc nào tại Nhật Bản, trừ phạm vi giảng dạy ngoại ngữ.

Các sách học và các công trình khảo cứu của Tây Phương cũng được phiên dịch sang tiếng Nhật, đồng thời với các công trình biên khảo của các nhà bác văn người Nhật giỏi về Tây Phương. Nhà biên khảo lừng lanh nhất là Fukuzawa Yukichi, người đã từng qua phương Tây nhiều lần kể từ năm 1860, đã viết rất nhiều sách, chẳng hạn như cuốn “Tình Trạng Tây Phương” (Seiyo Jijo). Chính ông Yukichi cũng đã lập nên một cơ sở giáo dục tư rất uy tín, để sau này trở thành Đại Học Keio lừng danh.

Các nhà lãnh đạo mới của nước Nhật cũng chú ý đến nền giáo dục phổ thông. Bộ Giáo Dục được lập nên vào năm 1871 để quản trị các trường học từ bậc Tiểu Học đến Đại Học. Trong thập niên 1870 và vào các năm đầu của thập niên 1880, toàn thể nước Nhật Bản sôi động trong việc học hỏi các nước Tây Phương và sự kiện này được gọi là “Khai Hóa Văn Minh” (Bummei Kaika). Trong giai đoạn này, tinh thần “Võ Sĩ Đạo” của người Nhật Bản đã được xử dụng đúng cách vào việc xây dựng một quốc gia tân tiến, ngang hàng với các nước phương tây.

Phạm Văn Tuấn

Quá trình duy tân của Nhật Bản - Phần 1

Matthew Calbraith Perry
1. Nước Nhật và chính sách bế quan tỏa cảng
Thế kỷ 21 đã được gọi là Thế Kỷ Thái Bình Dương và các quốc gia ở chung quanh đại dương lớn nhất này đang đóng các vai trò rất quan trọng trong tương lai.

Tại vùng phía bắc Thái Bình Dương, phần đất Alaska của Bắc Mỹ tiếp gần với phần đất Yakutsk của miền Tây Bá Lợi Á, thuộc nước Nga. Về phía tây nam của Thái Bình Dương là các hải đảo chạy gần như song song với lục địa châu Á, đó là các đảo Aleutian, Kurile, quần đảo Nhật Bản, quần đảo Phi Luật Tân…

Vào thế kỷ 16 và 17, ba cường quốc đã thiết lập buôn bán với Nhật Bản là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hòa Lan. Người Bồ và người Hòa Lan đã tới Nhật Bản qua mỏm cực nam của châu Phi, còn người Tây Ban Nha tới từ thuộc địa của họ là Mễ Tây Cơ. Các người này bị người Nhật gọi là bọn “nam man” hay những kẻ man rợ của phương Nam, vì họ thường từ phía nam đi tới Nhật Bản.

Sang thế kỷ thứ 18 và 19, có thêm ba quốc gia nữa tìm cách buôn bán với Nhật Bản là nước Nga, nước Anh và Hoa Kỳ nhưng vào thời kỳ này, Nhật Bản đã áp dụng chính sách “bế quan tỏa cảng”, cấm đoán mọi giao dịch thương mại với các người nước ngoài, ngoại trừ với người Hòa Lan sinh sống tại Nagasaki. Vì thế, các người nước ngoài muốn làm thay đổi chính sách kinh tế kể trên không phải là một việc dễ dàng.

Quốc gia đầu tiên muốn gõ cửa Nhật Bản là nước Nga. Vào đầu thế kỷ 18, Đại Đế Peter (1672-1725) là Sa Hoàng có rất nhiều quyền lực và tham vọng, đã quyết định mở mang miền Siberia . Đây là một vùng đất bao la, rất giàu tài nguyên nhưng khí hậu rất khắc nghiệt. Vào thời đại của Sa Hoàng Peter, di chuyển hàng hóa qua miền Siberia chỉ trông cậy vào các con chó chạy trên những cánh đồng tuyết phủ mênh mông, còn dùng đường biển đi từ một hải cảng trên biển Baltic tới hải cảng Okhotsk tại Siberia phải mất hơn một năm. Hơn nữa, các hải cảng thuộc miền đông lại đóng băng 10 tháng trong một năm và chỉ dùng được trong 2 tháng 8 và 9. Việc chuyên chở tài nguyên Siberia là quặng mỏ và sản phẩm rừng, chỉ trông cậy vào các con tầu biển chở nặng và các hải trình dài đòi hỏi tới các hải cảng thân hữu để các con tầu này cập bến lấy đồ ăn và nước uống. Ngoài ra, các con tầu Nga đi tới Siberia còn cần một nơi chờ đợi cho băng tuyết tan đi. Một hải cảng của Nhật Bản đúng là một nơi lý tưởng. Với ý định như thế, Đại Đế Peter ra lệnh cho các học giả học tiếng Nhật qua các sách của người Hòa Lan và cho tầu thuyền thám hiểm các hòn đảo Kuril nằm giữa nước Nga và nước Nhật. Nhưng Đại Đế Peter đã chết trước khi có các tiếp xúc chính thức giữa hai nước.

Tới cuối thế kỷ 18, nước Nga lại có một nhà vua nhiều quyền lực là Nữ Hoàng Catherine (1729-96). Bà vua này cố gắng nối tiếp các liên lạc chính thức với Nhật Bản nên vào năm 1792, một phái đoàn Nga đã tới hải cảng Nemuro thuộc hòn đảo phía bắc Hokkaido. Để có được tình cảm tốt đẹp, phái đoàn này còn đưa về Nhật Bản các người Nhật bị đắm tầu và được đối xử tử tế tại đất Nga. Phái đoàn Nga xin phép tới Edo là kinh đô của Nhật Bản thời đó để thương lượng việc buôn bán nhưng đã bị từ chối. Tới năm 1804, một phái đoàn Nga khác cũng tới hải cảng Nagasaki và cũng bị chính quyền Shogun (将軍 Tướng Quân) cự tuyệt.
Shogun (将軍 Tướng Quân)

Sự việc hai lần khước từ buôn bán với nước Nga đã khiến cho tại Edo, những người có trách nhiệm quốc gia phải quan tâm. Hokkaido là một hòn đảo thưa dân, ở phía bắc, rất cần được phát triển để mang lại thực phẩm cho các hòn đảo tại phía nam. Sự liên lạc với nước Nga có thể giúp ích cho việc phát triển này. Nếu phái đoàn Nga kiên nhẫn hơn, nán ở lại Nhật Bản lâu hơn thì việc thương lượng có thể có kết quả. Tuy nhiên, vị đại sứ Nga không kiên nhẫn, đã tự ý ra lệnh cho một tầu chiến tấn công một vùng biển của đảo Hokkaido. Việc dùng võ lực này đã khiến cho chính quyền Shogun quyết định tăng cường võ trang để bảo vệ Nhật Bản và càng cấm cản người nước ngoài.

Năm sau, 1808, một tầu chiến Anh chạy vào hải cảng Nagasaki và thuyền trưởng của con tầu đã bắt buộc vị tổng trấn thành phố phải cung cấp các đồ ăn và nước uống cần thiết. Nhiều tầu Anh khác cũng làm như vậy và vào năm 1824, đã có các cuộc chiến giữa các thủy thủ người Anh và một số người Nhật Bản.

Tất cả các biến cố kể trên phối hợp lại đã khiến cho chính quyền Shogun ban ra một sắc luật mới vào năm 1825, ra lệnh bắn phá tất cả các tầu thuyền ngoại quốc tới gần các bờ biển Nhật Bản và giết hay bắt tất cả các thủy thủ xa lạ. Các chính quyền địa phương Nhật được lệnh toàn quyền thi hành sắc lệnh này mà không cần hỏi về kinh đô Edo. Trước kia, các tầu biển nước ngoài nếu thiếu nước uống và đồ ăn thực sự, có thể ghé các hải cảng Nhật Bản trong một thời gian thật ngắn, nhưng sau khi sắc luật kể trên được ban hành thì mọi tầu bè ngoại quốc đều bị từ chối dứt khoát. Hành động cứng dắn của chính quyền Shogun kể trên lại càng làm cho chính quyền này bất lực về sau.

Cũng vào khoảng thời gian này, tại Trung Hoa, các thương nhân người Anh đã bán thuốc phiện trồng tại Ấn Độ cho các dân ghiền người Hoa. Vì thế Hoàng Đế Trung Hoa đã ra lệnh việc bán thuốc phiện phải bị chấm dứt và tại một hải cảng miền Quảng Đông, một số lớn thuốc phiện của người Anh bị tịch thu và đốt bỏ. Nước Anh vì vậy đòi nước Trung Hoa bồi thường và khi bị từ chối, các tầu chiến Anh đã bắn phá bờ biển Trung Hoa. Đó là cuộc “Chiến Tranh Nha Phiến”. Lực lượng Trung Hoa không thể chống lại hạm đội Anh nên một số hải cảng Quảng Đông, hải cảng Thượng Hải và thành phố Nam Kinh bị chiếm đóng. Hiệp Ước Nam Kinh ký năm 1842 nhường cho nước Anh hòn đảo Hồng Kông gần Quảng Đông và đặc quyền cho phép người Anh buôn bán tại 5 hải cảng Trung Hoa.

Tại châu Á, Trung Hoa từ xưa vẫn được coi là một nước lớn, hùng mạnh nhất mà không thể chống cự nổi hạm đội Anh, điều này đã làm cho Nhật Bản phải suy nghĩ. Một số lãnh chúa Nhật đã khuyến cáo chính phủ nên giao thương ngay với các nước Tây Phương để có cơ hội mua võ khí ngõ hầu bảo vệ Nhật Bản. Tuy nhiên chính quyền Shogun vẫn cương quyết bế quan tỏa cảng, nhưng việc học hỏi Tây Phương có thể được làm ngơ để người Nhật biết cách chế tạo ra các võ khí mới.

