"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người" - Fukuzawa Yukichi
"Thích điều nhân mà không thích học thành ra người ngu, thích mưu lược mà không thích học thành ra người tặc, thích điều thẳng mà không thích học thành ra người giảo, thích đức dũng mà không thích học thành ra người loạn, thích cương cường mà không thích học thành ra người cuồng!" - Khổng Tử
"Cách hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bạo ngược bất công là soi sáng đến hết mức có thể tâm trí của quần chúng và đặc biệt là cho họ tri thức và sự thật." - Thomas Jefferson
"Hòa bình không có nghĩa là hết xung đột; sự khác biệt luôn hiện diện trong quan hệ giữa người và người. Hòa bình là giải quyết sự khác biết đó thông qua những phương pháp ôn hòa; bằng đối thoại, giáo dục, sự hiểu biết; và bằng những cách thức khác mang tính nhân bản." - Dalai Lama

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Nguyễn Gia Kiểng: Vết thương ngày 30 tháng 4

Tôi biết X từ đầu thập niên 1960 tại trường Chu Văn An. X nổi tiếng học giỏi. Sau đó X đi du học Mỹ, tốt nghiệp một trường đại học danh tiếng, rồi về nước dạy đại học và làm tổng giám đốc một công ty, cưới vợ đẹp, thông minh và thuộc gia đình lớn. Nói chung là một cuộc đời hoàn toàn thành công. Không bằng X nhưng tôi cũng khá may mắn. Ngày 30-4-1975 đã ập tới, đánh một dấu chấm hết tàn bạo lên sự nghiệp của chúng tôi và kéo chúng tôi xuống vực thẳm.

Khi tôi đi cải tạo về, tôi lại gặp X, được trả tự do cách đó ít lâu. Chúng tôi làm cùng một cơ quan và ngồi cùng một phòng. Trong hơn một năm liền, hai đứa cả ngày gặp nhau và tâm sự. Chúng tôi theo đuổi cùng một dự định là vượt biên, nhưng còn chia sẻ với nhau một dự định khác to lớn hơn nhiều là thay đổi dòng lịch sử. Quyết tâm của chúng tôi là ra đi để tìm đường cứu nước chứ không phải để mưu tìm cuộc sống tiện nghi cá nhân.

Thời thế tạo anh hùng, một thư sinh như X mà hoàn cảnh đẩy đưa tới những thành tích khó tưởng tượng. Có lần trong hai ngày X bị bắt ba lần và đều vượt ngục được. Lần áp chót, X tổ chức đánh cướp một chiếc tàu nhà nước nhưng thất bại, bị bắt và trèo tường vượt ngục ngay tại Sài Gòn. Tôi phải giúp X lẩn trốn và tìm đường cho X vượt biên thoát vòng truy nã của công an. Đang loay hoay thì X cho hay đã tìm được một chuyến đi. Và lần này X đi lọt. Tôi nhận được thư báo tin mừng khoảng một hai tuần sau đó. Đó là cuối năm 1980.

Tôi kể câu chuyện này dài dòng như vậy chỉ để nói lên một điều : chúng tôi rất gắn bó với nhau và những kỷ niệm của chúng tôi chỉ có thể là sống để bụng chết mang theo.

Hai năm sau tôi cũng ra được nước ngoài và không hề nghe ai nhắc đến X. Tôi vốn đã ngạc nhiên ngay từ khi còn ở Việt Nam vì thấy X bặt tăm luôn. Tôi xin được địa chỉ của X nhưng không liên lạc, chờ tìm hiểu xem tại sao có sự bỏ cuộc đó. Tôi đánh mất địa chỉ X mấy lần, xin lại được, rồi lại để đó. Cho tới gần đây tôi quyết định gọi điện thoại cho X. Điều tôi không thể ngờ là X hoàn toàn quên tôi, kể cả tên ! Tôi cố nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa, X chỉ còn nhớ mang máng. Tôi biết X không nói dối, hắn quên thực, hắn cố nhớ mà không được. Nhưng X không hề mất trí, hắn đang giữ một chức vụ quan trọng, lương cao, trong một công ty kỹ thuật hiện đại. Hắn chọn ở một thành phố không có người Việt và không tìm gặp một người Việt nào. Chắc chắn đã phải có một chấn động ghê gớm, kinh khủng đến nỗi X quyết định quên hết, kể cả tổ quốc Việt Nam mà trước khi ra đi hắn coi như là một lý tưởng để phục vụ. Điều cũng chắc chắn là chấn động kinh khủng đó đã không, hay ít nhất không hoàn toàn, xảy ra trong lúc vượt biên, bằng cớ là khi đến nơi X vẫn còn viết thư về cho tôi. Phải hiểu rằng chính khi đã bình tĩnh ngồi ôn lại đời mình, X đã thấy tất cả đều vô nghĩa và lấy quyết định xóa bỏ quá khứ.

Ê chề như nhau

Ngày 30-4-1975 đã không đến trong niềm vui thống nhất đất nước, hòa giải và hòa hợp dân tộc mà mọi người mong ước. Sau ngày 30-4-1975, tôi đã nói với các cộng sự viên của mình là một trang sử vừa lật qua, có những lúc phải chống nhau nhưng cũng có những lúc phải cố gắng để bắt tay nhau xây dựng đất nước. Tôi chấp nhận thất bại và bằng lòng trả giá cho sự thất bại đó bằng cách từ đây không đòi hỏi bất cứ một vinh dự nào. Tôi chỉ còn một tham vọng làm được một vài điều lợi ích cho đất nước trong vai trò của một chuyên viên. Nhưng chỉ vài ngày sau tôi hiểu là ngay cả cái ao ước rất tầm thường đó cũng không thực hiện được. Những loa phóng thanh đặt khắp đường phố suốt ngày phát ra những bài vừa đắc thắng vừa miệt thị. Mọi chức vụ tại các công sở, nhà thương, trường học đều bị xóa bỏ, mọi thâm niên công vụ, hưu bổng, trợ cấp phế tật cũng đều bị xóa bỏ. Các xí nghiệp tư cũng được ''tiếp thu''. Thanh thiếu niên diện ''ngụy quân ngụy quyền'' bị đuổi khỏi trường học. Các đường phố, trường học mang tên những danh nhân miền Nam được đổi thành những đường mang tên liệt sĩ cộng sản, có khi chỉ là những tay khủng bố rất tầm thường. Sài Gòn cũng mất tên. Người chết cũng không yên, tượng tử sĩ ở nghĩa trang quân đội cũng bị giật sập. Khoai mì từ đây phải gọi là sắn, bắp là ngô, heo là lợn, nhà bảo sanh là nhà đẻ, hay xưởng đẻ. Người miền Nam mất tài sản, địa vị và vai trò. Miền Nam mất ngôn ngữ, mất tên và mất cả căn cước. Đây không phải là một cuộc thống nhất, mà là một cuộc chiếm đóng. Hòa giải và hòa hợp dân tộc được hiểu một cách giản dị là tha chết cho kẻ chiến bại.

Cho tới nay vẫn còn một số rất đông người cho là đảng cộng sản không hiểu gì về tổ chức của xã hội miền Nam khi bắt các sĩ quan biệt phái đi học tập cải tạo trong khi trên thực tế họ đã giải ngũ và chỉ là những người dân sự mà thôi. Làm sao đảng cộng sản lại không hiểu ? Họ hiểu, và họ hiểu rất rõ tổ chức của miền Nam. Nhưng chính sách tập trung cải tạo nhắm một mục đích khác : đánh gục vĩnh viễn miền Nam. Những sĩ quan biệt phái không bị bắt giam vì đã bị coi lầm là sĩ quan hiện dịch, họ bị tập trung cải tạo vì họ đã được huấn luyện quân sự và có khả năng chỉ huy một đơn vị quân đội. Bắt giam họ là để tiêu diệt mọi tiềm năng chống đối. Cũng không phải chỉ có họ, tất cả viên chức từ cấp phó giám đốc trở lên, rồi đến các doanh nhân có một chút tầm vóc và các văn nghệ sĩ, nói chung là tất cả những ai có thể có một vai trò lãnh đạo trực tiếp hay gián tiếp, dù là chính trị, quân sự, kinh tế hay văn hóa. Mục đích của chính sách cải tạo là để tiêu diệt đại bộ phận thành phần tinh nhuệ và trí tuệ của miền Nam. Không tàn sát, nhưng đập tan ý chí bằng cách đày đọa, và nhất là làm nhục.