2. Đô Đốc Perry tới nước Nhật

Sau nước Nga và nước Anh, Hoa Kỳ là quốc gia thứ ba đòi hỏi Nhật Bản phải mở hải cảng, giao thương với các nước ngoài. Vào thập niên 1840, Hoa Kỳ đã quan tâm tới Thái Bình Dương. Năm 1846, nước Anh công nhận quyền lợi của Hoa Kỳ tại miền đất Oregon và hai năm sau đó, Tây Ban Nha chịu nhường thuộc địa là miền California sau cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ. Năm 1849, cuộc khám phá ra vàng tại California đã tạo nên cuộc săn vàng sôi nổi tại miền tây Hoa Kỳ. Đã có một dự định xây dựng một đường xe lửa xuyên qua lục địa Bắc Mỹ và một dự án về tầu thủy băng qua Thái Bình Dương để tới Trung Hoa. Các quốc gia chính của châu Âu đang hướng về thị trường hàng triệu người tiêu thụ của châu Á để bán ra các sản phẩm dư thừa của họ, tạo nên bởi các phương pháp sản xuất của cuộc cách mạng kỹ nghệ. Hoa Kỳ cũng muốn chia phần trong việc tìm kiếm thị trường quốc tế. Ngoài ra vùng biển bắc Thái Bình Dương là nơi rất tốt để săn cá voi và đã có hơn 500 người Mỹ hành nghề tại vùng biển này. Những lý do kể trên khiến cho Hoa Kỳ hướng về châu Á.

Nhật Bản là miền đất nằm trên đường đi từ California tới Trung Hoa. Một thập niên về trước, nước Anh đã dễ dàng ép buộc Trung Hoa phải mở cửa để cho người nước ngoài vào buôn bán nên vào lúc này, Hoa Kỳ cũng muốn làm áp lực với Nhật Bản vì người Nga đang có các toan tính về thị trường Nhật. Vì thế, Hoa Kỳ phái một đoàn tầu chiến tới kinh đô Edo. Cầm đầu hạm đội Hoa Kỳ là Đô Đốc Matthew Calbraith Perry (1794-1858).

Đô Đốc Perry thuộc một gia đình hải quân truyền thống. Anh của ông là Oliver Hazard Perry là một vị anh hùng trong trận chiến Hồ Erie của cuộc chiến 1812. Còn chính Perry, ông đã chỉ huy lực lượng hải quân Mỹ lớn nhất thời đó trong cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ và đã thắng lợi trong cuộc tấn công hải cảng Veracruz. Ông cũng là một nhà ngoại giao trong các cuộc thương thảo tại Canada, Naples và Nigeria. Đô Đốc Perry luôn luôn bênh vực quan điểm là Hải Quân Mỹ nên dùng tầu thủy chạy bằng hơi nước để thay thế loại tầu biển dùng buồn, vì vậy trong hạm đội của ông đi tới Nhật Bản đã có hai tầu thủy. Ngoài ra, đặc tính thích hợp nhất của ông trong việc thương lượng với Nhật Bản là tính kiên nhẫn.

Mùa thu năm 1852, Đô Đốc Perry rời hải cảng Annapolis để đi Nhật Bản, có Tổng Thống Hoa Kỳ Millard Fillmore tới tận nơi từ biệt. Đây là vị đô đốc thứ tư của Hoa Kỳ được gửi đi Nhật Bản kể từ năm 1845, vì các lần trước đều thất bại. Vào ngày thứ Sáu, mồng 8 tháng 7 năm 1853, hạm đội của Đô Đốc Perry tiến vào vịnh Edo (nay là vịnh Tokyo) trước các con mắt rất ngạc nhiên và thán phục của người Nhật Bản vì họ chưa từng được trông thấy hai chiếc tầu thủy chạy ngược gió. Hạm đội này đã bỏ neo tại thành phố Uraga, trên bờ phía tây của vịnh Edo.

Sự xuất hiện quá nhanh và bất ngờ của hạm đội Mỹ đã khiến cho chính quyền Shogun không biết cách phản ứng, vì vậy cách hay nhất của họ là trì hoãn việc đối phó, trong khi đó dân chúng Nhật đã kéo tới Uraga để nhìn thấy rõ các con tầu chiến Hoa Kỳ. Vào thời đó, các tầu thuyền của Nhật Bản còn làm bằng gỗ, thô sơ, không sơn phết, trong khi chiến hạm Mỹ được đóng theo kỹ thuật mới và sơn màu đen.

Lúc cập bến cảng Nhật Bản, Đô Đốc Perry đã từ chối gặp các nhân viên cấp dưới và sau một buổi lễ long trọng, đã trao bức thư của Tổng Thống Fillmore cho một hoàng tử Nhật để chuyển về cho Thiên Hoàng. Bức thư này đã nhã nhặn đòi hỏi ba điều: việc thương mại trên căn bản thử nghiệm, việc đối xử nhân đạo đối với các thủy thủ Mỹ gặp nạn và việc bán than đá cho các tầu thủy Hoa Kỳ. Chính quyền Shogun lúc đó đã không trả lời ngay mà yêu cầu hạm đội Mỹ ra đi vì bức thư đã được chấp nhận. Đô Đốc Perry hẹn sẽ trở lại sau một năm với một hạm đội hùng mạnh hơn. Shogun sau đó đã hội họp với các lãnh chúa để hỏi ý kiến và tìm ra giải pháp. Lòng ái quốc, lòng hãnh diện quốc gia và chính sách bế quan tỏa cảng đã không cho phép họ chấp nhận các điều yêu cầu của Hoa Kỳ. Nhưng vũ khí hùng mạnh của hạm đội Mỹ lại có thể gây nên những rắc rối giống như người Anh đã làm tại Trung Hoa.

Ngày 11 tháng 2 năm 1854, Đô Đốc Perry trở lại vịnh Edo, lần này với 8 tầu chiến. 5 ủy viên của chính quyền Shogun đã họp với Đô Đốc Perry tại một làng thuộc tỉnh Yokohama và cuối cùng, vào ngày 31 tháng 3, họ đã ký với nhau thỏa ước Kanagawa, chấp thuận đối xử tử tế với các thủy thủ bị đắm tầu người Hoa Kỳ, cho phép các tầu biển Hoa Kỳ được cặp bến tại hải cảng Shimoda, nằm 100 dặm về phía nam của Edo, tại hải cảng Hokodate thuộc hòn đảo Hokkaido, và cũng chấp nhận trụ sở của một viên lãnh sự Hoa Kỳ tại Shimoda để sau này dàn xếp việc thương mại. Việc phê chuẩn thỏa ước được phía Hoa Kỳ làm ngay, nhưng phía Nhật Bản đã để mất nhiều thời giờ hơn. Bắt chước Hoa Kỳ, các nước Anh, Hòa Lan và Nga cũng đòi hỏi các nhượng bộ tương tự và Nhật Bản không còn cách nào khác hơn là chấp nhận.

Tháng 8 năm 1856, viên lãnh sự Hoa Kỳ đầu tiên tên là Towsend Harris tới nhận nhiệm sở tại hải cảng Shimoda. Vị này đòi hỏi Nhật Bản không những mở hải cảng để giúp các tầu biển cần tiếp liệu mà còn phải thi hành việc thương mại toàn diện. Vào thời này, nhiều người Nhật đã thấy rằng thỏa ước bất công, có tính một chiều bởi vì Nhật Bản không thể buôn bán tại Hoa Kỳ, song Nhật Bản quá yếu, không làm sao ngăn cản được áp lực ngoại quốc và đã đến lúc phải chấm dứt chế độ Shogun Tokugawa (Tướng Quân) đã nắm quyền lực hai thế kỷ rưỡi. Các lãnh chúa đã bàn tính tới việc phục hồi quyền lực cho Thiên Hoàng. Kyoto do đó đã trở nên một trung tâm chính trị sôi động. Một khẩu hiệu phổ biến vào thời kỳ đó là “Tôn vinh Thiên Hoàng, đánh đuổi các kẻ man rợ “. Một số lãnh chúa thế lực đã mời Thiên Hoàng và các nhà quý tộc tham dự vào các buổi bàn thảo về chính sách quốc gia, một việc làm đầu tiên trong nhiều thế kỷ.

Trong một cố gắng để làm yên lòng phe đối lập đối với các đòi hỏi thương mại mới, Shogun Tokugawa đã mang thỏa ước để xin Thiên Hoàng chấp thuận. Vào các thập niên trước, tất nhiên Thiên Hoàng phải đồng ý nhưng lần này, Thiên Hoàng đã bác bỏ. Một lý do là vì hải cảng phải mở cửa là Osaka, quá gần với Kyoto. Thiên Hoàng lại khuyến cáo chính quyền Shogun phải quan tâm đến các ý kiến của các lãnh chúa mạnh thế.

Tháng 8 năm 1858, Shogun thứ 13 tên là Iesada qua đời. Hội Đồng Niên Lão đã chỉ định một Đại Thần có quyền hành động như một nhà độc tài để phục hồi quyền hành trung ương. Vị này phải đủ mạnh để bắt giữ các lãnh chúa đối lập, chọn ra một Shogun mới và ký thỏa ước với Hoa Kỳ. Vào lúc này, các nước Anh, Hòa Lan, Nga và Pháp cũng đòi hỏi các thỏa ước tương tự, khiến cho sự bất mãn càng gia tăng nhất là khi nhiều người ngoại quốc bắt đầu tới Nhật Bản.

Năm 1860, vị Đại Thần bị ám sát chết. Lúc này, một số võ sĩ Samurai Nhật đã đốt nhà của nhiều người ngoại quốc và giết chết một số người khác. Tầu chiến các nước phương Tây liền trả thù lại bằng cách bắn phá các hải cảng Nhật. Chính quyền Shogun càng ngày càng trở nên bất lực, không kiểm soát nổi tình thế. Có hai thành phố đã mua lậu võ khí tây phương là Satsuma ở phía nam của đảo Kyushu, và Choshu ở phía tây của đảo lớn Honshu. Họ đã tổ chức được 2 đội quân gồm các samurai trẻ, có khả năng. Những người ngày thấy rằng cần phải thiết lập nên một chính phủ mới dưới quyền của Thiên Hoàng và hủy bỏ chế độ Shogun (Tướng Quân). Một trong các samurai trẻ kể trên sau này trở nên một chính khách lỗi lạc của nước Nhật, đó là Ito Hirobumi, sinh năm 1841 trong một gia đình võ sĩ đạo thuộc miền Choshu.

Ito Hirobumi cho rằng cách hay nhất để học hỏi Tây Phương là đi qua phương Tây. Với đạo luật bế quan, ra khỏi nước Nhật có thể bị khép tội tử hình. Nhưng Ito, 22 tuổi, và 4 người trẻ khác đã trốn lậu trên một con tầu biển hướng tới Thượng Hải, đó là vào năm 1863. Tới Thượng Hải, Ito xin làm thuyền viên trên một con tầu khác để đi tới London, nước Anh.

Năm 1864, lãnh chúa tỉnh Choshu đã ra lệnh cho các đại pháo trên bờ bắn vào các con tầu ngoại quốc chạy vô các eo biển hẹp giữa hai đảo Honshu và Kyushu. Kết quả là các đại pháo này đã bị các tầu biển tây phương tiêu diệt dễ dàng. Rồi tỉnh Satsuma cũng gặp các kinh nghiệm tương tự. Điều chứng minh rõ ràng này đã khiến cho người Nhật Bản nhận biết sự cần thiết phải xử dụng võ khí và học hỏi kỹ thuật chiến tranh của Tây Phương. Ito Hirobumi được phái tới Nagasaki để lo việc nhập cảng võ khí của nước Anh.

Tháng 9 năm 1866, vị Shogun thứ 14 chết sau 8 năm cầm quyền. Kế tiếp là Shogun thứ 15 và cũng là Tướng quân cuối cùng của giòng họ Tokugawa. Năm 1867, Thiên Hoàng qua đời, kế vị là một hoàng tử 14 tuổi tên là Mutsuhito.

Ngày 3 tháng 1 năm 1868, các đội quân của hai tỉnh Satsuma và Choshu đã chiếm Hoàng Cung Kyoto. Những người lãnh đạo cuộc nổi dậy đã triệu tập một hội đồng hoàng tộc để điều khiển đất nước và hội đồng này gồm những người không muốn tiếp tục chế độ Shogun. Từ tháng 4 năm 1868, Shogun trở thành một trong các lãnh chúa và quyền lực của giòng họ Tokugawa bị chấm dứt sau hai thế kỷ rưỡi.

Hội đồng cai trị Nhật Bản đã tuyên bố rằng Thiên Hoàng cần được phục hồi quyền lực cũ. Vị Vua của triều đại mới này là “Thiên Hoàng Minh Trị“, người đã mở ra một trang sử rực rỡ cho nước Nhật.

Phạm Văn Tuấn

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Khuyến học: Phần VII - Trách nhiệm của quốc dân

Trong phần Sáu, tôi đã bàn về “Sự quý giá của luật pháp” và đề cập tới “hai vài trò của quốc dân”. Để bổ sung thêm cho Phần Sáu, trong Phần Bảy này, tôi muốn giải thích kỹ hơn về nhiệm vụ, vai trò đó.
Có thể nói ở mỗi quốc dân, người nào cũng đều có hai vai trò. Thứ nhất là với tư cách một người dân đứng dưới chính phủ, tức là vai trò “khách”. Thứ hai là trên cơ sở mọi người dân trong đất nước thống nhất tự nguyện kết nối thành một công ty mang tên “quốc gia”, đề ra quy định, luật pháp và đưa “quốc gia” vào hoạt động, tức là vai trò làm “chủ”.

Tôi giả dụ thế này: Có 100 thị dân định lập công tu thương mại gì đó. Mọi người cùng bàn bạc quyết định thành lập, đề ra quy chế nội quy rồi đưa công ty vào hoạt động. Khi đó cả 100 người đều là chủ nhân của công ty. Và dựa vào những điều đã cùng nhau quy định, mọi người thống nhất tuân theo nó, thì khi đó 100 người đồng thời cũng là nhân viên công ty.

Đất nước giống như công ty, nhân dân giống như nhân viên, mỗi người vừa đứng trên vị trí cai trị vừa đứng trên vị trí duy trì sự cai trị ấy, vừa là chủ vừa là khách.

Nghĩa vụ của quốc dân:

Đứng trên góc độ là “khách”, thì mọi quốc dân ai cũng phải tôn trọng luật pháp, đồng thời không được quên rằng “tất cả mọi người đều bình đẳng”. Anh không xâm phạm đến quyền lợi của tôi thì ngược lại tôi cũng không được cản trở quyền lợi của anh. Anh có niềm vui của anh thì tôi cũng có niềm vui của tôi. Không được chiếm đoạt niềm vui của người ta. Không được cướp của người ta để làm giàu cho nhà mình. Không được giết người, không được thậm thụt mật báo, bới móc dựng chuyện cho người khác. Việc tuân thủ luật pháp, tôi cũng như anh phải tuân theo quy định như nhau.

Luật pháp do chính phủ lập ra, cho dù còn nhiều điểm rắc rối, xa rời thực tế, thì cũng không có đạo lý nào cho phép chúng ta tùy tiện thích thì theo, không thích thì vu phạm. Ngay cả việc đại sự như quyết định chiến tranh, hay ký các hiệp ước ngoại giao cũng đều thuộc thẩm quyền của chính phủ. Quyền hạn đó, vốn dĩ là thỏa thuận với quốc dân và chúng ta đã trao cho chính phủ. Vì thế, nếu không can hệ tới đại sự thì không nên tranh luận.

Nếu quốc dân chúng ta quên tình thần này, kể cả trường hợp cách xử lý của chính phủ trải hẳn với tôn chỉ mục đích của chúng ta đi chăng nữa, chúng ta cũng không nên tranh cãi tùy tiện, không thể xuất phát từ lợi ích nhỏ mà xóa bỏ thỏa thuận, bạo động khiêu khích gây ra chiến tranh với ngoại bang, như thế nền độc lập của nước ta một ngày cũng không mong giữ nổi.

Điều này cũng giống như ví dụ về công ty thương mại mà tôi đưa ra ở trên. Trong số 100 thành viên có 10 người được chọn vào hội đồng quản trị. Dù có bất mãn hay không hài lòng với cách làm của 10 người đó thì cũng không vì thế mà 90 người còn lại, tự ý làm theo suy nghĩ của riêng mình. Chẳng hạn 10 thành viên hội đồng quản trị muốn nhập rượu để bán thì 90 người kia lại muốn nhập gạo về. Bàn bạc đôi co không ai chịu ai, rồi mạnh bên nào bên nấy làm, quên hẳn những điều đã quy định với nhau, thì thử hỏi công việc kinh doanh của công ty sẽ ra sao? Chẳng phải là mọi sự chia rẽ đều dẫn tới tổn thất khiến cho tất cả 100 người đều phải gánh chịu đó sao?

Vì thế nếu mới chỉ cảm nhận luật pháp còn sai, bất cập thì không coi đó là cái cớ để phá bỏ nó. Và giả sử sự bất chính, bất cập có là sự thực đi chăng nữa thì phải bình tĩnh kháng nghị, kiên trì kháng nghị đến khi chính phủ phải sửa đổ mới thôi. Khi chính phủ cố tình làm ngơ, thì hợp sức lại kiên nhẫn chờ đợi thời cơ.

Quyền lợi của quốc dân:

Nếu đứng ở góc độ chủ nhân để bàn thì quốc dân một nước cũng chính là chính phủ của nước đó. Vì sao vậy? Đương nhiên toàn thể quốc dân không thể tất cả đều làm chính trị. Chúng ta thỏa thuận với nhau lập ra chính phủ, chúng ta quyết định giao cho chính phủ thi hành luật pháp với tư cách là người thay mặt cho chúng ta.

Vì lẽ đó, hân dân là chủ nhân của đất nước, là gia chủ của người cai trị và chính phủ là người đại diện, người cai trị. Giống như từ trong số 100 người lập công ty, chọn ra 10 người vào hội đồng quản trị tức là vào chính phủ, số 90 người còn lại là nhân dân. Cho dù là nhân dân – số 90 người còn lại – không trực tiếp làm các sự vụ quan trọng, nhưng một khi đã giao phó cho 10 thành viên thay mặt mình thì nếu suy xét thật kỹ thì bản thân mỗi chúng ta chẳng phải là chỉ nhân của công ty đó sao?

Mặt khác, 10 người trong hội đồng quản trị, hiện đang điều hành hoạt động của công ty, nhận được sự tin cậy của nhân viên, gánh nặng trách nhiệm nhằm đáp ứng tình cảm đó, vì thế phải đem hết sức mình trong công vụ của công ty, không được nghĩ tới cái lợi cho bản thân. Bây giờ nếu thử suy nghĩ điều trên, người ta thường gọi việc tham gia vào chính phủ là công vụ, việc công. Gốc gác của từ này là công việc của chính phủ không phải là sự vụ cá nhân của các quan chức. Mà nó có nghĩa là thay mặt chó nhân dân, thực hiện việc công, việc chung cho cả xã hội, để cai trị toàn bộ đất nước.