Kế hoạch này không thể không thành công. Những năm dài tù tội đói khổ, sự thèm thuồng cục đường, trái chuối, củ khoai, miếng cơm cháy, và việc cất giấu đồ thăm nuôi, trùm chăn ăn lẻ làm con người mất sự tự trọng, hay ít nhất sự kính trọng lẫn nhau. Những đêm trằn trọc thương con, xót vợ. Những buổi ''làm việc'' ê chề với những câu hỏi khiêu khích (ăn hối lộ bao nhiêu ? hiếp dâm bao nhiêu lần ? bắt bao nhiêu con gà ? v.v...), kèm theo những lời quát tháo, lăng mạ. Những bản tự khai phải viết đi viết lại nhiều lần vì không thành thật khai báo, không đủ ăn năn hối cải. Những bài giảng chính trị của các cán bộ giảng dạy ngớ ngẩn, hách dịch và đắc chí. Một người bình thường không thể chống cự được quá một năm mà không thành phế nhân về một khía cạnh nào đó, trong khi thời gian giam cầm trung bình của một sĩ quan, công chức, doanh nhân hay trí thức lại không phải là một năm, mà là năm năm.

Nhưng cái nhục lớn nhất không phải ở trong trại tù mà ở ngoài xã hội. Phải thụ động chứng kiến cả một công trình đập phá đất nước và đập phá chính đời mình. Phải nhìn sự ngu dốt và xảo trá ngự trị trên chính quyền, và còn phải hoan hô !

Một lần tôi đi công tác với một cán bộ đảng ủy đến làm việc với một xí nghiệp ''công tư hợp doanh''. Nói là công tư hợp doanh nhưng thực ra đó là xí nghiệp của một tư nhân lập ra, sau này được nhà nước ''cho hợp doanh'' bằng cách cướp trắng xí nghiệp, giáng ông giám đốc chủ nhân xuống làm phó giám đốc và cử một đảng viên hoàn toàn không biết gì về nghề nghiệp cũng như về quản trị xí nghiệp làm giám đốc. Xí nghiệp lúc đó còn hoạt động cầm chừng. Anh đảng ủy, một người rất chất phác và dễ mến, nói ''bây giờ còn làm việc được, nhưng vài tháng nữa sẽ phải đi vào nền nếp và lúc đó là hết sản xuất''. Anh ta nói một cách rất thản nhiên và thành thực. Hình như anh ta thấy việc phá hoại một xí nghiệp là bình thường, cũng như việc nhà nước cướp trắng một cơ nghiệp của một người dựng ra bằng mồ hôi nước mắt. Tôi liếc nhìn ông phó giám đốc cựu chủ nhân và gặp mắt ông ta cũng nhìn tôi. Tôi chắc ông ấy muốn hét lên, văng tục, đập phá nhưng vẫn phải làm ra vẻ tán thành. Người miền Nam đã mất tất cả, mất nước trên chính quê hương mình, không có cả quyền khóc và không có cả quyền buồn.

Không phải chỉ đập phá vì ngu dốt mà còn vì nhẫn tâm. Ông Võ Văn Kiệt khi làm bí thư thành ủy Sài Gòn đã lấy quyết định ''giải tỏa'' nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hàng đêm ông cho bọn côn đồ vào đập phá mồ mả để cho người ta đau xót mà phải tự động dời mộ thân nhân đi. Tôi vào giúp người bạn cải táng mộ mẹ anh và chứng kiến hàng ngàn ngôi mộ bị đập phá tan tành, mỗi ngôi mộ thường là của cả gia đình với hàng chục hài cốt, có những người qua đời đã trên trăm năm. Rất nhiều gia đình đang di tản hài cốt thân nhân. Nhiều phụ nữ khóc sụt sùi, nhưng nói chung mọi người đều im lặng. Ánh mắt nào cũng đầy một hận thù ghê gớm. Không ai chửi mặc dầu không có công an ở đấy, mà dù có cũng không sao vì trong hoàn cảnh ấy ai cũng thông cảm. Nhưng người ta không chửi vì hình như sợ nếu chửi sẽ bớt căm thù. Mục đích của ông Kiệt chỉ là để chiếm một khu đất rộng xấp xỉ một hecta.

Chỉ có một số ít người có phương tiện để vượt biên. Nhưng vượt biên có thể là một tủi nhục còn lớn hơn. Một người, dù mệt mỏi và say sóng đến đâu, nhưng nếu đã phải chứng kiến một phụ nữ, có khi là chính vợ con mình, bị hải tặc hãm hiếp mà không thể can thiệp sẽ không thể giữ được trọn vẹn lòng tự hào trong phần còn lại của đời mình. Sau đó là cuộc sống rẻ rúng trên các trại tị nạn, những buổi xếp hàng ghi danh xin trợ cấp xã hội, cuộc sống biên tế lầm lũi với những công việc không tương xứng tại xã hội tiếp cư.

Không phải ai cũng có điều kiện để quên hết như anh bạn X của tôi. Phần đông cũng rất muốn quên mà không được. Họ vẫn phải sống trong những khu đông người Việt, vẫn phải nghe tới và nói tới Việt Nam. Họ vật vã để quên một cách khác. Họ coi những khu đông người Việt như những vùng đất Việt Nam còn giữ được, có vai trò thay thế cho đất nước Việt Nam mà họ đã rời bỏ. Tôi hiểu sự phẫn nộ của những người xuống đường biểu tình trong vụ Trần Văn Trường tháng 2 vừa rồi tại Bolsa. Sự tức giận của họ có thể tóm tắt như thế này : ''Ta đã bỏ cho nó cả nước Việt Nam, ta đã mất tất cả, mà nó cũng không để ta yên''. Nếu không thì không thể giải thích được tại sao các cuộc mít-tinh biểu tình vì tự do, dân chủ và nhân quyền đã chỉ thưa thớt vài trăm người trong khi một tên khùng lại có thể làm cả chục ngàn người xuống đường.

Các bạn tôi ở Mỹ cố gắng giải thích rằng Trần Văn Trường chỉ là ngòi nổ, người Việt Nam ở Cali đã xuống đường vì một cái gì đó sâu sắc hơn. Nhưng họ không giải thích được rõ rệt cái sâu sắc hơn đó là cái gì. Lý do sâu xa đó có lẽ một cựu sĩ quan ở Paris đã diễn tả đúng. Anh nói ''nếu tôi ở Cali, tôi cũng đi biểu tình vì vụ này nó nhắc lại cho tôi một quá khứ mà tôi không muốn nhớ lại nữa''. Người ta phẫn nộ vì chính mình đã phải treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh trong một thời gian dài ; trong lòng nguyền rủa mà bề ngoài vẫn phải ra vẻ tự nguyện. Đó đã là một cuộc cưỡng hiếp hàng ngày.

Các bạn bên Mỹ báo tin : các cuộc biểu tình bây giờ đã thay đổi định hướng, đã vượt lên khỏi cờ và ảnh để trở thành những cuộc biểu tình thắp nến vì dân chủ và nhân quyền, với sự nhập cuộc của tuổi trẻ. Tôi phân vân. Có thể đẹp như vậy được sao ? Nhưng sau đó thì cuộc ''đấu tranh'' cũng mất dần khí thế. Động cơ của nó chỉ là sự tức tối, khi gạt bỏ sự tức tối nó cũng mất sức mạnh. Thực chất đó vẫn chỉ là những cuộc biểu tình chống treo cờ cộng sản và ảnh Hồ Chí Minh ở một khu được hoang tưởng hóa thành phần đất bất khả xâm phạm của những người nghĩ rằng mình đã mất tất cả. Khu đất đó cho tới nay có vai trò là để giúp người ta khỏi phải bận tâm với đất nước Việt Nam đã bỏ lại đằng sau như một kỷ niệm đen tối.

Đối với những người còn lại trong nước, đất nước lại càng nhức nhối hơn. Nó là một sự bất lực hàng ngày, một sự khiêu khích và thách đố thường trực, trong khi không nhìn thấy một hy vọng nào. Lại càng phải cố gắng để quên đi bằng cách tập trung mọi ưu tư vào việc mưu sinh vốn đã khó khăn, để yên phận tù đày. Như câu thơ đầu bài của Thanh Tâm Tuyền, người Việt Nam rũ bỏ ký ức và ra đi. Đi ra nước ngoài, nhưng cũng có thể ''đi'' ngay trên đất nước. Vẫn ở đấy mà vắng mặt.