Phải đóng thuế:

Chính phủ dựa trên sự tin cậy, ủy thác của dân, thực hiện đúng lời hứa trước dân, không được phân biệt đốt xử đối với dân, phải mang lại quyền lợi tối đa cho nhân dân. Tức là pháp luật phải nghiệm minh. Không được phép hưởng lợi bất chính dù là cái lợi đó có nhỏ nhặt đến mấy. Giả dụ, có một toán cướp đột nhập vào nhà dân. Lúc đó chỉnh phủ biết, nhưng làm gơ không có bất cứ biện pháp gì để trấn áp, thì có thể nói rằng chính phủ đó cũng là lũ cướp và chẳng khác gì đồng đảng của lũ cướp. Chính phủ có trách nhiệm của chính phủ thì mỗi người dân cũng có trách nhiệm của mình.

Giả dụ, một quan chức chỉnh phủ mắc sai sót trong quá trình thực thi công vụ, làm tổn thất 3 vạn yen. Ngay cả tiền để đền bù tổn thất cho chính phủ, bản thân người đó cũng không có, Và đương nhiên quốc dân chúng ta là nơi xuất ra khoản tiền bồi thường thiệt hại đó.

Nếu đem chia số tiền tổn thất là 3 vạn yen cho 30 triệu người – là tổng dân số Nhật bản chúng ta hiện nay – thì đổ đồng mỗi đầu người phải chịu 10 mon (đơn vị tiền lè thời Minh Trị, bằng 1/100 yen, hiện nay không còn sử dụng nữa). Một quan chức chính phủ mười lần gây tổn thất như vậy thì số tiền mỗi quốc dân phải gánh chịu là 100 mon. Điều này cũng có nghĩa là một gia đình có năm nhân khẩu thì số tiền phải gánh chịu là 500 mon. Số tiền này đối với nông dân ở vùng quê tương đương với một bữa ăn tối ngon lành cho cả nhà gồm ông bà đến con cháu. Vậy mà sự lỗi lầm của một quan chức như nói trên vô thìn trung đã cướp đi niềm vui của những người dân lương thiện, những người nông dân làm việc cật lực cả ngày ngoài đồng. Thật hết chỗ nói.

Thế là quốc dân chúng ta liền nghĩ việc gì phải chi tiền cho những việc ngu xuẩn như vậy. Nhưng cũng chẳng có cách nào khác vì chúng ta là gia chủ của chính phủ, là chủ nhân của đất nước. Vả lại ngay từ đầu chúng ta đã thỏa thuận và giao phó công việc chính tị, tài chính của Nhật bản cho chính phủ rổi, nên cũng không thể mỗi khi xảy ra những chuyện chẳng hay ho của các quan chức là chúng ta lại qua bận tâm luận bàn, bực bội. Điều quan trọng hơn là thường nhật chúng ta phải hợp tác hết lòng với chính phủ. Trên cơ sở đó ta xem xét mọi việc làm của chính phủ, nếu thấy các quan chức hành động sai trai, chúng ta phải dám nói, phải tố cáo một cách trung thực với chính phủ, chứ đừng im lặng để mọi việc xảy ra rồi mới kêu ca.

Nhân dân chúng ta là chủ nhân của quốc gia, nên không thể chỉ vì trả khoản chi phí nói trên mà chúng ta bực bội khó chịu. Lương của các quan chức chính phủ, ngân sách quốc phòng, lương của công chức các cấp từ trung ương tới địa phương... đó là những khoản tiền khổng lồ nếu gộp lại, nhưng nếu chia đều ra cho từng người thì chúng ta mỗi người sẽ phải chỉ gánh chịu 1 hoặc 2 yen thôi. Chỉ cần trả số tiền như vậy trong suốt cả năm, đổi lại nhận được sự bảo vệ của chính phủ, được yên ổn làm ăn, tự do sinh sống thì cũng đáng “đồng tiền bát gạo” chứ sao?

Dù thế nào đi chăng nữa, chúng ta – mỗi quốc dân Nhật bản – phải thực hiện tốt việc đóng thuế cho chính phủ.

Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt:

Nhân dân lẫn chính phủ, nếu cả hai phía đều làm trọng bổn phận, trách nhiệm của mình thì chẳng cần phải nói gì thêm cả. Nhưng cũng có những lúc chính phủ đi chệch hướng, thi hành lối chính trị chuyên chế bạo tàn, chạy theo quyền lực vô tri thức.

Những lúc như thế, nhân dân buộc phải hành động. Và sẽ hành động theo một trong ba giải pháp như sau. Hoặc từ bỏ khí tiết, khuất phục chính phủ. Hoặc phản kháng chính phủ bằng bạo lực. Hoặc sẵn sàng hiến thân, hu sinh tính mạng chứ không chịu để mất khí tiết. Tôi xin giải thích rõ hơn:

Giải pháp thứ nhất: Nếu chấp nhận vứt bỏ khí tiết, tuân theo chính phủ vô điều kiện thì có thể coi đây là biện pháp mù quáng.

Tôi đã giải thích ở phần trước: Đạo làm người là tuân theo đạo trời. Nếu vất bỏ đạo lý, khí tiết, đồng lõa với những sai trái bất chính thì tự chúng ta đã làm hỏng vị thế của con người và tập quán xấu đó sẽ truyền tới đời con, đời cháu.

Từ trước tới nay, ở Nhật bản có nhiều chính phủ thi hành chế độ chính trị chuyên chế bạo ngược đối với lũ dân ngu muội chúng ta. Nền chính trị bạo người sẽ không thể kéo dài mãi được. Biết vậy nhưng lặng thinh chấp nhận cảnh sống cùng cực chỉ vì sợ Tướng quân – Mạc phủ nổi giận và trấn áp. Chính điều này là ví dụ rõ ràng nhất mà tôi phải nói: Nếu nhân dân từ bỏ vị thế của mình thì tương lai bất hạnh sẽ chờ đón chúng ta.

Giải pháp thứ hai: Cá nhân chống lại chính quyền, là điều không tường. Vì thế mà tập hợp nhau, lập nhóm lập đảng gâu nên nội chiện, nội loạn. Cách này tôi không cho là cách làm nghiêm tức. Bởi nếu xảy ra nội loạn thì vấn đề phân biệt thiện, ác sẽ bị loại bỏ. Các bên chỉ dựa vào sức mạnh trên chiến trường để giải quyết. Và kẻ thắng sẽ quyết định tất cả. Mà các bạn hãy xem lại lịch sử từ cô chí kim của Nhật bản sẽ rõ: dân chúng ta không bao giờ cũng yếu hơn chính phủ. Tôi nghĩ thế này, nếu suy nghĩ về nguyên nhân của loạn lạc nội chiến thì rõ ràng do oán giận căm ghét sự vô nhân đạo, không có tình người của tầng lớp cai trị, nên mới dẫn đến xảy ra các cuộc nổi dậy chống đối. Và không có gì vô nhân đạo, không đếm xỉađến tình người cho bằng nội loạn. Tình người bị chia cắt, cha con, anh em trở thành thù địch, nhà của bị cướp phá, giết chóc lẫn nhau, sự tàn bạo kinh khủng không sao kể xiết. Mà phe thằng có lập ra chính phủ thì có gì đảm bảo chính phủ đó sẽ thực thi một đường hướng chính trị tử tế, vì họ sinh ra trong máu của nội loạn kia mà.

Giải pháp thứ ba: Giữ trọn đạo lý chính nghĩa, sẵn sàng hi sinh mạng sống trước mọi áp bức của chính quyền. Tức là tin tưởng một lòng một dạ vào đạo trời, dù phải chịu mọi cực hình của chính quyền chuyên chế, bạo ngược cũng không khuất phục, giữ vững khí tiết, bảo vệ chân lý, niền tin, hơn nữa không bao giờ sử dụng vũ khí bạo lực, chỉ dùng đạo lý để kháng cáo với chính phủ.

Trong cả ba giải pháp, tôi cho rằng giải pháp thứ ba là thượng sách. Nếu chúng ta chất cấn chính quyền bằng lý lẽ thì những luật pháp tốt hoặc những chính sách tuyệt vời hiện hành trong quốc pháp không bị ảnh hưởng. Thuyết phục bằng lý lẽ, điều đó sẽ thấm dần vào lòng người theo lẽ tự nhiên. Năm nay, thuyết phục chưa được thì sang năm tiếp tục thuyết phục cho tới khi chính quyền hiểu ra. Vì mục đích của nó là ngăn chặn và cải thiện bất chính trong chính quyền. Và một khi chính phủ đã chấp thuận cải thiện chính sách thì việc chất vấn chính phủ cũng sẽ chấm dứt.

Nếu chúng ta dùng sức mạnh đối địch với chính phủ thì chính phủ cũng sẽ đáp trả lại bằng việc đàn áp, bắt bớ. Quan chức chính phủ dù có là những kẻ bạo chính thì cũng là người Nhật bản chúng ta cả. Trước những lời lẽ đúng với đạo lý của những người chất vấn chính phủ trong hòa bình và sẵn sàng hi sinh thân mình vì đạo lý đó thì không có lẽ không thuyết phục hoặc không làm lay động được các quan chức chính phủ. Tôi nghĩ rằng họ không thể không hối hận về những lầm lỗi, sai trí của họ và sẽ cải tà quy chánh.

Như thế nào là “từ vì đạo”?

Ở phương Tây, người ta gọi những người ưu tư trăn trở trong xã hội, coi nhẹ bản thân, sẵn sàng hi sinh cho nhân loại bất chấp hiểm nguy là những người “Tử vì đạo”. Tính mạng mất đi chỉ là tính mạng cả một người nhưng hiệu quả mang lại hơn hẳn bất kỳ một cuộc nội chiến nào làm chết đi hàng triệu sinh linh, tiêu tốn hàng triệu tiền bạc.