Ngày 30-4-1975 không phải chỉ là một tủi hận cho người miền Nam. Đối với người miền Bắc, đặc biệt là đối với những người đã đóng góp cho guồng máy cộng sản, sự tủi hận có lẽ còn lớn hơn. Họ không chịu đựng từ 1975, mà từ hai mươi năm về trước. Họ đã phải im lặng trong đợt cải cách ruộng đất, đã phải chà đạp lên chính lương tâm mình để đánh hôi nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, nhóm Xét Lại Chống Đảng. Họ không những chỉ là những nạn nhân chịu đau mà không dám than khóc, họ còn bị bắt buộc phải làm đồng lõa cho cái tồi bại. Khi một đứa con bị bắt buộc phải chỉ vào mặt mẹ mà quát ''Con này, mày có biết tao là ai không ?'' thì không phải chỉ có đứa con và người mẹ là khốn khổ, không phải chỉ có chế độ là đểu cáng, mà cả dân tộc cũng bị làm nhục. Và nhục nhã nhất là chính những người phải tiếp tay cho guồng máy ghê tởm đó. Nhân cách và sự tự trọng không thể sống sót, người ta sau đó không còn cả lòng tự hào để nghĩ đến chống lại nữa. Những tiếng gào thét ''chống Mỹ cứu nước'', ''giải phóng miền Nam'' chỉ có thể là thành thực với một số nhỏ, đối với đa số nó chỉ là sự phục tùng trước bạo lực, đối với những người có ý thức nó chỉ là cuộc chạy trốn chính lương tâm mình. Đối với đa số người miền Bắc, đặc biệt là đối với trí thức, ngày 30-4-1975 đã là một hy vọng lớn. Biết đâu sau khi nhu cầu chiến tranh không còn nữa, đất nước đã thống nhất, đảng lại không thay đổi, lại không có tự do hạnh phúc thực sự, hòa giải dân tộc thực sự, đất nước lại chẳng khởi hành vào một kỷ nguyên mới ? Thất vọng lại càng lớn, sự tủi nhục lại càng lớn, vì mình không phải chỉ là nạn nhân mà còn là đồng lõa của sự gian ác, một sự đồng lõa cực kỳ vô duyên vì nó chẳng hề đem lại một lợi ích cá nhân nào. Kết quả của chiến thắng 30-4-1975 đối với đại đa số đảng viên kỳ cựu chỉ là thiếu tá vá xe, đại tá bán chè.

Rồi hơn hai mươi năm xã hội chủ nghĩa. Hai mươi năm nội chiến từng ngày nhường chỗ cho hai mươi bốn năm cưỡng hiếp từng ngày. Mọi người đều mất và mất hết, ê chề như nhau. Sự thất vọng và chán chường, không phải của riêng miền Nam và những người chống cộng mà của mọi người trên cả nước, đã quá to lớn và dai dẳng. Nó đã biến thành sự chán chường đối với chính đất nước. Đại đa số người Việt không còn muốn nghĩ tới đất nước nữa.

Tại sao ?

Tại sao người ta có thể có những liều lĩnh ghê gớm như bán nhà lấy tiền đem vợ con vượt biên trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho công an, hải tặc và sóng gió mà lại không dám đứng lên tranh đấu đổi đời ?

Tại sao các chế độ độc tài trên thế giới, kể cả những chế độ độc tài đã khá thành công về mặt kinh tế và dân sinh, theo nhau sụp đổ trong khi chế độ cộng sản Việt Nam vẫn không gặp chống đối nào đáng kể, dù nó đã thất bại trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện ?

Có phải tại chế độ quá mạnh đến nỗi người ta không thể tưởng tượng có thể chống đối lại nó hay không ? Chắc chắn là không. Ai cũng biết nó phân hóa, tham nhũng, mất phẩm chất, chao đảo, mâu thuẫn nội bộ. Chính ban lãnh đạo đảng cộng sản cũng không chối cãi. Có phải nó quá hung bạo đến nỗi làm người ta khiếp sợ không ? Cũng không nốt. Trong ba năm qua, kể từ 1996, chế độ cộng sản đã chỉ bắt giam một trí thức đối lập là Nguyễn Thanh Giang và đã chỉ quản chế ba người là Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc và Tiêu Dao Bảo Cự. Họ cũng đã chỉ khai trừ một mình Trần Độ và cắt điện thoại của khoảng mười người. Theo tiêu chuẩn quốc tế hiện nay, chế độ cộng sản Việt Nam không nằm trong danh sách những chế độ vi phạm nhân quyền hung bạo nhất.

Vấn đề là người Việt Nam không tranh đấu chứ không phải là không thể tranh đấu.

Và tại sao lại không tranh đấu ? Đó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Đó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mỏi, đã mất ý chí và lòng tự hào.

Đảng cộng sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia, hay miền Nam. H_ọ đã đánh gục được cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy.

Hai nhận định giải thoát

Dân tộc nào cũng trải qua những giai đoạn tan nát mà chỉ có một trấn tĩnh tinh thần mới cho phép nhìn ra lối thoát. Chúng ta cần trước hết là một sự hiểu biết về chính mình. Ít nhất chúng ta cần hai suy tư.

Suy tư thứ nhất là dân tộc ta không hèn mà chỉ là một dân tộc bị đả thương quá nặng. Chúng ta tự giam hãm trong mặc cảm hèn nhát và bất lực, đến nỗi mất lòng tin và ý chí, vì chúng ta không nhìn rõ gánh nặng lịch sử đè lên mình.

Từ đầu thế kỷ 16 chúng ta đã tiếp xúc với phương Tây, sự tiếp xúc đó là một khúc quanh đặc biệt quan trọng. Người phương Tây đem đến cùng với hàng hóa và kỹ thuật cả một văn hóa mới. Đặc biệt các giáo sĩ đem đến một nhân sinh quan và một vũ trụ quan mới. Cuộc va chạm này đã tác động rất mạnh lên xã hội Việt Nam. Khổng Giáo, nền tảng của chế độ quân chủ tuyệt đối, không còn giữ được vai trò độc tôn nữa, nó đã bị lung lay. Chế độ quân chủ chao đảo trong nền tảng, mất dần sự chính đáng, suy yếu đi, kéo theo loạn lạc, đói kém. Xã hội Việt Nam tan rã và sụp đổ. Trong khoảng trống toàn diện đó, một lực lượng bạo loạn - anh em Tây Sơn - đã nắm được chính quyền bằng bạo lực và cai trị bằng bạo lực, để rồi cũng bị tiêu diệt bằng bạo lực. Nhà Nguyễn làm chủ đất nước, không ý thức được sự thay đổi văn hóa xã hội đã và đang diễn ra trước mắt họ, đã thi hành chính sách mù quáng bài phương Tây và cấm đạo, làm chia rẽ trầm trọng hơn nữa một dân tộc vốn đã hoang mang và phân hóa cùng độ. Hậu quả là chúng ta đã mất nước. Riêng sự kiện một số rất nhỏ người Pháp đã có thể dùng chính người Việt Nam để thống trị Việt Nam đủ chứng tỏ dân tộc Việt Nam đã rã hàng đến mức nào rồi. Tủi nhục nhất là suốt trong thế chiến II, một nắm nhỏ người Pháp đã thua trận và đã mất nước vẫn tiếp tục thống trị được người Việt một cách hung bạo. Họ đã chỉ bị Nhật, chứ không phải người Việt Nam, đánh đổ. Đến khi Nhật thua trận và đầu hàng thì chính quyền Việt Nam hoàn toàn bỏ ngỏ và một lực lượng hung bạo mới, đảng cộng sản, nắm được chính quyền với vài khẩu súng. Sau đó là ba mươi năm nội chiến giữa một tập đoàn cộng sản theo đuổi một triết lý chính trị tệ hại và các chính quyền quốc gia hoàn toàn không có một ý thức chính trị nào cả. Chiến tranh đã tàn phá sức sống còn lại của ta. Sau đó là một bạo quyền vận dụng mọi sáng kiến và thủ đoạn để đập tan mọi ý chí cá nhân và mọi giềng mối trong xã hội để có thể duy trì ách thống trị trên một dân tộc bất lực vì phân hóa. Không một dân tộc nào có thể chịu đựng những đập phá và chà đạp kéo dài như thế mà không bị thương tổn nặng.

Chúng ta không hèn nhát và cũng không có lý do để hổ thẹn, chúng ta đã chỉ là nạn nhân của những thảm kịch tích lũy trong gần bốn thế kỷ. Nếu chúng ta vẫn còn giữ được một chút ý chí đấu tranh và một chút ý thức dân tộc như hiện nay thì đó quả đã là một phép mầu. Một dân tộc bình thường chắc chắn đã tiêu vong lâu rồi.

Kỷ niệm ngày 30-4-1975 cũng là dịp để giải tỏa một tâm sự nặng nề cho người thuộc miền Nam và phe quốc gia cũ. Họ đã thất bại chủ yếu vì đã sáng suốt hơn đối thủ. Họ đã nhận ra sự vô lý của cuộc chiến và đã dừng tay, chẳng thà chấp nhận thất bại còn hơn tiếp tục tàn sát lẫn nhau giữa anh em ruột thịt. Đó là một thái độ yêu nước. Thay vì cố gắng phủ nhận thất bại, đề cao sự oai hùng của quân đội miền Nam, chúng ta nên nhìn ra sự cao cả của quyết định khước từ cuộc chiến của thanh niên miền Nam. Đó là một sự cao cả có thực, mà chắc chắn các công trình nghiên cứu mai sau sẽ phải nhìn nhận. Có lẽ trong bốn thế kỷ qua đó là phản ứng thông minh nhất của dân tộc ta.

Thay vì hổ thẹn, chúng ta hãy suy nghĩ về nguyên nhân của thảm kịch mà chúng ta đã và đang chịu đựng. Đó là vì trong những giai đoạn chuyển hóa lớn dân tộc nào cũng cần được những nhà tư tưởng hướng dẫn, để biết mình nên nghĩ gì, đi hướng nào và làm gì. Điều bất hạnh cho chúng ta là trong suốt bốn thế kỷ đó chúng ta đã không có một nhà tư tưởng nào, chúng ta đã chỉ có những văn quan, võ tướng, anh hùng, liệt sĩ. Do đó chúng ta đã không có đồng thuận, đã hoang mang, bối rối, cãi cọ, xung đột và rã hàng, để rồi bị các tập đoàn hung bạo kế tiếp nhau chà đạp, dẫn đi từ thảm kịch này đến thảm kịch khác. Chúng ta đã trả giá đắt cho sự thiếu vắng một tư tưởng chính trị. Đó chính là bài học đáng ghi nhận nhất.

Chúng ta có thể tìm kiếm một đồng thuận chính trị bằng cách học hỏi, suy nghĩ. Nhưng cũng có thể chỉ giản dị bằng thái độ, nghĩa là lắng nghe mọi ý kiến, thảo luận thành thực và tương kính với nhau. Chúng ta sẽ tìm ra được một đồng thuận dân tộc mới, sẽ kết hợp được và sẽ làm lại được đất nước.

Suy tư thứ hai là, dù muốn hay không, chúng ta bắt buộc phải tìm một giải pháp chung, chứ không thể chỉ tìm giải pháp cá nhân cho mỗi người. Sở dĩ chúng ta đã thất bại và tủi nhục là vì mọi người Việt Nam đã chỉ cố gắng tìm một giải pháp cá nhân cho mình. Vượt biên là một giải pháp cá nhân. Hối lộ là một giải pháp cá nhân. Chịu đựng và nhẫn nhục là một giải pháp cá nhân. Căm thù và nguyền rủa là giải pháp cá nhân. Tìm hãnh diện trong sự khá giả của gia đình và thành công của con cái là giải pháp cá nhân. Viết văn, làm thơ, in sách có thể cũng chỉ là giải pháp cá nhân.

Không phải giải pháp cá nhân nào cũng đáng trách, trái lại có nhiều giải pháp cá nhân rất chính đáng, cần thiết và đáng khuyến khích nhưng không thể chỉ có giải pháp cá nhân. Quay lưng lại với đất nước là một sai lầm tai hại ngay cả cho chính mình. Người trong nước không thể có giải pháp tự cứu nào ngoài một giải pháp chung cho đất nước, nhưng người ngoài nước cũng cần một nước Việt Nam dân chủ và giàu mạnh để có một chỗ dựa,để được kính trọng và để thành công. Ý thức được rằng phải có một giải pháp chung cho dân tộc là chúng ta đã đi được quá nửa đoạn đường ra khỏi bế tắc và tủi nhục. Năm trăm người trên một con thuyền vượt biên đã bị hai mươi tên hải tặc uy hiếp vì họ chỉ là năm trăm cá nhân. Tám mươi triệu người để cho một đảng cộng sản phân hóa và chao đảo khống chế cũng vì chỉ là tám mươi triệu người cô đơn.

Ngày 30-4-1975 đã có thể là một ngày vui lớn của dân tộc, một ngày khởi hành vào một kỷ nguyên của tình anh em tìm lại, của cố gắng chung và của thành công chung. Thực tế nó đã chỉ là một thương tích nặng, và rất nặng, trên một cơ thể vốn đã bầm tím những vết đòn chí tử. Từ đó bệnh nhân không những không được săn sóc và chữa trị mà còn tiếp tục bị đày đọa và đả thương thêm. Không ai đo lường hết được mức độ trầm trọng của vết thương 30-4 và những tàn phá trên thể xác và tâm hồn Việt Nam.

Nhưng dầu sao cũng đã đến lúc phải đứng dậy.

Một thế kỷ và một thiên niên kỷ sắp qua. Thế kỷ 20 bắt đầu trong nô lệ và chấm dứt dưới ách độc tài, nó đã là thế kỷ của nhục nhằn, đổ vỡ, máu và nước mắt. Thế kỷ 21 phải khác, nếu không Việt Nam sẽ không còn. Mà Việt Nam vẫn phải còn, bởi vì không thể chỉ có những giải pháp cá nhân cho một khối tám mươi triệu người cùng một ngôn ngữ, cùng một quá khứ và cùng một thảm kịch.

Mở đầu thiên niên kỷ thứ hai, các vua nhà Lý đã chấm dứt một chính quyền hung bạo, mở ra kỷ nguyên tự chủ lâu dài. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta cũng phải chấm dứt vĩnh viễn chế độ độc tài và mở ra kỷ nguyên của một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên. Đó là điều kiện để Việt Nam có thể tồn tại.

Tin và tìm một giải thoát chung trong tâm lý rã hàng hiện nay là điều rất khó, nhưng không phải là không thể làm được. Hai ngàn năm lịch sử sống chung, giữ nước và dựng nước chung vẫn còn để lại một vốn liếng đáng kể. Tôi tin rằng ở thời điểm này, khoảng một ngàn người có ý thức, đồng thuận, quyết tâm và chấp nhận kết hợp trong một tổ chức đủ để tạo ra một chuyển biến tâm lý, làm nòng cốt cho một phong trào dân chủ rộng lớn, đem lại lòng tin và biến những tức tối và tủi hờn tích lũy thành sức mạnh đổi đời.

Nguyễn Gia Kiểng
(Thông Luận số 126, tháng 5-1999)


Martin Luther King, Jr.: Tôi có một ước mơ!

Tôi có một ước mơ sẽ có một ngày đất nước này vươn lên và sống với ý nghĩa thật của niềm xác tín: “Chúng tôi tin rằng chân lý này là định đề, ấy là tất cả mọi người khi được sinh ra đều là bình đẳng”.

Bài diễn văn “Tôi Có Một Ước Mơ” có lẽ là bài diễn văn hay nhất, hùng biện nhất của Mục sư Martin Luther King, Jr. Không những thế, bài diễn văn này vào năm 1999 còn được 137 học giả về nghệ thuật hùng biện xếp hạng nhất  trong 100 bài diễn văn hay nhất của Mỹ trong thế kỷ 20.Trong cuộc biểu tình lịch sử đòi hỏi dân quyền và sự bình đẳng của người da đen tại Mỹ, trên bậc thềm của Đài Tưởng niệm Tổng thống Lincoln, King đã diễn đạt ước mơ của mình trước một cử tọa gần 250 ngàn người vào ngày 28 tháng Tám năm 1963. Cuộc biểu tình vĩ đại này đã diễn ra trong trật tự và hòa bình và không có bất kỳ một sự xô xát nào giữa lực lượng cảnh sát và những người biểu tình. Thành phần tham dự biểu tình không phải chỉ có những người da đen mà đã có gần 63 ngàn người da trắng cùng tham dự trong cuộc biểu tình quy tụ gần 1/4 triệu người.
 
Ngày sinh của MLK, 15 tháng Giêng, đã được Hoa Kỳ chính thức chọn làm ngày lễ của toàn quốc khi tổng thống Reagan ký đạo luật ban hành vào năm 1983. Đạo luật này chỉ được Quốc hội Mỹ thông qua sau khi có sự vận động và thỉnh nguyện thư gồm có chữ ký của sáu triệu cử tri.

Tôi rất sung sướng có mặt cùng anh em hôm nay trong một ngày lịch sử, một ngày đánh dấu cuộc biểu tình đòi tự do vĩ đại nhất trong lịch sử của đất nước chúng ta.
 
Một trăm năm trước đây,[1] một vĩ nhân Hoa kỳ, mà chúng ta đang đứng dưới bóng biểu tượng của người, đã ký Bản Tuyên Cáo Giải phóng Nô lệ. Bản tuyên cáo vĩ đại này đã trở thành ngọn hải đăng hy vọng cho hàng triệu người nô lệ Da đen, những người đã bị héo khô mòn mỏi dưới ngọn lửa của bất công. Bản tuyên cáo đến như ánh bình minh rạng rỡ chấm dứt cho họ đêm đen của tù ngục.
 
Nhưng một trăm năm sau, người Da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, người Da đen vẫn còn đang bị những cái cùm của sự phân chủng và xiềng xích của sự kỳ thị làm cho tàn tật. Một trăm năm sau, người Da đen vẫn còn đang phải sống trên một hòn đảo nghèo đói cô đơn giữa một đại dương bát ngát của vật chất phồn vinh. Một trăm năm sau người Da đen vẫn còn phải chờ đợi mỏi mòn trong những góc khuất của xã hội Mỹ và thấy đang bị lưu đầy ngay trên chính quê hương mình. Và như vậy, chúng ta đã đến đây hôm nay để phô bày tình trạng đáng xấu hổ này trước công luận.
 