Từ xa xưa, ở Nhật bản có biết bao người chết trận, biết bao kẻ tự mổ bụng tự vẫn. Những người này đều được xã hội đánh giá cao, nào là trung thần nghĩa sĩ, nào là đáng mặt anh hùng. Thế nhưng các bạn hãy cùng tôi thử tìm hiểu nguyên nhân vì sao họ lại dám xả thân như vậy? Có thể nói phần lớn họ đều bị cuốn vào các cuộc nội chiến giữa hai thế lực tranh giành quyền lực chính trị trong xã hội. Ví như cuộc chiến tranh Nam Bắc Nhật Bản chẳng hạn (cuộc nội chiến dai dẳng suốt 60 năm từ năm 1336 đến 1395 giữa hai thế lực Thiên Hoàng (nam Triều) và Mạc phủ (bắc Triều)). Hoặc họ chết trong các trận đánh để báo thù cho lãnh chúa. Những cái chết của họ gây nên sự xúc động trong xã hội. Quả thật, họ chết thật khảng khái, thật đẹp đẽ. Những nghĩ kỹ mà xem, những cái chết đó thực ra có đem lại ích lợi chân chính gì cho xã hội không? Trong khi bản thân họ, một chữ bẻ đôi cũng không biết, năng lực nhìn nhận sự việc không có, lại luôn bì nhồi vào đầu nào là phải trung thành với chúa, nào là không giữ trọn chữ trung thì thà chết còn hơn. Cho dù dư luận xã hội có chấp nhận và tha thứ đi nữa, thì giờ đây đứng trên tinh thần của công cuộc khai hóa văn minh để nhìn nhận, chỉ có thể khẳng định rằng họ hoàn toàn không hiểu thế nào là sự hi sinh chân chính, không hiểu ý nghĩa đích thực của việc chết vinh còn hơn sống nhục.

Xưa nay, nói tới văn minh là nói tới trí dục và đức dục, tức là khả năng nâng cao tri thức và đạo đức con người. Mỗi người đều mang nhân cách riêng của từng cá thể độc lập, hòa mình  vào xã hội, không xâm phạm đến người khác và cũng không bị người khác làm hại. Mỗi người đều tự xác lập quyền lợi riêng của mình, trên cơ sở đó đem lại sự ổn định và phồn thịnh cho toàn xã hội.

Phải chăng cuộc nội chiến Nam Bắc, những cái chết của các võ sĩ vô chủ là hoàn toàn phù hợp với tinh thần của văn minh, là đạt được mục tiêu “đưa đường chỉ lối cho xã hội đến với văn minh”? Có đúng là cứ thắng trong cuộc nội chiến đó, cứ chém giết thật nhiều những kẻ đối địch, không làm bẽ mặt các lãnh chúa là sẽ mang lại văn minh cho xã hội, công thương nghiệp sẽ phát triển, một xã hội phồn vinh sẽ đến?
Phải biết hi sinh thân mình như thế nào?

Không biết đã bao nhiều lần tôi được nghe những câu chuyện đại loại như một người hầu nọ chủ sai cầm tiền đi mua rượu. Giữa đường người hầu chẳng may đánh mất đồng tiền, phần lo sợ, phần bối rối vì không làm đúng lời chủ dặn, nên treo cổ tự tử trên một cành cây dọc đường.

Giờ đây, nếu thương cảm với tâm trạng khi tự vẫn của người hầu trung nghĩa ấy, cũng như tìm hiểu kỹ hoàn cảnh lúc bấy giờ thì quả thật trong chúng ta sẽ dấy lên long xót thương tội nghiệp. Ra đi mãi mãi không quay về. Lấy cái chết để chuộc lỗi với chủ. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng khiến người đời phải xót xa, rơi lệ.

Lẽ ra, người hầu đáng được lưu danh trong dân chúng vì lòng trung thành của anh ta, cũng giống như lòng trung thành của các nghĩa sĩ trung thần. Vậy thì vì sao người ta không những không ngợi khen lòng trung thành của người hầu nọ, mà ngược lại còn tỏ ra khinh miệt hành động của anh ta? Người ta nói thế này: “Cái chết của người hầu chẳng qua chỉ vì một đồng bạc, sự thể có ghê gớm đến mức phải bỏ mạng như vậy đâu”. Nhưng dù suy luận như thế thì ngay việc đem câu chuyện đặt lên bàn cân để cân nhắc nặng nhẹ cũng là điều không nên. Không chỉ vì số tiền bị mất lớn hay nhỏ, và số người chết nhiều hay ít.

Ý nghĩa của cái chết chỉ được đánh giá nặng nhẹ tùy thuộc vào điều đó có lợi gì cho sự tiến bộ  của nền văn minh xã hội. Bỏ mình trên chiến trường cho lãnh chúa sau khi đã tiêu diệt hàng vạn quân địch của các nghĩa sĩ, hay tự tử chỉ vì làm mất một cắc bạc của người hầu, suy cho cùng thì cả hai cách chết này giống nhau ở chỗ đều không mang lại ích lợi gì cho xã hội. Và cũng không thể coi trọng cái chết nào cả. Có thể nói rằng cả nghĩa sĩ lẫn người hầu đều dâng hiến tính mạng một cách uổng phí. Những cái chết như vậy, không thể gọi là “tử vì đạo” được.

Theo như tôi biết ở Nhật bản, cũng có một người suốt đời chủ trương cho quyền lợi của nhân dân, kiên trì kháng nghị với chính quyền bằng đạo lý. Ông ấy đã hi sinh thân mình cho đạo lý, ông đã “tử vì đạo” không một chút hổ thẹn với đời. Ông ấy sống ở vùng Chiba, tên là Sagura Shyugorou. Ông khảng khái tâu trình với Tướng quân về sự tàn bạo của lãnh chúa cai trị lãnh địa nơi ông sinh sống. Toàn bộ gia tộc của ông bị xử chém, nhưng dân chúng trong lãnh địa được ông cứu thoát khỏi cảnh cùng khổ. Tiếc thay, những gì biết về ông chỉ được người đời lưu lại trong truyền thuyết ghi ở các cuốn Kusazoushi dân gian, mà chưa tìm thấy một tài liệu chính thức nào trong chính sử. Đến một lúc nào đó tìm ra được các tài liệu chính thức, tôi muốn ghi nhận công đức của ông và coi cuộc đời ông là quy phạm, chuẩn mực trong xã hội.


Tháng 3 năm Minh Trị thứ bảy (tức năm 1874)

Giáo dục tổng quát

Tổng quan

Văn minh phương Tây có truyền thống giáo dục theo tinh thần tự do từ lâu đời, ở đó kiến thức tổng quát, sự hiểu biết và tôn trọng ý kiến của người khác được coi là điểm nhấn của toàn bộ sự phát triển cá nhân trong đó có việc đào tạo nghề nghiệp. Tư tưởng này có lẽ đã bắt đầu từ Hy lạp cổ đại và ngày càng trở nên rõ ràng hơn đối với ba khoa là ngữ pháp, tu từ và logic, và sau này là tứ khoa dạy ở nhà trường trung cổ: số học, hình học, thiên văn và âm nhạc. Truyền thống này vẫn tiếp tục đến ngày nay và hiện nay giáo dục tri thức tổng quát theo tinh thần trên vẫn là một thành tố quan trọng của giáo dục đại học ở tất cả các quốc gia phát triển. Vai trò của nó trong việc tạo nên các nhà lãnh đạo và những công dân ưu tú thể hiện rất rõ trong lãnh vực nhà nước cũng như tư nhân. Khó lòng có được một số liệu thống kê có tính toàn cầu, nhưng ấn tượng dễ thấy là mối quan tâm đối với chương trình giáo dục tri thức tổng quát đang phát triển mạnh ở phương Tây.

Có thể thấy rõ sự tương phản ở các quốc gia đang phát triển. Nhất là từ sau thế chiến thứ hai, khi những quốc gia này giành được độc lập thì giáo dục tri thức tổng quát trở thành một cái gì được coi là xa xỉ và không cần thiết. Điều đó được phản ánh trong chương trình của cả giáo dục phổ thông lẫn giáo dục đại học, nơi mà việc đào tạo nghề nghiệp thường được coi trọng hơn. Nhà nước tránh xa chương trình giáo dục tri thức tổng quát, coi đó như sản phẩm của những kẻ coi mình là ưu việt, biểu tượng cho những giá trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây đang bị thù ghét, và để có nó, ắt là phải trả một giá đắt. Chỉ đến thời gian rất gần đây mới có những dấu hiệu cho thấy là thái độ đó đang thay đổi, nhưng nhận thức về lợi ích của chương trình giáo dục tri thức tổng quát vẫn còn là điều còn xa mới có thể trở thành phổ biến.

Bài viết này sẽ trình bày vai trò sống còn của giáo dục tri thức tổng quát đối với các trường đại học và cao đẳng ở các quốc gia đang phát triển – cả trong chương trình đào tạo đại học lẫn sau đại học. Những điều chúng tôi trình bày sau đây là sự suy xét dựa trên kết quả nghiên cứu và quan sát ở nhiều quốc gia khác nhau. Tất nhiên chúng ta phải hiểu rằng mỗi quốc gia là một trường hợp cụ thể và không thể đưa ra những chứng minh đúng cho tất cả mọi trường hợp. Tuy vậy chúng tôi tin rằng những nhận định này là dựa trên cơ sở lịch sử và logic.

Chương trình giáo dục tri thức tổng quát ở các quốc gia đang phát triển

Như đã được trích dẫn trong một bản báo cáo gần đây về Nhiệm vụ của Giáo dục đại học và xã hội (2000)- một văn bản nêu ra hiện trạng và tương lai của giáo dục đại học trong các quốc gia đang phát triển-, một người được giáo dục trong tinh thần tự do là:
  • người có thể suy nghĩ và sử dụng ngôn ngữ viết một cách rõ ràng, có hiệu quả, một cách có phê phán, có thể dùng ngôn ngữ để giao tiếp với sự sâu sắc và có sức mạnh thuyết phục.
  • người có một sự đánh giá có tính chất phê phán đối với cái cách mà chúng ta tiếp nhận kiến thức và sự hiểu biết về tự nhiên, về xã hội, và về bản thân chúng ta,
  • người có một kiến thức rộng rãi về các nền văn hóa và các thời đại, có khả năng quyết định trên cơ sở một thế giới quan rộng lớn và sự hiểu biết về những sức mạnh lịch sử chi phối cuộc sống của chúng ta,
  • người có hiểu biết và từng trải trong việc suy nghĩ một cách hệ thống về những vấn đề đạo đức và lương tâm.
  • người đạt được chiều sâu trong một vài lĩnh vực nào đó của tri thức.