Có thể nói ngày hôm nay chúng ta đến thủ đô là để lãnh một tấm chi phiếu, để đòi nợ. Khi những kiến trúc sư của nền cộng hòa của chúng ta viết những dòng chữ uy nghi trong bản Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, họ đã ký một giấy nợ với tất cả những con dân của nước Mỹ. Giấy nợ này hứa hẹn rằng tất cả mọi người dân Mỹ, đúng vậy, tất cả, da đen cũng như da trắng, sẽ được bảo đảm những quyền “bất khả xâm phạm;” đó là “Quyền Sống, Quyền Hưởng Tự Do, và Quyền Mưu cầu Hạnh phúc.” Thế nhưng, ngày nay, nước Mỹ đã bội ước trên món nợ này, ít ra là đối với những công dân gốc da màu. Thay vì tôn trọng bổn phận thiêng liêng này, nước Mỹ đã ký cho những người da đen một tấm chi phiếu vô giá trị, một tấm chi phiếu bị hoàn trả vì “không đủ tiền bảo chứng.”
 
Nhưng chúng ta không tin rằng ngân hàng của công lý đã bị khánh tận. Chúng ta không tin rằng cái kho cơ hội vĩ đại của đất nước này lại không có đủ tiền bảo chứng. Và vì thế, chúng ta đã đến đây để lãnh tấm chi phiếu này; tấm chi phiếu đem lại, theo đòi hỏi của chúng ta, sự giàu có của tự do và an ninh của công lý.
 
Chúng ta cũng đến nơi thiêng liêng này để nhắc cho nước Mỹ biết về tình trạng khẩn cấp như lửa cháy của Lúc Này. Lúc Này không phải là lúc để tham dự vào sự xa xỉ của những phiên họp nhằm “giảm nhiệt” hay uống những viên thuốc an thần của chính sách tiệm tiến. Bây giờ là lúc để biến thành hiện thực những hứa hẹn của dân chủ. Bây giờ là lúc phải vượt khỏi bóng tối và khổ đau của thung lũng phân chủng để vươn tới con đường trải đầy ánh sáng của công bằng chủng tộc. Bây giờ là lúc phải nâng đất nước chúng ta lên khỏi vũng lầy của sự bất công chủng tộc và đặt lên trên nền đá tảng của tình huynh đệ. Bây giờ là lúc biến công lý trở thành hiện thực cho mọi con dân của Thượng Đế.
 
Nếu không quan tâm tới tính chất khẩn cấp của thời điểm này, đất nước của chúng ta sẽ phạm một lỗi lầm chí tử. Mùa hè oi ả của sự bất mãn chính đáng của người Da Đen sẽ không tự trôi qua cho đến khi mùa thu đầy sinh lực của tự do và bình đẳng đến. Năm 1963 không phải là cứu cánh, mà chỉ là điểm khởi đầu. Và những kẻ nào hy vọng rằng người Da Đen sẽ hài lòng sau khi để cho họ “xả hơi bất mãn” thì họ sẽ phải đối diện với một sự thật phũ phàng, nếu đất nước này vẫn tiếp tục hành xử như cũ. Sẽ không có sự yên tĩnh và thanh bình trên nước Mỹ cho tới khi người Da Đen có được quyền công dân chính đáng của mình. Cơn lốc của cách mạng sẽ tiếp tục lay tận gốc đất nước của chúng ta cho đến khi ánh sáng xán lạn của công lý hiện ra.
 
Nhưng có điều tôi cũng muốn trình bày với anh em của tôi, những người đang đứng trước ngưỡng cửa ấm áp dẫn vào cung điện của thần công lý: Trong tiến trình đòi hỏi chỗ đứng đúng đắn của mình, chúng ta không thể để bị buộc tội vì những hành vi sai trái. Hãy đừng dùng chén của thù hận và cay đắng để thỏa mãn cơn khát của mình. Chúng ta phải mãi mãi tiến hành cuộc đấu tranh của mình ở trên tầng cao của nhân phẩm và kỷ luật. Chúng ta không được phép để cho những sự phản đối đầy sáng tạo của ta thoái hóa thành sự bạo động bằng vũ lực. Ta phải luôn luôn nhớ là phải vượt lên đến trình độ vương giả là sử dụng sức mạnh của tinh thần để đối phó với bạo lực của thể chất.
 
Phe chủ chiến vừa mới nổi lên đây đã bao trùm cả cộng đồng người Da Đen, nhưng ta đừng để chủ trương bạo lực này khiến ta mất niềm tin vào tất cả những người da trắng, vì rất nhiều những người anh em da trắng của chúng ta, mà sự hiện diện của họ với chúng ta ngày hôm nay đã chứng minh là họ nhận thức được định mệnh của họ và của chúng ta dính liền với nhau. Và họ đã tới để xác nhận một sự thực là sự tự do của họ và tự do của chúng ta là một mối dây không thể gỡ riêng ra được. 
 
Chúng ta không thể bước đi đơn độc.
 
Khi bước đi, ta phải tự hứa rằng sẽ luôn luôn bước về phía trước.
 
Chúng ta không thể quay đầu trở lại.
 
Nhiều người đã hỏi những người đấu tranh cho dân quyền câu này: “Chừng nào mấy người mới thỏa mãn hả?” Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào người Da Đen còn là nạn nhân của những sự bạo hành khủng khiếp không thể tưởng tượng được của cảnh sát. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào mà thể xác của chúng tôi, bị mỏi mệt vì đi đường xa, mà không thể vào nghỉ tại quán trọ trên đường đi hay tại khách sạn trong thành phố. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi sự di chuyển cơ bản của người Da Đen là từ một khu ổ chuột nhỏ sang một khu ổ chuột lớn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi con em của chúng tôi bị tước đoạt ý thức về cái-tôi của chúng và bị cướp đi nhân phẩm bởi những tấm bảng đề: “Chỉ dành cho người Da Trắng.” Chúng tôi sẽ không bao giờ thỏa mãn khi nào còn người Da Đen ở Mississippi không được đi bầu, và còn người Da Đen ở New York nghĩ là y chẳng có gì để mà lựa chọn cả. Không. Không. Chúng tôi không thỏa mãn, và sẽ không thỏa mãn cho đến khi “sự chánh trực chảy xuống như nước, và công bình như sông lớn cuồn cuộn.”[2]
 
Tôi biết có những anh em đến đây sau bao nhiêu thử thách và hoạn nạn. Một số vừa mới ra khỏi những phòng giam chật hẹp. Và một số đến từ những vùng mà sự tìm kiếm tự do đã khiến cho thân thể anh em bị bầm dập bởi những cơn bão của bách hại và lao đao vì những cơn gió của cảnh sát tàn bạo. Các anh em đã là cựu chiến binh của những khổ đau đầy sáng tạo. Hãy tiếp tục công cuộc đấu tranh với đức tin là những sự đau khổ dưng không xảy đến cho mình, những đau khổ đó chính là ơn cứu chuộc. Hãy về lại Mississippi, về lại Alabama, về lại South Carolina, về lại Georgia, về lại Louisiana, về lại những khu ổ chuột và khu biệt cư của người Da Đen tại những thành phố miền bắc, và hãy tin rằng bằng cách này hay bằng cách khác, chúng ta có khả năng để thay đổi và tình trạng này sẽ được thay đổi.
 
Tôi xin nói với anh em ngày hôm nay, đừng tự đắm mình trong thung lũng của tuyệt vọng.
 
Và ngay cả khi chúng ta đang đối diện với những khó khăn ngày hôm nay và của ngày mai, tôi vẫn có một ước mơ. Một ước mơ bắt nguồn sâu xa từ trong ước mơ của nước Mỹ.
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày đất nước này sẽ trỗi dậy và sống đúng với ý nghĩa của tín điều đã được tuyên xưng: “Chúng tôi công nhận những điều này là chân lý hiển nhiên, đó là mọi người sinh ra đều bình đẳng.”
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con cái của những người cựu nô lệ và của cựu chủ nhân sẽ có thể ngồi xuống với nhau bên chiếc bàn của tình huynh đệ.
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày, ngay cả tiểu bang Mississippi, một tiểu bang mà sự bất công đang bốc hơi nồng nực, đang ngột ngạt dưới cái nóng của đàn áp, sẽ được hóa thân thành một ốc đảo của tự do và công lý.
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày bốn đứa con nhỏ của tôi được sống trong một quốc gia mà chúng không bị đánh giá bởi màu da bên ngoài mà bằng tư cách ở bên trong.
 
Tôi có một ước mơ ngày hôm nay!
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có một ngày tại Alabama—với những kẻ kỳ thị chủng tộc ác ôn, với viên thống đốc mà miệng lưỡi còn dính những chữ “trung gian” và “vô hiệu hóa”—một ngày mà trẻ con da đen và da trắng có thể nắm tay nhau thân ái trong tình huynh đệ.
 
Tôi có một ước mơ ngày hôm nay!
 
Tôi có một ước mơ là sẽ có ngày mọi thung lũng được nâng cao và mọi núi đồi sẽ bị hạ thấp, những chốn gồ ghề sẽ được lấp bằng và mọi nẻo cong sẽ được uốn thẳng; “và sự vinh quang của Thượng Đế sẽ được hiển lộ cho tất cả nhân loại.”[3]
 
Đó là hy vọng của chúng ta và đó là đức tin tôi sẽ mang theo khi về lại miền Nam.
 
Với đức tin này, chúng ta sẽ có thể đẽo ra từ ngọn núi tuyệt vọng một viên đá của hy vọng. Với đức tin này, chúng ta sẽ có thể biến cải những tiếng nói bất hòa và chát chúa thành một bản hợp xướng của tình Huynh đệ. Với đức tin này, chúng ta có thể cùng nhau làm việc, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau tranh đấu, cùng nhau chịu tù đày, cùng nhau chiến đấu cho tự do, và biết rằng, sẽ có một ngày, chúng ta được tự do.
 
Và ngày ấy sẽ đến—đó sẽ là ngày mà tất cả những người con của Thượng Đế sẽ có thể cất cao lời hát với ý nghĩa mới:
 
Tôi hát ngợi ca quê hương này của tôi và của anh, đất ngọt của tự do.
Vùng đất tổ tiên đã hy sinh, và đất của người Hành hương quang vinh,
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên  từ khắp núi đồi quê hương.
 
Và nếu Hoa Kỳ muốn trở thành một quốc gia vĩ đại, thì điều này phải thành sự thực.
Và hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những ngọn đồi kỳ vĩ của New Hampshire.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những rặng núi đồ sộ của New York.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ rặng Allegheny của Pennsylvania.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ đỉnh cao tuyết phủ của dãy Trường Sơn Colorado.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ những sườn đồi óng ả của xứ California.
Nhưng không phải chỉ có thế:
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ ngọn Thạch Sơn của Georgia.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ ngọn Vọng Sơn của Tennessee.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ mọi ngọn đồi và đụn cát xứ Mississippi.
Hãy để tiếng chuông tự do vang lên từ khắp núi đồi quê hương.
 
Và khi tiếng chuông tự do vang lên, khi chúng ta để cho tiếng chuông tự do vang lên từ mọi làng thôn, từ mọi tiểu bang và phố thị, ta sẽ có thể tiến đến cái ngày ấy mau hơn, cái ngày mà mọi con dân của Thượng Đế, da trắng và da đen, người Do Thái và dân Ngoại giáo, tín đồ Tin Lành và Công giáo, sẽ cùng nắm tay nhau và hát lên những câu hát của bản thánh ca cổ của người Da Đen:
 
Cuối cùng đã có tự do! Cuối cùng đã có tự do!
Tạ ơn Chúa Toàn năng, cuối cùng chúng ta đã có tự do![4]

_____________________________________

Chú thích:

[1] Đây là lối chơi chữ “Five score years ago,” mà King bắt chước tổng thống Lincoln trong diễn văn Gettysburg: “Four score and seven years ago.” Một score là 20 đơn vị, không có đơn vị tương đương bên Việt ngữ, nên phải dịch thẳng là “một trăm năm trước đây” và không giữ được văn phong của King (ghi chú của người dịch).
 
[2] Kinh thánh Cựu Ước: sách Amos, đoạn 5, câu 24.
 
[3] Ê-Sai, đoạn 40, câu 5.
 
[4] Free At Last (Cuối cùng ta đã có tự do) là một bản thánh ca cổ của người Da Đen được John Wesley Work đệ II sưu tập trong
tuyển tập dân ca Da Đen.


Phương pháp phân tích, mổ xẻ và lý luận vấn đề

Hầu như bất cứ quảng cáo tìm chuyên gia hay quản lý nào ở Mỹ cũng ghi điều kiện “good analytical skill.” Chúng ta có thể hiểu nôm na nó là kỹ năng phân tích vấn đề hiệu quả.

Vậy, kỹ năng phân tích là gì? Và tại sao nó quan trọng trong các quảng cáo tìm chuyên gia ở Mỹ?

Phân tích có nghĩa là chẻ vấn đề ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu từng chi tiết, từng khía cạnh nhỏ, hiểu được vấn đề từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, cũng như người thợ máy rã cái máy khổng lồ thành trăm mảnh vụn để tìm và chữa bệnh bên trong lòng máy. Người ta thường dùng chỉ một từ phân tích, nhưng trong thực tế, phân tích còn bao hàm ý tổng hợp. Tổng hợp là ngược lại của phân tích, là ráp trăm mảnh phụ tùng lặt vặt lại thành chiếc máy. Nếu rã máy mà không lắp lại được, thì đó là phá máy chứ không phải là phân tích, phải không? Tuy nhiên, người ta ít chú tâm và ít nói đến tổng hợp, vì người giỏi phân tích tự nhiên là giỏi tổng hợp, cũng như người rã máy thường xuyên thì đương nhiên là sẽ biết ráp trở lại.

Trên phương diện lý luận, kỹ năng phân tích có thể gom vào một chữ–“hỏi.” Người phân tích là người biết đặt câu hỏi, như chuyên viên điều tra. Nghe bất cứ điều gì cũng có thể đặt câu hỏi. Nói tóm tắt là “Hỏi cho ra lẽ.” Trong các chương trình giảng dạy về điều tra cho nhân viên an ninh, ký giả, luật sư, v.v… người ta dạy một công thức hỏi giản dị–5W1Hwhat, where, when, who, why vàhow. Chuyện gì xảy ra, ở đâu, lúc nào, xảy ra với ai, tại sao xảy ra, xảy ra cách nào.

Dẫn chuyện:

“Trời ơi, ngoài đường Cộng Hòa cháy dữ lắm!”

1. “Vậy hả? Cái gì cháy.” (what)
 
“Xe hơi.”

2. “Chỗ nào” (where)
 
“Gần E-town?”

3. “Đang cháy hả?” (when)
 
“Ừ, đang cháy. Tui mới ở đó về.”

4. “Cháy sao?” (how)
 
“Thấy cháy đầu máy, lan ra giữa xe rồi. Chắc nổ thùng xăng quá.”

5. “Tại sao cháy vậy?” (Why)
 
“Không biết. Chắc hết dầu máy, xe nóng quá. Hay là gì đó.”

6. “Có ai bị thương không?” (who)
 
“Thấy có ông tài xế với một bà đứng đó. Không thấy ai trong xe. Không thấy ai bị thương.”

Trong nghề ký giả, một bản tin vắn tắt cũng phải có tối thiểu là 6 yếu tố này mới được xem như hội đủ tiêu chuẩn. Dĩ nhiên, mỗi câu trả lời trong này lại có thể đẻ ra 6 câu hỏi khác, và mỗi câu trả lời mới lại có thể đẻ ra 6 câu hỏi mới. Chỉ trong một lúc thôi, là 6 câu hỏi đầu tiên có thể đẻ ra hằng trăm câu hỏi mới, và cứ tiếp tục như thế cho đến khi người điều tra thấy không cần phải hỏi thêm nữa. (Vì vậy các luật sư luôn luôn khuyên các thân chủ trong các vụ kiện là “không nói gì với ai hết.” Nói môt câu là trả lời một năm chưa xong).

Trong nghệ thuật lý luận và hùng biện, phương pháp này còn gọi là phương pháp Socrates, vì triết gia Socrates của Hy Lạp thường biện luận bằng cách dựa vào câu nói của đối thủ rồi bắt đầu hỏi ông ta, cho đến khi ông ta phải công nhận là điều ông ta nói không đúng. Ví dụ:

“Đàn ông xấu.”

“Chị nói sao?”

“Tui nói đàn ông xấu.”

“Vậy tui xấu sao?”

“Anh ngoại lệ. Anh là bạn tốt của tui.”

“Vậy ba của chị thì sao?”

“Ba tui ngoại lệ.”

“Ông nội cũng ngoại lệ?”

“Ừ.”

“Vậy chị còn nói đàn ông xấu nữa không?”

“Thôi. Tui nói, đàn ông xấu, ngoại trừ một thiểu số.”

“Thiểu số đó là những ai vậy?”

Và cứ thế mà tiếp tục.

Trong đời sống tri thức, cái nhìn phân tích là cái nhìn đánh dấu hỏi trên mọi giả thuyết, mọi định đề, mọi câu nói, mọi từ ngữ, cho đến khi người hỏi thỏa mãn với mọi câu trả lời. Vì vậy, khả năng phân tích (analytical skill) chính là cốt lõi của tư duy phê phán (cirital thinking) mà ta đã nhắc qua trước đây trong bài “Tư duy tích cực” Tư duy phê phán có nghĩa là không chấp nhận điều gì là đúng cho đến khi ta đã nghiên cứu mọi khía cạnh lớn nhỏ của vấn đề, để kết luận và phê phán cái gì đúng cái gì sai. Và trong tiến tình nghiên cứu đó, kỹ năng phân tích là kỹ năng số một, nếu không phải là kỹ năng duy nhất.

Ta có thể thấy ngay là trong một cuộc biện luận dùng phân tích, người ta có thể đi hoài đến vô tận, không bao giờ ngừng, Một cuộc nói chuyện có thể bắt đầu từ trung tâm thành phố Nha Trang và chỉ một lúc sau đã có thể lang thang trên những đỉnh tuyết trắng trên dãy Alps của Âu châu hay những thảo nguyên hừng hực nóng ở Châu Phi. Vì vậy, kỹ năng phân tích rất hữu ích trong những buổi động não (brainstorming) tìm ánh sáng sáng tạo.