Trong các quốc gia đang phát triển, những người có các phẩm chất nêu trên thường là những người xuất thân từ tầng lớp giàu có thượng lưu. Điều này ngày nay trở nên không còn hoàn toàn đúng ở phương Tây bởi vì nền giáo dục trên tinh thần tự do như thế đã được mở rộng không phải chỉ ở một số các trường đại học có tính chọn lọc như trước nữa. Chẳng hạn như ở nước Mỹ con số và tỉ lệ tốt nghiệp đại học hàng năm đã giảm bớt và rồi tăng trở lại trong vòng ba mươi năm qua.

Ở một số quốc gia đang phát triển, nhu cầu nhân lực gia tăng do công nghiệp hóa đã làm chậm lại quá trình lan rộng của chương trình giáo dục tri thức tổng quát. Thay vì cung cấp cho học sinh một nền tảng giáo dục chung rộng rãi, hệ thống giáo dục đại học Xôviết đã quá tập trung vào việc dạy những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp Xô viết từ những năm 1930, kiểu đào tạo nghề nghiệp như vậy lan rộng trước hết ở những nước cộng hòa không phải là nước Nga, rồi sau đó tiếp tục phát triển ngoài mặt trận. Nhà chính trị và triết gia Irakly Areshidze (1999) đã nhận định: "Sau khi được nhận vào trường đại học, trong năm năm tiếp theo sinh viên sẽ đeo đuổi một nền giáo dục tập trung vào việc đem lại cho họ những tri thức cụ thể và có giới hạn về một lãnh vực nghề nghiệp nào đó. Sinh viên sẽ học thuộc lòng thông tin trong sách giáo khoa và bài giảng của các giáo sư. Hiếm khi nào họ cảm thấy cần phải suy nghĩ một cách có phân tích, có phê phán và hiếm khi họ tiến hành thảo luận lớp hoặc viết bài."

Trong nhiều quốc gia đang phát triển, sự thiếu hụt tư duy phê phán đã từng được chính họ đề cập từ lâu. Như Lão Tử đã nói cách đây 2500 năm: "Con người khó cai trị vì họ có quá nhiều tri thức". Những kẻ cầm quyền của chủ nghĩa thực dân cũng hiểu rất rõ rằng vì sự tồn tại của chính mình, họ cần đầu tư cho đào tạo nghề nghiệp hơn là cho một nền giáo dục tự do.

Chính sách tài trợ cũng tiếp tay cho việc tập trung vào đào tạo nghề nghiệp. Những tổ chức như Ngân hàng Thế giới có truyền thống khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng và những tổ chức lớn mạnh như là trọng tâm của phát triển. Điều đó tất nhiên đòi hỏi phải có những công nhân lành nghề. Xây dựng hạ tầng đòi hỏi phải có những kỹ sư giỏi, xây dựng một hệ thống tài chính lành mạnh cần có những nhân viên, kế toán viên được trang bị đủ kiến thức chuyên môn, cũng như xây dựng một hệ thống y tế thì phải có những người được đào tạo về kiến thức y khoa hiện đại. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi hệ thống giáo dục đại học ở các quốc gia đang phát triển quá chú trọng đến những mục tiêu cụ thể trong việc tạo ra những người có thể sẵn sàng tham gia ngay vào thị trường lao động.

Có những lý do quan trọng khác khiến các gia đình muốn gửi con em đến những trường tập trung hơn vào việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp. Đầu tư cho giáo dục đại học, cả theo nghĩa chi phí trực tiếp và chi phí tạo ra cơ hội, là cả một vấn đề đối với nhiều gia đình ở các quốc gia nghèo. Cho dù học phí có được miễn thì cái gánh nặng chi phí về tiền ăn ở, tiền sách vở tài liệu phải chi trả trong lúc đứa con đã có thể kiếm ra được tiền cho gia đình là một sự hy sinh vô cùng to lớn. Bởi vậy sự mong muốn lấy lại thật nhanh số tiền đã đầu tư là điều có thể hiểu được, và những khóa học nghiệp vụ thường được coi như cung cấp một cơ hội thu hồi vốn nhanh hơn và chắc chắn hơn so với một chương trình giáo dục tri thức tổng quát.

Nhu cầu về chương trình giáo dục tri thức tổng quát

Bằng cách dạy cho sinh viên how to think (cách suy nghĩ) hơn là what to think (nội dung suy nghĩ), how to learn (cách học) hơn là what to learn (nội dung học), chương trình giáo dục tri thức tổng quát tạo ra những người có thể thích nghi và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của một nền kinh tế và môi trường xã hội đang thay đổi nhanh chóng. Trong cơn lốc đáp ứng cho một xã hội thay đổi quá nhanh, người ta rất dễ bỏ sót những mục tiêu dài hạn. Có quan điểm cho rằng một người kỹ sư chỉ nên học những phần việc kỹ thuật trong nghề nghiệp của họ, không cần chú ý tới những nhân tố xã hội và môi trường trong công việc của họ. Kỹ năng thiết kế và bảo trì cầu đường rõ ràng là điều thiết yếu đối với mọi quốc gia, nhưng nếu những người lập kế hoạch và hoạch định chính sách không nhận biết được hay là không tính đến quan điểm của cư dân địa phương thì những tác động xã hội tiêu cực của dự án sẽ là không sao lường được, thậm chí có thể đe dọa những kết quả kinh tế tích cực. Một ví dụ khác, thực phẩm biến đổi gen đã tạo ra nhu cầu khổng lồ và ngày càng gia tăng đối với các chuyên viên kỹ thuật ở các quốc gia đang phát triển. Những chuyên gia này rất cần thiết nếu như các quốc gia trên biết tận dụng lợi ích của loại thực phẩm này (về mặt dinh dưỡng, sức khỏe, và giá cả) trong khi tìm cách giảm thiểu rủi ro (sự xâm lấn giống loài, những căn bệnh mới chưa có thuốc điều trị của người, vật nuôi và cây trồng..., và sự phụ thuộc của các quốc gia đang phát triển vào những nhà cung cấp giống trong các quốc gia phát triển). Thực phẩm biến đổi gen cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ngoài khoa học, như là những vấn đề liên quan đến đạo đức, quy tắc xã hội, thực tiễn công việc, đời sống cộng đồng, quá trình toàn cầu hóa và sự thống trị thế giới. Khó mà hình dung được các quốc gia đang phát triển có thể giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả mà không có sự lãnh đạo của những cá nhân được tiếp thụ tinh thần của nền giáo dục tự do.

Đối với tầng lớp thu nhập cao những lợi ích của chương trình giáo dục tri thức tổng quát là hiển nhiên và chủ yếu là đối với cá nhân những người được tiếp nhận nền giáo dục này. Nhưng chương trình giáo dục tri thức tổng quát cũng mang lại những lợi ích hiển nhiên đối với những thành viên khác của cộng đồng xã hội. Mặc dù khó lòng đưa ra được những sự kiện khẳng định tuyệt đối, chúng ta cũng có thể nhận định về những điều chủ yếu mà những chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể đem lại cho xã hội.

Trước hết là về kinh tế. Chúng ta nghĩ rằng các nhà lãnh đạo có khả năng cải cách nhiều hơn khi họ bị khích động bởi một phạm vi rộng rãi các ngành học được bao gồm trong chương trình giáo dục tri thức tổng quát. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, những cải cách như vậy có thể có ý nghĩa như một sự dịch chuyển đến những lãnh vực mới và có sức sản sinh cao, và thích nghi với kỹ thuật cao là để tạo ra nhiều cơ hội việc làm và giảm bớt tình trạng nghèo đói trong nước. Chương trình giáo dục tri thức tổng quát khuyến khích người ta đặt câu hỏi, thử thách cách nghĩ thông thường, và điều đó có thể là một chất xúc tác quan trọng cho việc gia tăng dòng chảy kinh tế. Hơn nữa, chương trình giáo dục tri thức tổng quát còn nâng cao những giá trị mà xã hội thừa nhận như những phẩm chất xứng đáng, đối lập với địa vị hoặc sự giàu có được thừa hưởng từ gia đình. Trong nhiều quốc gia đang phát triển, sự lạm quyền của những kẻ cầm quyền trong việc ưu đãi công ăn việc làm và chức quyền cho bà con thân thuộc của mình có thể cản trở công cuộc phát triển kinh tế.

Hai là những nhân tố có liên quan đến việc hoạch định chính sách. Không làm gì có một công thức chuẩn cho mục tiêu phát triển, nhưng rất nhiều sự kiện thực tế đã cho thấy là trình độ cao về quản lý nhà nước và quản lý kinh tế vĩ mô, cùng với sự quan tâm thích đáng đến giáo dục và y tế, cũng như sự hội nhập với nền kinh tế thế giới bao giờ cũng là những nhân tố đắc dụng. Tất cả những công cụ này của việc phát triển – đôi khi chúng không chỉ là công cụ mà còn là mục đích, chẳng hạn như đối với giáo dục và y tế- đều đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng tổng quát cũng như chuyên ngành.