Và dĩ nhiên là trong nhiều cuộc tranh luận ta hay thấy trên Internet, nó có thể làm cho tất cả mọi người, từ người tranh luận cho đến người đọc, lạc sâu trong những cánh rừng rậm hoang vu. Cho nên, trong thực tế ta phải biết khi nào thì ngưng, hay tạm ngưng, phân tích vì những lý do thực tiễn—không thể cứ ngồi đó phân tích hoài, hoặc phân tích quá xa so với chủ đề ban đầu.
Hơn nữa, chúng ta phải biết giới hạn của ngôn ngữ và lý luận. Ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Ta không thể cứ tin vào ngôn ngữ 100% để giải quyết mọi vấn đề.

Dẫn chuyện:

Cái bàn là gì? Một mặt phẳng và bốn cái chân.

Thế cái gường cũng là cái bàn sao? Không, cái bàn để ngồi và ăn uống.

Vậy cái sập gụ các ông đồ ngồi dạy học có phải là cái bàn không? Không, người ta không ngồi trên bàn.

Vậy nhà tôi có ông Phật ngồi trên bàn, nó là cái gì?

Cứ như thế, nếu ta lấy ra bất kỳ một từ nào trong tự điển và bắt đầu phân tích, thì từ đó cũng đều không hoàn toàn chính xác. Vì vậy, ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều hạn chế. Ta phải biết các hạn chế đó.

Kỹ năng phân tích, cũng như, mọi kỹ năng khác, được phát triển nhờ thực tập hằng ngày. Hiện nay, không có cách nào thực tập hay hơn là tranh luận trên các diễn đàn Internet. Cho nên nếu các bạn siêng tranh luận trên Net, trong những diễn đàn có quản lý tốt để các tranh luận được diễn ra lễ độ, thì đó là cách rất hay để phát triển.

Tuy nhiên có hai điều quan trong nhất trong việc phát triển kiến thức, các bạn cần ghi nhớ, đó là sự can đảm và tính thành thật trí thức (intellectual honesty).

1. Can đảm: Nếu ta sợ người ta cười tư tưởng của ta, ta sẽ không dám nói gì, và ta sẽ không bao giờ biết được chỗ yếu và chỗ mạnh của tư tưởng mình. Đó là chưa kể còn khối chuyện khác có thể làm ta sợ, sợ nói thì mất việc, mất tiền, mất sở.

2. Tính thành thật trí thức. Nếu chúng ta sợ chuyện gì đó như sợ ông giám đốc hay tham chuyện gì đó như tham được lên chức tiềm thức của ta sẽ điều khiển ta lúc nào cũng nghĩ hay và nói tốt về ông giám đốc, và không thấy được cả những quyết dịnh rất tồi của ông ta. Điều này ta gọi là “thiếu thành thật trí thức” vì có thể là trong lòng chúng ta rất thành thật, nhưng tri thức của chúng ta đã thiếu thành thật vì bị quyền lợi cá nhân che mờ.

Dĩ nhiên, người tư duy tích cực luôn luôn chú trọng vào cái hay, cái tốt của người, và luôn luôn sống hòa ái. Điều cần nói ở đây là, trong khi chú trọng vào điều tốt, ta vẫn phải đủ sáng suốt để thấy mọi vấn đề, và khi thấy vấn đề nào cần giải quyết thì tìm cách giải quyết một cách tích cực và hòa ái. Người thiếu thành thật trí thức, không thấy được cả vấn đề.

Vấn đề lớn trong giáo dục đại học trên thế giới ngày nay là người ta dạy kỹ năng, nhưng không dạy đức hạnh. Cũng như thầy dạy kiếm thuật nhưng không cần biết học trò sẽ dùng kiếm để cứu người hay giết người. Kỹ năng, như là kỹ năng phân tích, chỉ là khí cụ như kiếm. Dùng kiếm thế nào trong cuộc đời mình là do mình có đủ can dảm và thành thật không.
Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Nguồn: Đọt Chuối Non

Lưu Hiểu Ba: Tôi không có kẻ thù

Bức tranh "manga" vẽ cảnh Lưu nhận giải Nobel trong song sắt nhà lao ở tỉnh Liêu Đông (Trung Quốc)

Lưu Hiểu Ba viết “Lời tuyên bố chót: Tôi không có kẻ thù” này vào ngày 23 tháng 12 năm 2009, hai hôm trước phiên tòa kết án ông 11 năm tù vào ngày Lễ Giáng Sinh 25 tháng 12, 2009. Lời tuyên bố của Lưu Hiểu Ba đã được nữ tài tử kiêm đạo diễn Liv Ullmann đọc tại lễ trao giải thưởng Nobel Hòa Bình tại Oslo ngày 10 tháng 12, 2010.

Tháng sáu năm 1989 là một bước ngoặt quan trọng trong đời tôi. Tôi đã từng là một giáo sư khả kính, một nhà trí thức công cộng, được mời phát biểu ở nhiều nơi, kể cả ở Châu Âu và Hoa Kì. Trước sau như một, tôi luôn luôn tự đòi hỏi mình phải phát biểu trung thực, chịu trách nhiệm về lời nói của mình và giữ đúng phẩm cách – trong cuộc sống cá nhận cũng như trong trước tác. Năm 1989, tôi rời Hoa Kì về nước để tham gia phong trào [sinh viên vì dân chủ, rốt cuộc đã bị đàn áp đẫm máu ngày 4 tháng sáu]. Tôi đã bị bỏ tù vì “ tội tuyên truyền và xúi giục những hoạt động phản cách mạng ”. Thế là tôi mất luôn chức danh giáo sư mà tôi rất gắn bó, mất luôn khả năng công bố và phát biểu công khai ở Trung Quốc. Một giáo sư bị mất chức, một tác giả bị tước quyền phát biểu, một trí thức bị phủ nhận mọi khả năng phát biểu trước công chúng… dù là với tư cách cá nhân hay là để xây dựng một nước Trung Quốc mở cửa ra thế giới và cởi mở với các cuộc cải cách, suốt ba mười năm chỉ vì đã công khai đưa ra những chính kiến khác và đã tham gia một phong trào dân chủ hòa bình, thật là bi ai! 

Hai mươi năm sau, những oan hồn của đêm mồng 4 tháng sáu vẫn chưa được yên nghỉ. Còn tôi, vì chọn con đường chính kiến khác sau sự kiện 4-6, nên ở trại giam Tần Thành ra, năm 1991, tôi đã bị tước quyền phát biểu công cộng trên đất nước của chính mình ; tôi chỉ có thể phát biểu trên các media ngoại quốc, với cái giá phải trả là bị theo dõi trong suốt nhiều năm, rồi bị quản chế (từ tháng năm 1995 đến tháng giêng 1996) sau đó là bị đưa vào trại lao cải (từ tháng mười 1996 đến tháng mười 1999). Hôm nay, tuổi ngoài 50, một lần nữa tôi bị ấn xuống hàng ghế bị cáo bởi một chính quyền bị ám ảnh bởi ý niệm “ kẻ thù ”. Song dù sao chăng nữa, với cái chế độ đã cướp đoạt tự do của tôi, tôi muốn nói với họ rằng tôi vẫn giữ vững niềm tin mà tôi đã biểu thị trong tuyên bố tuyệt thực ngày 2 tháng sáu hai mươi năm về trước : tôi không có kẻ thù và cũng không căm thù. Những nhân viên công an đã theo dõi tôi, bắt giữ và tra hỏi tôi, những kiểm sát viên đã khởi tố tôi, những quan tòa đã kết án tôi đều không phải là kẻ thù của tôi. Tôi không chấp nhận bị theo dõi, bị bắt giam, bị khởi tố, bị kết án, song tôi tôn trọng nghề nghiệp và nhân thân của tất cả những viên chức ấy, trong đó có những quan chức của viện kiểm sát, ngày 3 tháng chạp mới đây, đã tỏ ra trung thực và tôn trọng đối với tôi.

Bởi vì căm thù có thể làm biến chất trí khôn và sự sáng suốt ; hệ tư tưởng địch-ta có thể làm nhiễm độc đầu óc của nhân dân, kích động những sự tranh giành vô độ, hủy hoại sự khoan hòa và lý trí của xã hội, ngăn cản không cho dân tộc vươn tới tự do và dân chủ. Vì thế mà tôi mong muốn vượt qua số phận cá nhân mình để chú tâm trước hết vào sự phát triển của đất nước, vào tiến trình của xã hội, ứng phó với sự thù nghịch của chính quyền bằng tấm lòng đại lượng để hóa giải căm thù trong tình thương.