Tác động của giáo dục tri thức tổng quát trong việc tham gia chính trị là khả năng thứ ba đối với lợi ích của cộng đồng. Các nhà lãnh đạo tài giỏi có thể đưa đất nước tiến lên, nhưng một cộng đồng công dân gồm những người nắm được đầy đủ thông tin và có mối liên hệ gắn bó với lợi ích chung của đất nước bao giờ cũng là một lực lượng đối trọng có tính chất xây dựng và hết sức cần thiết đối với quyền lực của các nhà lãnh đạo. Một nền dân chủ tiêu biểu, nhân tố có đóng góp hết sức quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và xã hội lâu dài ở phương Tây, tùy thuộc chủ yếu vào số đông công dân có tinh thần phê phán – những người được thông tin đầy đủ, có khả năng tiêu hóa và làm việc với những tư tưởng phức hợp. Bằng cách phổ biến kiến thức và khuyến khích tranh luận, sự mở rộng chương trình giáo dục tri thức tổng quát ra ngoài phạm vi của những nhóm người ưu tú sẽ dẫn tới một cộng đồng công dân gắn bó nhiều hơn với những vấn đề chung của xã hội và đất nước.

Bốn là ảnh hưởng đối với sức mạnh cố kết của xã hội. Bằng cách đặt người học trước những quan điểm hết sức khác nhau và khuyến khích họ liên kết những nền văn hóa và những lãnh vực chuyên biệt khác nhau, chúng ta hy vọng rằng chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể giúp phát triển sự khoan dung và hiểu biết giữa người và người. Chương trình giáo dục tri thức tổng quát cũng có thể thúc đẩy ý thức cộng đồng và tinh thần hợp tác trong công việc để đạt được một mục tiêu chung. Bằng cách mở rộng và đào sâu kiến thức về lịch sử, nghệ thuật và khoa học, nó khuyến khích niềm tự hào của chúng ta về nền văn hóa của chính mình cũng như khuyến khích sự tôn trọng những nền văn hóa khác. Giáo dục trên tinh thần tự do, bởi vậy có một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tinh thần của công chúng, điều mà những quốc gia phát triển và cả những quốc gia đang phát triển đều đòi hỏi như nhau khi cùng làm việc để nắm bắt cơ hội và giải quyết những vấn đề đang tồn tại.

Năm là chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể góp phần ngăn chặn khả năng chảy máu chất xám. Những người có cơ hội thụ hưởng một nền giáo dục chất lượng cao và được xây dựng trên một nền tảng rộng rãi phóng khoáng ở đất nước mình thì có nhiều khả năng là sẽ theo đuổi việc học tập trong nước thay vì phải chi phí tốn kém cho việc học tập ở nước ngoài. Điều này có thể mang lại một lợi thế bổ sung cho phụ nữ, những người không được gia đình sẵn lòng cho đi học ở nước ngoài. Tương tự như vậy, những người học ở nước ngoài sẽ có nhiều khả năng quay về nếu họ biết rằng họ có thể tìm được một môi trường làm việc thích hợp. Một lợi ích liên quan khác là chương trình giáo dục tự do cổ vũ văn hóa học tập suốt đời, điều này tiếp sức cho sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa tri thức và khuyến khích sự đào tạo chuyên môn ở nước ngoài nhằm phục vụ cho công việc ở trong nước vì lợi ích của chính đất nước mình.

Cuối cùng là vấn đề toàn cầu hóa. Chúng ta tin rằng giáo dục tri thức tổng quát trên tinh thần tự do thúc đẩy sự liên kết không chỉ trong phạm vi một xã hội mà còn giữa xã hội này và xã hội khác. Chẳng hạn như việc nghiên cứu về các tôn giáo trên thế giới có thể giúp người học thấy được mối quan hệ giữa các tôn giáo trong cùng một thời điểm cũng như có thể hiểu biết và đánh giá đúng sự khác biệt của các tôn giáo ấy. Văn học, lịch sử và ngôn ngữ có thể cho thấy ánh sáng quá khứ của một đất nước cũng như phản ánh cách nghĩ hiện tại của một dân tộc. Trong một thế giới ngày càng gia tăng nhiều mối liên hệ, sự cảm thông với những nền văn hóa khác có thể thúc đẩy những quan hệ hòa bình và tạo ra những quan hệ giao tiếp văn hóa cũng như quan hệ kinh doanh có hiệu quả.

Toàn cầu hóa cũng tạo ra sự thay đổi không khí kinh tế. Trao đổi thương mại giữa các quốc gia khiến nhiều nền kinh tế có khả năng dịch chuyển tới những vùng đất mới. Sự phát triển kinh tế thành công thường đi cùng với một loạt các giá trị công nghiệp. Đào tạo chuyên gia trong những lĩnh vực cụ thể, do đó nhanh chóng trở thành lỗi thời, và khi nghề nghiệp của mỗi người trở thành một cái gì luôn luôn biến đổi và đòi hỏi nhiều kỹ năng linh hoạt thì khả năng học tập mau lẹ những kỹ năng mới trở thành một yêu cầu bức thiết. Kỹ thuật phát triển quá nhanh khiến yêu cầu này càng gia tăng mạnh mẽ. Kiến thức trở thành ưu thế cạnh tranh đối với mỗi cá nhân cũng như đối với mỗi nền kinh tế, và những kỹ năng tổng quát được nền giáo dục tổng quát khuyến khích phát triển sẽ tạo ra thế cân bằng với sự tăng trưởng những giá trị liên quan tới những năng lực cụ thể.

Đi cùng với xu hướng hội nhập toàn cầu là những phương thức làm việc mới. Sự gia tăng số lượng kiến thức có nghĩa là, như Michael Gibbons (1998) nhận định, bất kể bạn đang ở đâu, hơn 99% kiến thức mà bạn cần đến đang nằm đâu đó ở một nơi nào khác. Bởi vậy những liên hệ mới phải được xây dựng thông qua các ngành kiến thức và thông qua văn hóa. Mạng liên kết các chuyên gia, nơi mà các cuộc tranh luận sôi sùng sục như chảo dầu nóng, là một nguồn tri thức không ngừng biến đổi thúc đẩy nền kinh tế tiến về phía trước. Cách nghĩ và cách làm việc như vậy là đặc điểm chủ yếu của chương trình giáo dục tri thức tổng quát, một chương trình giáo dục khuyến khích người học xây dựng những mối liên hệ thông qua các lĩnh vực kiến thức khác nhau và rút tỉa từ tư tưởng của người khác trong quá trình cùng làm việc để nâng cao trình độ và giải quyết vấn đề.

Chúng ta hiểu rằng mối liên hệ giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của xã hội được gán cho những nhân tố của giáo dục tổng quát trên đây là sự pha trộn giữa hy vọng và thực tế. Có thể còn nhiều cơ hội chưa được khám phá, và một nền giáo dục hoàn hảo tự nó không thể tránh khỏi tất cả mọi loại tác động không hay. Tuy vậy những nhân tố trên đây cũng đã phản ánh những khả năng và những gì đã xảy ra trong những xã hội khác nhau khi những xã hội này chuyển từ nghèo đói đến giàu mạnh.

Phát triển nền giáo dục tổng quát

Có rất nhiều câu hỏi quan trọng được đặt ra khi người ta thử thiết kế một chương trình giáo dục tri thức tổng quát cho các quốc gia đang phát triển.

Câu hỏi đầu tiên là dạy cái gì. Chương trình giáo dục tri thức tổng quát ở phương Tây đã tiến triển qua nhiều thời kỳ để đạt đến sự lựa chọn trên một nền tảng rộng rãi, phóng khoáng, gồm các bộ môn lịch sử, chính trị, văn học, ngôn ngữ và sinh học. Những quốc gia đang phát triển có một cơ hội quý báu để học hỏi từ kinh nghiệm của phương Tây, nhưng đồng thời cũng cần lưu ý đến đặc điểm của môi trường chính trị, xã hội, và kinh tế của mình. Ủy ban Phát triển Nông thôn của Bangladesh (BRAC) vừa thành lập một trường đại học được xây dựng trên nguyên tắc của chương trình giáo dục tri thức tổng quát và điều này đã phản ánh nhu cầu và khát vọng của xã hội Bangladesh qua việc tạo ra một tầng lớp trí thức - những người sẽ làm việc để giúp cho đất nước mình giảm bớt nghèo đói và vượt qua hàng loạt khó khăn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe, giáo dục và việc làm. Báo cáo về Nhiệm vụ của Giáo dục Đại học năm 2000 của Bangladesh nêu tóm tắt chiến lược của họ trong việc thiết kế chương trình giáo dục tri thức tổng quát là như sau:

"Bắt đầu bằng một chương trình nghiên cứu quy mô phát động trong số các cán bộ nhân viên, sinh viên và phụ huynh tiềm năng của nhà trường, cũng như trong số các trường đại học có nhiều thành tựu nổi bật của địa phương, BRAC muốn bảo đảm không chỉ khả năng đứng vững về tài chính thông qua số lượng sinh viên nhập học ban đầu mà còn là sức thu hút đối với những người sử dụng lao động ở địa phương, được chứng minh bằng dòng chảy của sinh viên tốt nghiệp hàng năm. Điều này tiếp tục có tác dụng trở lại đối với việc duy trì và phát triển số lượng sinh viên nhập học."

Những nghiên cứu của BRAC đã cho thấy là những người sử dụng lao động tìm kiếm những sinh viên tốt nghiệp có khả năng phân tích và kỹ năng viết tốt, biết sử dụng tiếng Anh và có khả năng giao tiếp tốt. Khả năng suy nghĩ độc lập và có sáng kiến trong khi thực hiện nhiệm vụ cũng được đánh giá cao. BRAC nhận ra rằng mối liên hệ với những người có vai trò trọng yếu ở địa phương trong quá trình thiết kế chương trình học có lẽ là cách tốt nhất để phát huy tối đa lợi ích mà nhà trường có thể đem lại cho xã hội. Kiên trì với kiểu mẫu của chương trình giáo dục tri thức tổng quát, BRAC yêu cầu mọi sinh viên theo đuổi những chủ đề học tập đa dạng bao gồm cả những khóa học quan trọng ngoài lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình.