Người ta thường cho rằng chính nhờ đường lối cải cách và cởi mở mà đất nước ta đã phát triển, xã hội ta đã tiến hóa. Theo tôi, sự cởi mở đã bắt đầu ngay khi từ bỏ chủ trương “đấu tranh giai cấp là thống soái” của thời Mao. Ngay từ lúc đó, đã tập trung nỗ lực vào sự phát triển kinh tế và hài hòa xã hội. Sự từ bỏ đấu tranh giai cấp, trong chừng mực nào đó, đã dẫn tới một sự khoan hòa nhất định, sự chung sống hòa bình giữa những lợi ích và giá trị khác nhau. Kinh tế đã hướng về thị trường, văn hóa trở thành đa dạng hơn, việc duy trì trật tự đã từng bước tuân thủ pháp luật. Có được những điều ấy là nhờ quan niệm “kẻ thù” đã phai mờ đi. Ngay cả trong chính trị là lãnh vực chậm tiến bộ nhất, chính quyền đã tỏ ra khoan hòa hơn đối với sự đa dạng trong xã hội, đã giảm bớt sự trấn áp đối với những tiếng nói bất đồng và thay đổi tên gọi sự kiện 1989, từ “phản loạn” trở thành “rối loạn chính trị”.

Sự suy giảm quan niệm về kẻ thù phải đánh đổ khiến cho chính quyền từng bước chấp nhận tính chất phổ quát của các quyền con người. Năm 1998, chính phủ Trung Quốc đã hứa hẹn với thế giới là họ sẽ phê chuẩn hai công ước quốc tế lớn của Liên Hiệp Quốc về các quyền con người [trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị], đó cũng là một cách tương trưng để công nhận các giá trị ấy. Năm 2004, Quốc hội đã sửa đổi Hiến pháp bằng cách, lần đầu tiên, ghi câu này vào Hiến pháp : “ Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền con người”, tỏ ra rằng các quyền con người đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp Trung Quốc. Đồng thời, chính quyền đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đặt “con người ở trung tâm” đường lối chính trị của mình, phải “tạo ra một xã hội hài hòa”, tất cả những điều này là bước tiến trong quan niệm của Đảng cộng sản về chính quyền.

Bản thân tôi đã cảm nhận những thay đổi ấy từ ngày tôi bị bắt. Tôi vẫn cho rằng tôi vô tội và nói rằng những lời cáo buộc tôi là vi hiến, nhưng trong thời gian một năm qua bị giam cầm, trải qua hai nhà tù và các cuộc thẩm tra của 4 công an, 3 kiểm sát và 2 thẩm phán, phương pháp của họ vẫn tỏ ra kính trọng, không bao giờ họ vượt quá thời hạn hỏi cung và họ không hề ép cung. Thái độ của họ là ôn hòa, chừng mực, thậm chí nhân hậu. Ngày 23 tháng sáu, tôi được chuyển từ nơi quản chế sang Trại giam 1 Bắc Kinh, là nơi năm 1996 tôi đã bị giam giữ, tại đây tôi đã nhận thấy nhà cửa, thiết bị cũng như phương pháp quản lý đã có những cải thiện đáng kể.

Qua kinh nghiệm bản thân, tôi càng tin tưởng rằng những tiến bộ chính trị ở Trung Quốc sẽ không ngừng ở một chỗ. Tôi thực sự lạc quan về sự xuất hiện một nước Trung Quốc tự do trong tương lai, bởi vì không một sức mạnh nào có thể ngăn chận được khát vọng tự do của con người. Trung Quốc cuối cùng sẽ trở thành một Nhà nước pháp quyền, đặt quyền con người lên hàng đầu. Tôi cũng hi vọng rằng những tiến bộ ấy sẽ thể hiện trong việc xử lí hồ sơ của tôi ; tôi mong rằng các hội thẩm viên sẽ tuyên án một cách công chính – một bản án có thể đứng vững trước tòa án của Lịch sử. Nếu tôi phải tìm xem trong hai mươi năm qua, điều gì là trải nghiệm tốt đẹp nhất của tôi, thì đó là tôi đã nhận được mối tình vô tư trong sáng của vợ tôi, Lưu Hạ. Vì vậy mà tôi viết những dòng thư này cho Lưu Hạ :

Hôm nay, em sẽ không được dự phiên tòa xử anh, nhưng anh muốn nói với em, em yêu quý của anh, anh tin chắc rằng tình yêu mà em dành cho anh vẫn không có gì thay đổi. Nhờ đó, em yêu, anh sẽ có đủ bình tĩnh để đối mặt với phiên xử sắp tới, mà không một chút hối tiếc về những chọn lựa của mình, và lạc quan chờ đợi ngày mai. Anh hi vọng rằng một ngày kia, nước ta sẽ trở thành đất nước của tự do ngôn luận, mọi công dân có quyền lên tiếng một cách bình đẳng, mọi giá trị, tư tưởng, tín ngưỡng, chính kiến đều có thể chung sống và thi đua với nhau một cách công bằng. Rằng trên đất nước này, tư tưởng đa số và tư tưởng thiểu số sẽ được bảo hộ như nhau, đặc biệt là những tư tưởng khác với tư tưởng của những người cầm quyền. Rằng mọi quan điểm chính trị đều có thể được trình bày công khai để nhân dân chọn lựa, rằng mọi công dân đều có thể phát biểu mà không phải e sợ, không gặp nguy cơ bị truy bức vì công bố một chính kiến khác. Anh cũng mong rằng anh là người cuối cùng trong cái danh sách dài đặc những nạn nhân vào tù vì trước tác của mình, mong rằng không còn ai sẽ bị kết án vì ý kiến của mình.

Tự do phát biểu là nền tảng của các quyền con người, là cơ sở của mọi tình cảm nhân tính, là mẹ của chân lí. Tiêu diệt tự do phát biểu là chà đạp các quyền con người, là bóp nghẹt mọi tình cảm nhân tính, là bịt miệng chân lí.

Cho dù tôi vô tội mà vẫn bị kết án vì đã làm rạng danh quyền tự do phát biểu được Hiến pháp quy định, vì đã đảm nhiệm tới cùng các nghĩa vụ xã hội của một công dân Trung Quốc, tôi không có điều gì oán thán…

Cảm ơn mọi người !

Lưu Hiểu Ba
(刘晓波 / Liu Xiaobo)

Người giàu có nhất thành Babylon - The richest man in Babylon

“Một cuốn sách xuất hiện vào năm 1920 có giúp ích gì cho những nhà kinh doanh và những vấn đề tài chính của họ ngày nay? “Người giàu có nhất thành Babylon” là một cuốn sách hấp dẫn, giới thiệu về cách tiết kiệm, buôn bán và làm giàu của người dân cổ xưa thành Babylon.

Những phương cách làm giàu này vẫn còn giá trị hữu ích đối với giới kinh doanh, buôn bán ngày nay. Bằng cách lồng ghép vào trong những câu chuyện lý thú, tác giả đã đề cập đến các nội dung cơ bản, sâu sắc và bổ ích về tài chính. Đây là một món quà đầy ý nghĩa cho những ai đã và đang bước vào thế giới kinh doanh, hoặc cho nhiều người đang còn hoang mang, do dự trong cách sử dụng tiền bạc. Ngoài ra, cuốn sách này cũng sẽ là những bài học thú vị, mới lạ cho bất kỳ ai, ngay cả đối với một nhà đầu tư tài chính giàu kinh nghiệm nhất trên thế giới.”

Thời báo LOS ANGELES

Lời mở đầu của tác giả


Sự giàu có của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của tất cả các cá nhân, công dân trong quốc gia đó.

Tập sách này chủ yếu nói về những thành công của từng cá nhân sống trong thành Babylon cổ đại, mà cụ thể là đề cập đến những thành quả họ đạt được. Từ đó giúp mọi người hiểu rõ về vấn đề tài chính và cống hiến các kế sách cho những người ngày đêm trăn trở, suy tư về cách làm giàu. Những bí quyết này không những giúp các bạn đánh giá đúng giá trị của tiền bạc, mà còn hướng dẫn các bạn thực hành theo những nguyên lý tài chính lành mạnh khi làm ra tiền, giữ gìn và kiếm thêm nhiều tiền bạc.

Những trang sách này sẽ đưa chúng ta trở lại vương quốc Babylon cổ đại, cái nôi nuôi dưỡng những nguyên lý cơ bản về tài chính mà giờ đây con người hiện đại đã kế thừa và vận dụng trên toàn thế giới.

Đối với những độc giả không làm trong môi trường kinh doanh, tác giả mong muốn mang lại cho các bạn sự hứng khởi khi nhận thấy số tiền trong tài khoản cá nhân luôn gia tăng, thu được nhiều thành công và giải quyết nhanh chóng những vấn đề khó khăn ở mặt tài chính.

Đối với doanh nhân, những câu chuyện kể về người thương gia giàu có ở Babylon đã trở thành kinh điển và là bài học cho bạn. Chính các bạn - những doanh nhân đã, đang và sẽ thành đạt - mới đánh giá hết giá trị của các bài học trong quyển sách này và áp dụng những nguyên lý sáng giá nhất của nó để đem lại thành công trong các chiến lược kinh doanh của mình.

 GEORGE S.CLASON


Facebook Digg Stumbleupon Favorites More