Nội dung của chương trình giáo dục tri thức tổng quát tất nhiên là có khác nhau ở những quốc gia khác nhau. Mỗi quốc gia cần tiếp thu bài học của những nơi khác và điều chỉnh nó để thích hợp với nhu cầu của chính mình. Chẳng hạn Nam Phi, nơi tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, có thể không cần những khóa đào tạo về tiếng Anh như là ở Hàn Quốc, mà cần đặc biệt tập trung vào nhu cầu của đất nước trong việc xây dựng những tổ chức vững mạnh. Do vậy mà những môn như luật, triết học, kinh tế, và chính trị sẽ có một ý nghĩa quan trọng hơn. Việc thiết kế một chương trình giáo dục có tính tổng quát trên tinh thần tự do tạo cơ hội đưa ra những câu hỏi cơ bản như là vấn đề gì đang đặt ra đối với một xã hội cụ thể. Nó cũng tạo cơ hội tập trung vào lịch sử, văn hóa, và những giá trị của mỗi quốc gia. Thực hiện tất cả những điều này sẽ giúp tiếp thêm sinh lực cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, và đồng thời có thể làm thay đổi cách nghĩ của xã hội về chính bản thân nó.

Một khi đã xác định được dạy cái gì, các nhà giáo dục cần phải quyết định dạy như thế nào. Kiểu học thuộc lòng thụ động tiêu biểu cho giáo dục đại học ở các quốc gia đang phát triển khiến vấn đề này trở thành cực kỳ quan trọng. Những phương pháp giảng dạy mới yêu cầu người học có một vai trò chủ động hơn sẽ hết sức thích hợp với yêu cầu ngày càng gia tăng của cách làm việc cần có sự hợp tác và phối hợp trong một xã hội tri thức. Nền giáo dục tổng quát được vận hành một cách có hiệu quả có thể đem lại cho người học một cái khả năng khởi đầu bằng việc phát triển những kỹ năng cần thiết trong việc cùng làm việc với người khác để giải quyết vấn đề và đi đến một giải pháp.

Trong thực tế, việc tìm được những giảng viên đại học có thể tham dự vào quá trình học tập tương tác như thế là một trở ngại chính cho việc phát triển chương trình giáo dục kiến thức tổng quát ở các quốc gia đang phát triển, bởi truyền thống "học tập một cách có chủ định" ("intentional learning") ở đây quá mờ nhạt.

Cuộc cải cách sẽ chỉ có thể được thực hiện khi những nhân tố chính trị được tính đến một cách hoàn toàn thực tế. Những nhà hoạch định chính sách và những người có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế và xã hội đều phải cùng nhận thức được rằng trong lúc những nhân tố sư phạm hiểu theo nghĩa hẹp và nhân tố kỹ thuật trong những cuộc cải cách như vậy là rất quan trọng, thì đó cũng mới chỉ là một phần của vấn đề. Điều quan trọng không kém là những mối quan tâm rộng rãi của sinh viên, phụ huynh và các nhà giáo dục ở mọi cấp, của các doanh nghiệp, các nhà tài trợ – nếu có nhóm nào trong số đó không quan tâm tới cuộc cải cách, sự thành công của nó có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Câu hỏi thứ ba mà các nhà thiết kế chương trình phải trả lời, là làm cách nào để người học nhận thức được tinh thần của chương trình giáo dục tri thức tổng quát. Hiện nay, như chúng ta có thể thấy, việc đào tạo những lĩnh vực chuyên môn cụ thể đang có sức cám dỗ mạnh hơn nhiều so với những bộ môn có tính tổng quát hơn. Tranh thủ sự đồng tình và cộng tác của những người sử dụng lao động là một điểm then chốt để giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn Trường Đại học Quốc gia Singapore đã tiến hành một chương trình giáo dục tri thức tổng quát mới cho một số sinh viên của mình, với một mục tiêu đầy tham vọng là những sinh viên này có thể sánh ngang với sinh viên của những trường đại học danh tiếng ở các quốc gia giàu có. Những nỗ lực này được sự ủng hộ của các công ty và doanh nghiệp địa phương, những người mà tuyên bố chính thức của họ về giá trị của các khóa học dĩ nhiên là có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sinh viên và phụ huynh. Giá trị của chương trình giáo dục tri thức tổng quát tự nó khó lòng bắt nguồn từ xu hướng đào tạo kỹ thuật. Bởi vậy những nỗ lực phối hợp là hết sức cần thiết để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục tri thức tổng quát đối với từng cá nhân và cả xã hội.

Vấn đề cuối cùng cần trình bày là phương tiện để thực hiện chương trình giáo dục tri thức tổng quát. Do tính chất bao gồm nhiều lãnh vực chuyên môn rộng rãi và tỉ lệ sinh viên/ giáo viên thấp, giáo dục tri thức tổng quát có xu hướng tương đối đắt đỏ đối với đào tạo nghề nghiệp cụ thể, cho nên ở các nước nghèo không phải ai cũng có điều kiện theo học đầy đủ các khóa học thiết kế trong chương trình này. Những trường đại học được xây dựng theo kiểu truyền thống trong cùng lãnh vực sẽ có thể cung cấp những chương trình chuyên sâu hơn, nhưng để chương trình giáo dục tri thức tổng quát có thể đóng góp tốt hơn cho xã hội, việc mở rộng những nhóm sinh viên ưu tú là hết sức cần thiết và quan trọng. Trường đại học tư Aga Khan (AKU) của Pakistan dùng một phần tài sản được hiến tặng của họ để cấp học bổng cho sinh viên nhằm mở rộng những khóa học về khoa học và nghệ thuật tổng quát cho những đối tượng không thuộc nhóm giàu có của xã hội.

Mặc dù rất khó khái quát hóa về đề tài này bởi vì hệ thống giáo dục chuyên nghiệp đang thay đổi trong một phạm vi rộng lớn, nhưng có thể nói việc xây dựng một nền tảng giáo dục tri thức tổng quát như một thành tố của những khóa học về chuyên môn và kỹ thuật là một cách đầy hứa hẹn để mở rộng phương tiện tiếp cận chương trình giáo dục tri thức tổng quát. Điều này giúp kéo dài việc học tập của các chuyên viên và đem lại cho họ một nền tảng tốt hơn để đương đầu với những đổi thay trong điều kiện kinh tế và xã hội cụ thể. Thúc đẩy và cổ vũ giáo dục tri thức tổng quát trong những khóa học chuyên môn còn có thể giúp sinh viên kết hợp chặt chẽ những mục tiêu xã hội rộng lớn vào quá trình tương tác giữa họ và những người làm việc ở những lãnh vực khác nhau trong đất nước mình, hơn nữa, cả hai xu hướng trên đều có thể được thực hiện đồng thời. Kiên trì với mục tiêu này, AKU tuyên bố rằng sinh viên tốt nghiệp từ khoa y của họ sẽ có đủ khả năng để "nắm giữ vai trò lãnh đạo trong những vấn đề có liên quan đến xã hội."

Hầu hết những quốc gia đang phát triển sẽ thấy không cần thiết mà cũng chẳng có khả năng thực hiện việc đưa chương trình giáo dục tri thức tổng quát vào tất cả các trường đại học và cao đẳng của mình. Thực ra, không phải tất cả, hoặc hầu hết sinh viên đều cần có một nền tảng tổng quát như vậy. Các quốc gia đang phát triển cần xây dựng một hệ thống giáo dục đại học gồm có nhiều kiểu loại trường khác nhau nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau, và một số trường sẽ vận dụng đôi chút nguyên lý và cách làm của giáo dục tri thức tổng quát, điều này cũng được áp dụng ngay ở các quốc gia phát triển. Nhưng sự gia tăng số lượng sinh viên với sự lựa chọn ít nhất một môn nền tảng của chương trình giáo dục tri thức tổng quát giúp đưa ra những người ưu tú "được dán nhãn", và làm cho nguồn nhân lực quốc gia thêm lớn mạnh. Các trường đại học cần cởi mở hơn trong tuyển chọn đầu vào để bảo đảm rằng những người không được thụ hưởng một nền giáo dục trung học rộng rãi sẽ có cơ hội bắt kịp và bộc lộ hết tiềm năng của mình. Trên tinh thần đó, chương trình nghệ thuật tự do của AKU đang xem xét khả năng của những khóa học có tính chất cầu nối nhằm giúp học sinh trung học từ những tầng lớp nghèo và từ những nước láng giềng có thể vượt qua sự thiếu hụt này.
Kết luận

Trong việc thực hiện chương trình giáo dục tri thức tổng quát, các nhà hoạch định chính sách và các nhà giáo dục đang phải đương đầu với hàng loạt thử thách. Cũng như việc thiết kế các khóa học sao cho nó đáp ứng được nhu cầu của xã hội, việc cổ vũ cho lợi ích của chương trình giáo dục tri thức tổng quát sẽ cần đến những nỗ lực lâu dài để lôi cuốn sinh viên khỏi cách nghĩ và mục tiêu theo lối truyền thống.

Hứa hẹn của những nỗ lực này là cực kỳ đáng giá. Trong quá khứ, chương trình giáo dục tri thức tổng quát được các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia đang phát triển xem là một thứ xa xỉ và chỉ có ý nghĩa đối với người giàu. Ngày nay nó đã trở thành một thứ tất yếu. Các nhà lãnh đạo với tầm nhìn không bị giới hạn bởi những lợi ích kinh tế ngắn hạn của nền giáo dục quá tập trung vào kỹ thuật chuyên nghiệp sẽ có cơ hội có những đóng góp có ý nghĩa lâu dài và đáng kể trong sự phát triển của đất nước mình.

David E. Bloom và Henry Rosovsky (Harvard University)
TS. Phạm Thị Ly dịch

Facebook Digg Stumbleupon Favorites More